Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinhkinh dieu phap lien hoa妙法蓮華經卷第一
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ nhất
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ NHẤT
後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯
Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch
(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)
PHẨM “TỰA” THỨ NHẤT
序品第一
Tự phẩm đệ nhất
PHẨM “TỰA” THỨ NHẤT
如是我聞:一時,佛住王舍城耆闍崛山中,與大比丘眾萬二千人俱,皆是阿羅漢,諸漏已盡,無復煩惱,逮得己利,盡諸有結,心得自在。其名曰:阿若憍陳如、摩訶迦葉、優樓頻螺迦葉、伽耶迦葉、那提迦葉、舍利弗、大目揵連、摩訶迦旃延、阿㝹樓馱、劫賓那、憍梵波提、離婆多、畢陵伽婆蹉、薄拘羅、摩訶拘絺羅、難陀、孫陀羅難陀、富樓那彌多羅尼子、須菩提、阿難、羅睺羅,如是眾所知識大阿羅漢等。復有學、無學二千人。摩訶波闍波提比丘尼,與眷屬六千人俱。羅睺羅母耶輸陀羅比丘尼,亦與眷屬俱。
Như thị ngã văn: Nhất thời, Phật trụ Vương-xá thành Kỳ-xà-quật sơn trung, dữ đại tỳ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu, giai thị A-la-hán, chư lậu dĩ tận, vô phục phiền não, đãi đắc kỷ lợi, tận chư hữu kết, tâm đắc tự tại. Kỳ danh viết: A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-ta, Bạc-câu-la, Ma-ha Câu-hy-la, Nan-đà, Tôn-đà-la Nan-đà, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la, như thị chúng sở tri thức đại A-la-hán đẳng. Phục hữu học, vô học nhị thiên nhân. Ma-ha Ba-xà-ba-đề tỳ-kheo ni, dữ quyến thuộc lục thiên nhân câu. La-hầu-la mẫu Da-du-đà-la tỳ-kheo ni, diệc dữ quyến thuộc câu.
Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật (2) ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại Tỳ kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A La Hán, các lậu (3) đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong (4) dứt sự ràng buộc trong các cõi (5) tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Nậu Lâu Đà, Kiếp Tân Na, Kiều Phạm Ba Đề, Ly Bà Đa, Tất Lăng Già Bà Ta Bạc Câu La, Ma Ha Câu Hy La, Nan Đà, Tôn Đà La Nan Đà, Phú Lâu Na, Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, A Nan, La Hầu La v.v... đó là những vị đại A la hán hàng tri thức của chúng. Lại có bậc hữu học và vô học (6) hai ngàn người. Bà Tỳ kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng với quyến thuộc sáu ngàn người câu hội. Mẹ của La Hầu La là bà Tỳ kheo ni Gia Du Đà La cùng với quyến thuộc câu hội.
菩薩摩訶薩八萬人,皆於阿耨多羅三藐三菩提不退轉;皆得陀羅尼;樂說辯才,轉不退轉法輪;供養無量百千諸佛,於諸佛所殖眾德本,常為諸佛之所稱歎;以慈修身,善入佛慧;通達大智,到於彼岸;名稱普聞無量世界,能度無數百千眾生。其名曰:文殊師利菩薩、觀世音菩薩、得大勢菩薩、常精進菩薩、不休息菩薩、寶掌菩薩、藥王菩薩、勇施菩薩、寶月菩薩、月光菩薩、滿月菩薩、大力菩薩、無量力菩薩、越三界菩薩、跋陀婆羅菩薩、彌勒菩薩、寶積菩薩、導師菩薩,如是等菩薩摩訶薩八萬人俱。
Bồ-tát Ma-ha tát bát vạn nhân, giai ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề bất thoái chuyển; giai đắc đà-la-ni; nhạo thuyết biện tài, chuyển bất thoái chuyển pháp luân; cúng dường vô lượng bách thiên chư Phật, ư chư Phật sở thực chúng đức bản, thường vi chư Phật chi sở xưng thán; dĩ từ tu thân, thiện nhập Phật tuệ; thông đạt đại trí, đáo ư bỉ ngạn; danh xưng phổ văn vô lượng thế giới, năng độ vô số bách thiên chúng sinh. Kỳ danh viết: Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Quán-thế-âm Bồ-tát, Đắc-đại-thế Bồ-tát, Thường-tinh-tấn Bồ-tát, Bất-hưu-tức Bồ-tát, Bảo-chưởng Bồ-tát, Dược-vương Bồ-tát, Dũng-thí Bồ-tát, Bảo-nguyệt Bồ-tát, Nguyệt-quang Bồ-tát, Mãn-nguyệt Bồ-tát, Đại-lực Bồ-tát, Vô-lượng-lực Bồ-tát, Việt-tam-giới Bồ-tát, Bạt-đà-bà-la Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát, Bảo-tích Bồ-tát, Đạo-sư Bồ-tát, như thị đẳng Bồ-tát Ma-ha tát bát vạn nhân câu.
Bậc đại Bồ Tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác (7) , đều chứng được pháp Đà la ni (8) nhạo thuyết biện tài (9) chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở các nơi đức Phật trồng các cội công đức. Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí tuệ của Phật thông đạt đại trí đến nơi bờ kia (10) , danh đồn khắp vô lượng thế giới có thể độ vô số trăm ngàn chúng sanh. Tên của các vị đó là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Bửu Chưởng Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dõng Thí Bồ Tát, Bửu Nguyệt Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Mãn Nguyệt Bồ Tát, Đại Lực Bồ Tát, Vô Lượng Lực Bồ Tát, Việt Tam Giới Bồ Tát, Bạt Đà Bà La Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Bửu Tích Bồ Tát, Đạo Sư Bồ Tát v.v... các vị đại Bồ Tát như thế tám vạn người câu hội.
爾時釋提桓因,與其眷屬二萬天子俱。復有名月天子、普香天子、寶光天子、四大天王,與其眷屬萬天子俱。自在天子、大自在天子,與其眷屬三萬天子俱。娑婆世界主梵天王——尸棄大梵、光明大梵等,與其眷屬萬二千天子俱。有八龍王——難陀龍王、跋難陀龍王、娑伽羅龍王、和脩吉龍王、德叉迦龍王、阿那婆達多龍王、摩那斯龍王、優鉢羅龍王等,各與若干百千眷屬俱。有四緊那羅王——法緊那羅王、妙法緊那羅王、大法緊那羅王、持法緊那羅王,各與若干百千眷屬俱。有四乾闥婆王——樂乾闥婆王、樂音乾闥婆王、美乾闥婆王、美音乾闥婆王,各與若干百千眷屬俱。有四阿修羅王——婆稚阿修羅王、佉羅騫馱阿修羅王、毘摩質多羅阿修羅王、羅睺阿修羅王,各與若干百千眷屬俱。有四迦樓羅王——大威德迦樓羅王、大身迦樓羅王、大滿迦樓羅王、如意迦樓羅王,各與若干百千眷屬俱。韋提希子阿闍世王,與若干百千眷屬俱。各禮佛足,退坐一面。
Nhĩ thời Thích-đề-hoàn-nhân, dữ kỳ quyến thuộc nhị vạn thiên tử câu. Phục hữu danh nguyệt thiên tử, phổ hương thiên tử, bảo quang thiên tử, tứ đại thiên vương, dữ kỳ quyến thuộc vạn thiên tử câu. Tự tại thiên tử, đại tự tại thiên tử, dữ kỳ quyến thuộc tam vạn thiên tử câu. Ta-bà thế giới chủ phạm thiên vương——Thi-khí đại phạm, quang minh đại phạm đẳng, dữ kỳ quyến thuộc vạn nhị thiên thiên tử câu. Hữu bát long vương——Nan-đà long vương, Bạt-nan-đà long vương, Sa-già-la long vương, Hòa-tu-cát long vương, Đức-xoa-ca long vương, A-na-bà-đạt-đa long vương, Ma-na-tư long vương, Ưu-bát-la long vương đẳng, các dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Hữu tứ khẩn-na-la vương——pháp khẩn-na-la vương, diệu pháp khẩn-na-la vương, đại pháp khẩn-na-la vương, trì pháp khẩn-na-la vương, các dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Hữu tứ càn-thát-bà vương——Nhạc càn-thát-bà vương, Nhạc-âm càn-thát-bà vương, mỹ càn-thát-bà vương, mỹ âm càn-thát-bà vương, các dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Hữu tứ a-tu-la vương——Bà-trĩ a-tu-la vương, Khư-la-khiên-đà a-tu-la vương, Tỳ-ma-chất-đa-la a-tu-la vương, La-hầu a-tu-la vương, các dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Hữu tứ ca-lâu-la vương——đại uy đức ca-lâu-la vương, đại thân ca-lâu-la vương, đại mãn ca-lâu-la vương, như ý ca-lâu-la vương, các dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Vi-đề-hy tử A-xà-thế vương, dữ nhược can bách thiên quyến thuộc câu. Các lễ Phật túc, thoái tọa nhất diện.
Lúc bấy giờ, Thích Đề Hoàn Nhơn (11) cùng quyến thuộc hai vạn vị thiên tử câu hội. Lại có Minh Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bửu Quang thiên tử, bốn vị đại Thiên Vương cùng với quyến thuộc một vạn thiên tử câu hội. Tự Tại thiên tử, Đại Tự Tại thiên tử cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử câu hội. Chủ cõi Ta Bà: Phạm Thiên Vương, Thi Khí Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm v.v... cùng với quyến thuộc một vạn hai ngàn vị thiên tử câu hội. Có tám vị Long vương: Nan Đà Long vương, Bạt Nan Đà Long vương, Sa Dà La Long vương, Hòa Tu Cát Long vương, Đức Xoa Ca Long vương, A Na Bà Đạt Đa Long vương, Ma Na Tư Long vương, Ưu Bát La Long vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Khẩn Na La vương: Pháp Khẩn Na La vương, Diệu Pháp Khẩn Na La vương, Đại Pháp Khẩn Na La vương, Trì Pháp Khẩn Na La vương đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Càn Thát Bà vương: Nhạc Càn Thát Bà vương, Nhạc Âm Càn Thát Bà vương, Mỹ Càn Thát Bà vương, Mỹ Âm Càn Thát Bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị A Tu La vương: Bà Trĩ A Tu La vương, Dà La Khiên Đà A Tu La vương, Tỳ Ma Chất Đa La A Tu La vương, La Hầu A Tu La vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Ca Lâu La vương: Đại Oai Đức Ca Lâu La vương, Đại Thân Ca Lâu La vương, Đại Mãn Ca Lâu La vương, Như Ý Ca Lâu La vương đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội. Vua A Xà Thế, con bà Vi Đề Hi, cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội. Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía.
爾時世尊,四眾圍遶,供養、恭敬、尊重、讚歎。為諸菩薩說大乘經,名無量義,教菩薩法,佛所護念。佛說此經已,結加趺坐,入於無量義處三昧,身心不動。是時天雨曼陀羅華、摩訶曼陀羅華、曼殊沙華、摩訶曼殊沙華而散佛上及諸大眾。普佛世界,六種震動。爾時會中,比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷、天龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人,及諸小王、轉輪聖王,是諸大眾,得未曾有,歡喜合掌,一心觀佛。
Nhĩ thời Thế-tôn, tứ chúng vi nhiễu, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán. Vi chư Bồ-tát thuyết đại thừa kinh, danh vô lượng nghĩa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm. Phật thuyết thử kinh dĩ, kết già phu tọa, nhập ư vô lượng nghĩa xứ tam-muội, thân tâm bất động. Thị thời thiên vũ mạn-đà-la hoa, Ma-ha mạn-đà-la hoa, mạn-thù-sa hoa, Ma-ha mạn-thù-sa hoa nhi tán Phật thượng cập chư đại chúng. Phổ Phật thế giới, lục chủng chấn động. Nhĩ thời hội trung, tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân, cập chư tiểu vương, chuyển luân thánh vương, thị chư đại chúng, đắc vị tằng hữu, hoan hỷ hợp chưởng, nhất tâm quán Phật.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ Tát mà nói kinh Đại thừa tên: “Vô Lượng Nghĩa”, là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô Lượng Nghĩa Xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động. Khi đó trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha Mạn thù sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động (12) . Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn thát bà (13) , A tu la (14) , Ca lâu la (15) , Khẩn na la (16) , Ma hầu la dà (17) , nhơn, phi nhơn và các vị tiểu vương cùng Chuyển luân thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật.
爾時佛放眉間白毫相光,照東方萬八千世界,靡不周遍,下至阿鼻地獄,上至阿迦尼吒天。於此世界,盡見彼土六趣眾生,又見彼土現在諸佛,及聞諸佛所說經法。并見彼諸比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,諸修行得道者。復見諸菩薩摩訶薩,種種因緣、種種信解、種種相貌,行菩薩道。復見諸佛般涅槃者。復見諸佛般涅槃後,以佛舍利起七寶塔。
Nhĩ thời Phật phóng mi gian bạch hào tướng quang, chiếu đông phương vạn bát thiên thế giới, mĩ bất chu biến, hạ chí A-tỳ địa ngục, thượng chí A-ca-ni-tra thiên. Ư thử thế giới, tận kiến bỉ thổ lục thú chúng sinh, hựu kiến bỉ thổ hiện tại chư Phật, cập văn chư Phật sở thuyết kinh pháp. Tinh kiến bỉ chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, chư tu hành đắc đạo giả. Phục kiến chư Bồ-tát Ma-ha tát, chủng chủng nhân duyên, chủng chủng tín giải, chủng chủng tướng mạo, hành Bồ-tát đạo. Phục kiến chư Phật bát Niết-bàn giả. Phục kiến chư Phật bát Niết-bàn hậu, dĩ Phật xá lợi khởi thất bảo tháp.
Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc cứu cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh (18) , ở các cõi kia. Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo. Lại thấy các vị đại Bồ Tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ Tát. Lại thấy các đức Phật nhập Niết bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết bàn, đem xá lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.
爾時彌勒菩薩作是念:「今者世尊現神變相,以何因緣而有此瑞?今佛世尊入于三昧,是不可思議、現希有事。當以問誰?誰能答者?」復作此念:「是文殊師利,法王之子,已曾親近供養過去無量諸佛,必應見此希有之相。我今當問。」爾時比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,及諸天、龍、鬼神等,咸作此念:「是佛光明神通之相,今當問誰?」
Nhĩ thời Di-lặc Bồ-tát tác thị niệm: “Kim giả Thế-tôn hiện thần biến tướng, dĩ hà nhân duyên nhi hữu thử thụy? Kim Phật Thế-tôn nhập vu tam-muội, thị bất khả tư nghị, hiện hy hữu sự. Đương dĩ vấn thùy? Thùy năng đáp giả?” Phục tác thử niệm: “Thị Văn-thù-sư-lợi, pháp vương chi tử, dĩ tằng thân cận cúng dường quá khứ vô lượng chư Phật, tất ưng kiến thử hy hữu chi tướng. Ngã kim đương vấn.” Nhĩ thời tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cập chư thiên, long, quỷ thần đẳng, hàm tác thử niệm: “Thị Phật quang minh thần thông chi tướng, kim đương vấn thùy?”
Khi ấy, ngài Di Lặc Bồ Tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành này. Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hy hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?” Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp Vương tử (19) Văn Thù Sư Lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ chắc đã thấy tướng hy hữu này, ta nay nên hỏi ông”. Lúc đó, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ (20) và các trời, rồng, quỷ, thần v.v... đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?”
爾時彌勒菩薩欲自決疑,又觀四眾比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,及諸天,龍、鬼神等眾會之心,而問文殊師利言:「以何因緣而有此瑞神通之相,放大光明,照于東方萬八千土,悉見彼佛國界莊嚴?」於是彌勒菩薩欲重宣此義,以偈問曰:
Nhĩ thời Di-lặc Bồ-tát dục tự quyết nghi, hựu quán tứ chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cập chư thiên, long, quỷ thần đẳng chúng hội chi tâm, nhi vấn Văn-thù-sư-lợi ngôn: “Dĩ hà nhân duyên nhi hữu thử thụy thần thông chi tướng, phóng đại quang minh, chiếu vu đông phương vạn bát thiên thổ, tất kiến bỉ Phật quốc giới trang nghiêm?” Ư thị Di-lặc Bồ-tát dục trùng tuyên thử nghĩa, dĩ kệ vấn viết:
Bấy giờ, ngài Di Lặc Bồ Tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỷ, thần v.v... mà hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng: “Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật?” Khi đó, ngài Di Lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:
「文殊師利!導師何故,眉間白毫,大光普照。雨曼陀羅、曼殊沙華,栴檀香風,悅可眾心?以是因緣,地皆嚴淨,而此世界,六種震動。時四部眾,咸皆歡喜,身意快然,得未曾有。
“Văn-thù-sư-lợi! Đạo sư hà cố, mi gian bạch hào, đại quang phổ chiếu. Vũ mạn-đà-la, mạn-thù-sa hoa, chiên-đàn hương phong, duyệt khả chúng tâm? Dĩ thị nhân duyên, địa giai nghiêm tịnh, nhi thử thế giới, lục chủng chấn động. Thời tứ bộ chúng, hàm giai hoan hỷ, thân ý khoái nhiên, đắc vị tằng hữu.
Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Đức Đạo Sư cớ chi
Lông trắng giữa chặn mày
Phóng ánh sáng khắp soi?
Trời mưa hoa Mạn đà
Cùng hoa Mạn thù Sa,
Gió thơm mùi chiên đàn
Vui đẹp lòng đại chúng
Vì nhân duyên như vậy
Cõi đất đều nghiêm tịnh
Mà trong thế giới này
Sáu điệu vang động lên
Bấy giờ bốn bộ chúng
Thảy đều rất vui mừng
Thân cùng ý thơ thới
Được việc chưa từng có.
眉間光明,照于東方,萬八千土,皆如金色,從阿鼻獄,上至有頂。諸世界中,六道眾生,生死所趣,善惡業緣,受報好醜,於此悉見。
Mi gian quang minh, chiếu vu đông phương, vạn bát thiên thổ, giai như kim sắc, tùng A-tỳ ngục, thượng chí hữu đỉnh. Chư thế giới trung, lục đạo chúng sinh, sinh tử sở thú, thiện ác nghiệp duyên, thọ báo hảo xú, ư thử tất kiến.
Ánh sáng giữa chặn mày
Soi suốt thẳng phương Đông
Một muôn tám nghìn cõi
Đều ánh như sắc vàng.
Từ địa ngục A tỳ
Trên đến trời Hữu Đảnh
Trong các thế giới đó
Cả sáu đạo chúng sanh
Sống chết của kia đến
Nghiệp duyên lành cùng dữ
Thọ báo có tốt xấu
Tại đây đều thấy rõ.
又覩諸佛、聖主師子、演說經典,微妙第一。其聲清淨,出柔軟音,教諸菩薩,無數億萬,梵音深妙,令人樂聞。各於世界,講說正法,種種因緣。以無量喻,照明佛法,開悟眾生。若人遭苦,厭老病死,為說涅槃,盡諸苦際。若人有福,曾供養佛,志求勝法,為說緣覺。若有佛子、修種種行,求無上慧,為說淨道。
Hựu đổ chư Phật, thánh chủ sư tử, diễn thuyết kinh điển, vi diệu đệ nhất. Kỳ thanh thanh tịnh, xuất nhu nhuyễn âm, giáo chư Bồ-tát, vô số ức vạn, phạm âm thâm diệu, lệnh nhân nhạo văn. Các ư thế giới, giảng thuyết chính pháp, chủng chủng nhân duyên. Dĩ vô lượng dụ, chiếu minh Phật pháp, khai ngộ chúng sinh. Nhược nhân tao khổ, yếm lão bệnh tử, vi thuyết Niết-bàn, tận chư khổ tế. Nhược nhân hữu phúc, tằng cúng dường Phật, chí cầu thắng pháp, vi thuyết duyên giác. Nhược hữu Phật tử, tu chủng chủng hành, cầu vô thượng tuệ, vi thuyết tịnh đạo.
Lại thấy các đức Phật
Đấng Thánh Chúa sư tử
Diễn nói các kinh điển
Nhiệm mầu bậc thứ nhất.
Tiếng của Ngài thanh tịnh
Giọng nói ra êm dịu
Dạy bảo các Bồ Tát
Vô số ức muôn người
Tiếng Phạm âm thâm diệu
Khiến người đều ưa nghe.
Các Phật ở cõi mình
Mà giảng nói chánh pháp
Dùng nhiều món nhân duyên
Cùng vô lượng tỉ dụ
Để soi rõ Phật Pháp
Mà khai ngộ chúng sanh.
Nếu có người bị khổ
Nhàm lìa già, bệnh, chết,
Phật vì nói Niết bàn
Để dứt các ngằn khổ
Nếu là người có phước
Đã từng cúng dường Phật
Chí cầu pháp thù thắng
Vì nói hạnh Duyên giác
Nếu lại có Phật tử
Tu tập các công hạnh
Để cầu huệ vô thượng
Phật vì nói tịnh đạo.
文殊師利!我住於此,見聞若斯,及千億事,如是眾多,今當略說。
Văn-thù-sư-lợi! Ngã trụ ư thử, kiến văn nhược tư, cập thiên ức sự, như thị chúng đa, kim đương lược thuyết.
Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Tôi ở tại nơi đây
Thấy nghe dường ấy đó
Và nghìn ức việc khác
Thấy rất nhiều như thế
Nay sẽ lược nói ra:
我見彼土,恒沙菩薩,種種因緣,而求佛道。或有行施,金銀珊瑚、真珠摩尼、車𤦲馬腦、金剛諸珍,奴婢車乘、寶飾輦輿,歡喜布施。迴向佛道,願得是乘,三界第一,諸佛所歎。或有菩薩,駟馬寶車、欄楯華蓋、軒飾布施。復見菩薩,身肉手足,及妻子施,求無上道。又見菩薩,頭目身體,欣樂施與,求佛智慧。
Ngã kiến bỉ thổ, hằng sa Bồ-tát, chủng chủng nhân duyên, nhi cầu Phật đạo. Hoặc hữu hành thi, kim ngân san hô, chân châu ma ni, xa cừ mã não, kim cương chư trân, nô tỳ xa thừa, bảo sức liễn dư, hoan hỷ bố thi. Hồi hướng Phật đạo, nguyện đắc thị thừa, tam giới đệ nhất, chư Phật sở thán. Hoặc hữu Bồ-tát, tứ mã bảo xa, lan thuẫn hoa cái, hiên sức bố thi. Phục kiến Bồ-tát, thân nhục thủ túc, cập thê tử thi, cầu vô thượng đạo. Hựu kiến Bồ-tát, đầu mục thân thể, hân nhạo thi dữ, cầu Phật trí tuệ.
Tôi thấy ở cõi kia
Có hằng sa Bồ Tát
Dùng các món nhân duyên
Mà cầu chứng Phật đạo.
Hoặc có vị bố thí
Vàng, bạc, ngọc, san hô,
Trân châu, ngọc như ý,
Ngọc, xa cừ, mã não,
Kim cương các trân bửu
Cùng tôi tớ, xe cộ
Kiệu, cáng chưng châu báu
Vui vẻ đem bố thí
Hồi hướng về Phật đạo
Nguyện được chứng thừa ấy
Bậc nhất của ba cõi
Các Phật hằng khen ngợi.
Hoặc có vị Bồ Tát
Xe tứ mã xe báu
Bao lơn che tàn đẹp
Trau tria dùng bố thí.
Lại thấy có Bồ Tát
Bố thí cả vợ con
Thân thịt cùng tay chân
Để cầu vô thượng đạo.
Lại thấy có Bồ Tát
Đầu, mắt và thân thể
Đều ưa vui thí cho
Để cầu trí huệ Phật.
文殊師利!我見諸王,往詣佛所,問無上道,便捨樂土、宮殿臣妾,剃除鬚髮,而被法服。或見菩薩,而作比丘,獨處閑靜,樂誦經典。又見菩薩,勇猛精進,入於深山,思惟佛道。又見離欲,常處空閑,深修禪定,得五神通。又見菩薩,安禪合掌,以千萬偈、讚諸法王。復見菩薩,智深志固,能問諸佛,聞悉受持。又見佛子,定慧具足,以無量喻,為眾講法。欣樂說法,化諸菩薩,破魔兵眾,而擊法鼓。又見菩薩,寂然宴默,天龍恭敬,不以為喜。又見菩薩,處林放光,濟地獄苦,令入佛道。又見佛子,未甞睡眠,經行林中,懃求佛道。又見具戒,威儀無缺,淨如寶珠,以求佛道。又見佛子,住忍辱力,增上慢人,惡罵捶打,皆悉能忍,以求佛道。又見菩薩,離諸戲笑,及癡眷屬,親近智者,一心除亂,攝念山林,億千萬歲,以求佛道。
Văn-thù-sư-lợi! Ngã kiến chư vương, vãng nghệ Phật sở, vấn vô thượng đạo, tiện xả lạc thổ, cung điện thần thiếp, thế trừ tu phát, nhi bị pháp phục. Hoặc kiến Bồ-tát, nhi tác tỳ-kheo, độc xứ nhàn tĩnh, nhạo tụng kinh điển. Hựu kiến Bồ-tát, dũng mãnh tinh tiến, nhập ư thâm sơn, tư duy Phật đạo. Hựu kiến ly dục, thường xứ không nhàn, thâm tu thiền định, đắc ngũ thần thông. Hựu kiến Bồ-tát, an thiền hợp chưởng, dĩ thiên vạn kệ, tán chư pháp vương. Phục kiến Bồ-tát, trí thâm chí cố, năng vấn chư Phật, văn tất thọ trì. Hựu kiến Phật tử, định tuệ cụ túc, dĩ vô lượng dụ, vi chúng giảng pháp. Hân nhạo thuyết pháp, hóa chư Bồ-tát, phá ma binh chúng, nhi kích pháp cổ. Hựu kiến Bồ-tát, tịch nhiên yến mặc, thiên long cung kính, bất dĩ vi hỷ. Hựu kiến Bồ-tát, xứ lâm phóng quang, tế địa ngục khổ, lệnh nhập Phật đạo. Hựu kiến Phật tử, vị thường thụy miên, kinh hành lâm trung, cần cầu Phật đạo. Hựu kiến cụ giới, uy nghi vô khuyết, tịnh như bảo châu, dĩ cầu Phật đạo. Hựu kiến Phật tử, trụ nhẫn nhục lực, tăng thượng mạn nhân, ác mạ chủy đả, giai tất năng nhẫn, dĩ cầu Phật đạo. Hựu kiến Bồ-tát, ly chư hí tiếu, cập si quyến thuộc, thân cận trí giả, nhất tâm trừ loạn, nhiếp niệm sơn lâm, ức thiên vạn tuế, dĩ cầu Phật đạo.
Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Ta thấy các Quốc vương
Qua đến chỗ của Phật
Thưa hỏi đạo vô thượng
Bèn bỏ nước vui vẻ
Cung điện cả thần thiếp
Cạo sạch râu lẫn tóc
Mà mặc y pháp phục.
Hoặc lại thấy Bồ Tát
Mà hiện làm Tỳ kheo
Một mình ở vắng vẻ
Ưa vui tụng kinh điển.
Cũng thấy có Bồ Tát
Dõng mãnh và tinh tấn
Vào ở nơi thâm sơn
Suy xét mối Phật đạo
Và thấy bậc ly dục
Thường ở chỗ không nhàn
Sâu tu các thiền định
Được năm món thần thông
Và thấy vị Bồ Tát
Chắp tay trụ thiền định
Dùng ngàn vạn bài kệ
Khen ngợi các Pháp vương
Lại thấy có Bồ Tát
Trí sâu chí bền chắc
Hay hỏi các đức Phật
Nghe rồi đều thọ trì.
Lại thấy hàng Phật tử
Định huệ trọn đầy đủ
Dùng vô lượng tỉ dụ
Vì chúng mà giảng pháp
Vui ưa nói các pháp
Dạy bảo các Bồ Tát
Phá dẹp chúng binh ma
Mà đánh rền trống pháp
Cùng thấy vị Bồ Tát
Vắng bặt yên lặng ngồi
Trời, rồng đều cung kính
Chẳng lấy đó làm mừng,
Và thấy có Bồ Tát
Ở rừng phóng hào quang
Cứu khổ chốn địa ngục
Khiến đều vào Phật đạo.
Lại thấy hàng Phật tử
Chưa từng có ngủ nghỉ
Kinh hành ở trong rừng
Siêng năng cầu Phật đạo
Cũng thấy đủ giới đức
Uy nghi không thiếu sót
Lòng sạch như bảo châu
Để cầu chứng Phật đạo.
Và thấy hàng Phật tử
Trụ vào sức nhẫn nhục
Bị kẻ tăng thượng mạn
Mắng rủa cùng đánh đập
Thảy đều hay nhẫn được
Để cầu chứng Phật đạo
Lại thấy có Bồ Tát
Xa rời sự chơi cười
Và quyến thuộc ngu si
Ưa gần gũi người trí
Chuyên tâm trừ loạn động
Nhiếp niệm ở núi rừng
Trải ức nghìn muôn năm
Để cầu được Phật đạo.
或見菩薩,餚饍飲食、百種湯藥,施佛及僧。名衣上服,價直千萬,或無價衣,施佛及僧。千萬億種,栴檀寶舍、眾妙臥具,施佛及僧。清淨園林,華菓茂盛,流泉浴池,施佛及僧。如是等施,種種微妙,歡喜無厭,求無上道。
Hoặc kiến Bồ-tát, hào thiện ẩm thực, bách chủng thang dược, thi Phật cập tăng. Danh y thượng phục, giá trực thiên vạn, hoặc vô giá y, thi Phật cập tăng. Thiên vạn ức chủng, chiên-đàn bảo xá, chúng diệu ngọa cụ, thi Phật cập tăng. Thanh tịnh viên lâm, hoa quả mậu thịnh, lưu tuyền dục trì, thi Phật cập tăng. Như thị đẳng thi, chủng chủng vi diệu, hoan hỷ vô yếm, cầu vô thượng đạo.
Lại thấy vị Bồ Tát
Đồ ăn uống ngọt ngon
Cùng trăm món thuốc thang
Đem cúng Phật và Tăng,
Áo tốt đồ thượng phục
Giá đáng đến nghìn muôn
Hoặc là vô giá y
Đem cúng Phật và Tăng,
Dùng nghìn muôn ức thứ
Nhà báu bằng Chiên đàn
Các giường nằm tốt đẹp
Để cúng Phật cùng Tăng
Rừng vườn rất thanh tịnh
Bông trái đều sum sê
Suối chảy cùng ao tắm
Cúng cho Phật và Tăng,
Cúng thí như thế đó
Các đồ cúng tốt đẹp
Vui vẻ không hề nhàm
Để cầu đạo vô thượng.
或有菩薩,說寂滅法,種種教詔,無數眾生。或見菩薩,觀諸法性,無有二相,猶如虛空。又見佛子,心無所著,以此妙慧、求無上道。
Hoặc hữu Bồ-tát, thuyết tịch diệt pháp, chủng chủng giáo chiếu, vô số chúng sinh. Hoặc kiến Bồ-tát, quán chư pháp tính, vô hữu nhị tướng, do như hư không. Hựu kiến Phật tử, tâm vô sở trước, dĩ thử diệu tuệ, cầu vô thượng đạo.
Lại có vị Bồ Tát
Giảng nói pháp tịch diệt
Dùng các lời dạy dỗ
Dạy vô số chúng sanh
Hoặc thấy vị Bồ Tát
Quán sát các pháp tịnh
Đều không có hai tướng
Cũng như khoảng hư không
Lại thấy hàng Phật tử
Tâm không chỗ mê đắm
Dùng món diệu huệ này
Mà cầu đạo vô thượng.
文殊師利!又有菩薩,佛滅度後,供養舍利。又見佛子,造諸塔廟,無數恒沙,嚴飾國界,寶塔高妙,五千由旬,縱廣正等,二千由旬。一一塔廟,各千幢幡,珠交露幔,寶鈴和鳴。諸天龍神、人及非人,香華伎樂,常以供養。文殊師利!諸佛子等,為供舍利,嚴飾塔廟,國界自然,殊特妙好,如天樹王,其華開敷。
Văn-thù-sư-lợi! Hựu hữu Bồ-tát, Phật diệt độ hậu, cúng dường xá lợi. Hựu kiến Phật tử, tạo chư tháp miếu, vô số hằng sa, nghiêm sức quốc giới, bảo tháp cao diệu, ngũ thiên do tuần, túng quảng chính đẳng, nhị thiên do tuần. Nhất nhất tháp miếu, các thiên tràng phướn, châu giao lộ mạn, bảo linh hòa minh. Chư thiên long thần, nhân cập phi nhân, hương hoa kỹ nhạc, thường dĩ cúng dường. Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật tử đẳng, vi cúng xá lợi, nghiêm sức tháp miếu, quốc giới tự nhiên, thù đặc diệu hảo, như thiên thụ vương, kỳ hoa khai phu.
Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Lại có vị Bồ Tát
Sau khi Phật diệt độ
Cúng dường Xá Lợi Phật.
Lại thấy hàng Phật tử
Xây dựng các tháp miếu
Nhiều vô số hằng sa
Nghiêm sức khắp cõi nước.
Bảo tháp rất cao đẹp
Đều năm nghìn do tuần.
Bề ngang rộng xứng nhau
Đều hai nghìn do tuần.
Trong mỗi mỗi tháp miếu
Đều có ngàn tràng phan
Màn châu xen thả xuống
Tiếng linh báu hòa reo
Các vị trời, rồng, thần,
Người cùng với phi nhơn
Hương, hoa, cùng kỹ nhạc
Thường đem đến cúng dường
Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Các hàng Phật tử kia
Vì cúng dường xá lợi
Nên trang sức tháp miếu,
Cõi quốc giới tự nhiên
Thù đặc rất tốt đẹp
Như cây Thiên thụ vương
Hoa kia đang xòe nở
佛放一光,我及眾會,見此國界,種種殊妙。諸佛神力、智慧希有,放一淨光,照無量國。我等見此,得未曾有。
Phật phóng nhất quang, ngã cập chúng hội, kiến thử quốc giới, chủng chủng thù diệu. Chư Phật thần lực, trí tuệ hy hữu, phóng nhất tịnh quang, chiếu vô lượng quốc. Ngã đẳng kiến thử, đắc vị tằng hữu.
Phật phóng một luồng sáng
Ta cùng cả chúng hội
Thấy nơi cõi nước này
Các thứ rất tốt đẹp
Thần lực của chư Phật
Trí huệ đều hy hữu
Phóng một luồng tịnh quang
Soi khắp vô lượng cõi
Chúng ta thấy việc này
Được điều chưa từng có.
佛子文殊!願決眾疑。四眾欣仰,瞻仁及我。世尊何故,放斯光明?佛子時答,決疑令喜。何所饒益,演斯光明?佛坐道場,所得妙法,為欲說此?為當授記?示諸佛土,眾寶嚴淨,及見諸佛,此非小緣。文殊當知,四眾龍神,瞻察仁者,為說何等。」
Phật tử Văn-thù! Nguyện quyết chúng nghi. Tứ chúng hân ngưỡng, chiêm nhân cập ngã. Thế-tôn hà cố, phóng tư quang minh? Phật tử thời đáp, quyết nghi lệnh hỷ. Hà sở nhiêu ích, diễn tư quang minh? Phật tọa đạo tràng, sở đắc diệu pháp, vi dục thuyết thử? Vi đương thụ ký? Thị chư Phật thổ, chúng bảo nghiêm tịnh, cập kiến chư Phật, thử phi tiểu duyên. Văn-thù đương tri, tứ chúng long thần, chiêm sát nhân giả, vi thuyết hà đẳng.”
Xin Phật tử Văn Thù
Giải quyết lòng chúng nghi
Bốn chúng đều mong ngóng
Nhìn ngài và nhìn ta
Đức Thế Tôn cớ chi
Phóng ánh quang minh này?
Phật tử phải thời đáp
Quyết nghi cho chúng mừng
Có những lợi ích gì
Đức Phật phóng quang này?
Khi Phật ngồi đạo tràng
Chứng được pháp thâm diệu
Vì muốn nói Pháp đó
Hay là sẽ thọ ký?
Hiện bày các cõi Phật
Các báu sạch trang nghiêm
Cùng thấy các đức Phật
Đây không phải cớ nhỏ
Ngài Văn Thù nên biết
Bốn chúng và Long, Thần
Nhìn xem xét ngài đó
Mong sẽ nói những gì?
爾時文殊師利語彌勒菩薩摩訶薩及諸大士:「善男子等!如我惟忖,今佛世尊欲說大法,雨大法雨,吹大法螺,擊大法鼓,演大法義。諸善男子!我於過去諸佛,曾見此瑞,放斯光已,即說大法。是故當知,今佛現光,亦復如是,欲令眾生,咸得聞知一切世間難信之法,故現斯瑞。
Nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi ngữ Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát cập chư đại sĩ: “Thiện nam tử đẳng! Như ngã duy thốn, kim Phật Thế-tôn dục thuyết đại pháp, vũ đại pháp vũ, xuy đại pháp loa, kích đại pháp cổ, diễn đại pháp nghĩa. Chư thiện nam tử! Ngã ư quá khứ chư Phật, tằng kiến thử thụy, phóng tư quang dĩ, tức thuyết đại pháp. Thị cố đương tri, kim Phật hiện quang, diệc phục như thị, dục lệnh chúng sinh, hàm đắc văn tri nhất thiết thế gian nan tín chi pháp, cố hiện tư thụy.
Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi nói với ngài Di Lặc Đại Bồ Tát cùng các vị Đại sĩ: “Các Thiện nam tử! Như chỗ tôi xét nghĩ thì nay đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn. Các thiện nam tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này.
「諸善男子!如過去無量無邊不可思議阿僧祇劫,爾時有佛,號日月燈明如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊,演說正法,初善中善後善,其義深遠,其語巧妙,純一無雜,具足清白梵行之相。為求聲聞者說應四諦法,度生老病死,究竟涅槃;為求辟支佛者說應十二因緣法;為諸菩薩說應六波羅蜜,令得阿耨多羅三藐三菩提,成一切種智。「次復有佛亦名日月燈明,次復有佛亦名日月燈明,如是二萬佛,皆同一字,號日月燈明,又同一姓,姓頗羅墮。彌勒當知,初佛後佛,皆同一字,名日月燈明,十號具足。所可說法,初中後善。其最後佛,未出家時有八王子:一名有意,二名善意,三名無量意,四名寶意,五名增意,六名除疑意,七名嚮意,八名法意。是八王子,威德自在,各領四天下。是諸王子,聞父出家,得阿耨多羅三藐三菩提,悉捨王位亦隨出家,發大乘意,常修梵行,皆為法師,已於千萬佛所、殖諸善本。
“Chư thiện nam tử! Như quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng-kỳ kiếp, nhĩ thời hữu Phật, hiệu Nhật-nguyệt-đăng-minh Như-lai, Ứng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn, diễn thuyết chính pháp, sơ thiện trung thiện hậu thiện, kỳ nghĩa thâm viễn, kỳ ngữ xảo diệu, thuần nhất vô tạp, cụ túc thanh bạch phạm hành chi tướng. Vi cầu thanh văn giả thuyết ưng tứ đế pháp, độ sinh lão bệnh tử, cứu cánh Niết-bàn; vi cầu Bích-chi Phật giả thuyết ưng thập nhị nhân duyên pháp; vi chư Bồ-tát thuyết ưng lục ba-la-mật, lệnh đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thành nhất thiết chủng trí. “Thứ phục hữu Phật diệc danh Nhật-nguyệt-đăng-minh, thứ phục hữu Phật diệc danh Nhật-nguyệt-đăng-minh, như thị nhị vạn Phật, giai đồng nhất tự, hiệu Nhật-nguyệt-đăng-minh, hựu đồng nhất tính, tính phả-la-đọa. Di-lặc đương tri, sơ Phật hậu Phật, giai đồng nhất tự, danh Nhật-nguyệt-đăng-minh, thập hiệu cụ túc. Sở khả thuyết pháp, sơ trung hậu thiện. Kỳ tối hậu Phật, vị xuất gia thời hữu bát vương tử: Nhất danh hữu ý, nhị danh thiện ý, tam danh vô lượng ý, tứ danh bảo ý, ngũ danh tăng ý, lục danh trừ nghi ý, thất danh hướng ý, bát danh pháp ý. Thị bát vương tử, uy đức tự tại, các lãnh tứ thiên hạ. Thị chư vương tử, văn phụ xuất gia, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tất xả vương vị diệc tùy xuất gia, phát đại thừa ý, thường tu phạm hành, giai vi pháp sư, dĩ ư thiên vạn Phật sở, thực chư thiện bản.
Các thiện nam tử! Như vô lượng vô biên a tăng kỳ (21) kiếp về trước. Bấy giờ có đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch. Phật, vì người cầu đạo Thanh văn, nói pháp Tứ đế (22) thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, cứu cánh Niết bàn. Vì hạng cầu quả Duyên giác, nói pháp Mười hai nhân duyên (23) , vì hàng Bồ Tát nói sáu pháp Ba la mật (24) làm cho chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác thành bậc nhứt thiết chủng trí (25) . Kế lại có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ, họ Phả La Đọa. Di Lặc nên biết! Đức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành. Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử: Người thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hưởng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Tám vị vương tử đó có uy đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ (26) . Nghe vua cha xuất gia chứng đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành.
「是時日月燈明佛說大乘經,名無量義,教菩薩法,佛所護念。說是經已,即於大眾中結加趺坐,入於無量義處三昧,身心不動。
“Thị thời Nhật-nguyệt-đăng-minh Phật thuyết đại thừa kinh, danh vô lượng nghĩa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm. Thuyết thị kinh dĩ, tức ư đại chúng trung kết già phu tọa, nhập ư vô lượng nghĩa xứ tam-muội, thân tâm bất động.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Xứ” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Nói kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định “Vô Lượng Nghĩa Xứ”, thân và tâm chẳng động.
是時、天雨曼陀羅華,摩訶曼陀羅華,曼殊沙華,摩訶曼殊沙華,而散佛上、及諸大眾。普佛世界,六種震動。爾時會中,比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,天、龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人,及諸小王、轉輪聖王等,是諸大眾,得未曾有,歡喜合掌,一心觀佛。
Thị thời, thiên vũ mạn-đà-la hoa, Ma-ha mạn-đà-la hoa, mạn-thù-sa hoa, Ma-ha mạn-thù-sa hoa, nhi tán Phật thượng, cập chư đại chúng. Phổ Phật thế giới, lục chủng chấn động. Nhĩ thời hội trung, tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân, cập chư tiểu vương, chuyển luân thánh vương đẳng, thị chư đại chúng, đắc vị tằng hữu, hoan hỷ hợp chưởng, nhất tâm quán Phật.
Khi ấy trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa cùng hoa Ma ha Mạn thù sa để rải trên đức Phật và hàng đại chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động. Lúc đó trong hội, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển luân thánh vương v.v... các đại chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.
「爾時如來放眉間白毫相光,照東方萬八千佛土,靡不周遍,如今所見是諸佛土。彌勒當知,爾時會中,有二十億菩薩樂欲聽法。是諸菩薩,見此光明、普照佛土,得未曾有,欲知此光所為因緣。時有菩薩,名曰妙光,有八百弟子。
“Nhĩ thời Như-lai phóng mi gian bạch hào tướng quang, chiếu đông phương vạn bát thiên Phật thổ, mĩ bất chu biến, như kim sở kiến thị chư Phật thổ. Di-lặc đương tri, nhĩ thời hội trung, hữu nhị thập ức Bồ-tát nhạo dục thính pháp. Thị chư Bồ-tát, kiến thử quang minh, phổ chiếu Phật thổ, đắc vị tằng hữu, dục tri thử quang sở vi nhân duyên. Thời hữu Bồ-tát, danh viết Diệu-quang, hữu bát bách đệ tử.
Bấy giờ, đức Như Lai từ tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây. Di Lặc nên biết! Khi đó trong hội, có hai mươi ức Bồ Tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ Tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh sáng này. Khi ấy, có vị Bồ Tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử.
是時日月燈明佛從三昧起,因妙光菩薩、說大乘經,名妙法蓮華,教菩薩法,佛所護念,六十小劫不起于座。
Thị thời Nhật-nguyệt-đăng-minh Phật tùng tam-muội khởi, nhân Diệu-quang Bồ-tát, thuyết đại thừa kinh, danh diệu pháp liên hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm, lục thập tiểu kiếp bất khởi vu tòa.
Bấy giờ, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ Tát nói kinh Đại thừa tên “Diệu Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm, trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.
時會聽者亦坐一處,六十小劫身心不動,聽佛所說,謂如食頃。是時眾中,無有一人若身若心而生懈惓。
Thời hội thính giả diệc tọa nhất xứ, lục thập tiểu kiếp thân tâm bất động, thính Phật sở thuyết, vị như thực khoảnh. Thị thời chúng trung, vô hữu nhất nhân nhược thân nhược tâm nhi sinh giải quyện.
Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi.
「日月燈明佛於六十小劫說是經已,即於梵、魔、沙門、婆羅門、及天、人、阿修羅眾中,而宣此言:『如來於今日中夜,當入無餘涅槃。』時有菩薩,名曰德藏,日月燈明佛即授其記。告諸比丘:『是德藏菩薩,次當作佛,號曰淨身多陀阿伽度、阿羅訶、三藐三佛陀。』佛授記已,便於中夜、入無餘涅槃。
“Nhật-nguyệt-đăng-minh Phật ư lục thập tiểu kiếp thuyết thị kinh dĩ, tức ư phạm, ma, sa môn, bà-la-môn, cập thiên, nhân, a-tu-la chúng trung, nhi tuyên thử ngôn: ‘Như-lai ư kim nhật trung dạ, đương nhập vô dư Niết-bàn.’ Thời hữu Bồ-tát, danh viết Đức-tạng, Nhật-nguyệt-đăng-minh Phật tức thụ kỳ ký. Cáo chư tỳ-kheo: ‘Thị Đức-tạng Bồ-tát, thứ đương tác Phật, hiệu viết Tịnh-thân đa-đà-a-già-độ, A-la-ha, tam-miệu tam-phật-đà.’ Phật thụ ký dĩ, tiện ư trung dạ, nhập vô dư Niết-bàn.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, và Trời, Người, A tu la mà tuyên rằng: “Hôm nay vào nửa đêm, Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết bàn”. Khi đó có vị Bồ Tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký (27) cho, bảo các Tỳ kheo rằng: “Ông Đức Tạng Bồ Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Thân Như Lai Ứng cúng, chánh đẳng chánh giác”. Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô dư Niết bàn.
佛滅度後,妙光菩薩持妙法蓮華經,滿八十小劫為人演說。
Phật diệt độ hậu, Diệu-quang Bồ-tát trì Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, mãn bát thập tiểu kiếp vi nhân diễn thuyết.
Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ Tát trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.
日月燈明佛八子皆師妙光,妙光教化令其堅固阿耨多羅三藐三菩提。是諸王子、供養無量百千萬億佛已,皆成佛道,其最後成佛者,名曰燃燈。
Nhật-nguyệt-đăng-minh Phật bát tử giai sư Diệu-quang, Diệu-quang giáo hóa lệnh kỳ kiên cố a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị chư vương tử, cúng dường vô lượng bách thiên vạn ức Phật dĩ, giai thành Phật đạo, kỳ tối hậu thành Phật giả, danh viết Nhiên-đăng.
Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều học với ngài Diệu Quang, ngài Diệu Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các vị Vương tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên Đăng.
八百弟子中,有一人號曰求名,貪著利養,雖復讀誦眾經,而不通利,多所忘失,故號求名。是人亦以種諸善根因緣故,得值無量百千萬億諸佛,供養、恭敬,尊重、讚歎。
Bát bách đệ tử trung, hữu nhất nhân hiệu viết Cầu-danh, tham trước lợi dưỡng, tuy phục độc tụng chúng kinh, nhi bất thông lợi, đa sở vong thất, cố hiệu Cầu-danh. Thị nhân diệc dĩ chủng chư thiện căn nhân duyên cố, đắc trị vô lượng bách thiên vạn ức chư Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Trong hàng tám trăm người đệ tử có một người tên: Cầu Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi.
彌勒當知,爾時妙光菩薩豈異人乎?我身是也;求名菩薩,汝身是也。今見此瑞,與本無異,是故惟忖:『今日如來當說大乘經,名妙法蓮華,教菩薩法,佛所護念。』」爾時文殊師利於大眾中,欲重宣此義,而說偈言:
Di-lặc đương tri, nhĩ thời Diệu-quang Bồ-tát khởi dị nhân hồ? Ngã thân thị dã; Cầu-danh Bồ-tát, nhữ thân thị dã. Kim kiến thử thụy, dữ bản vô dị, thị cố duy thốn: ‘Kim nhật Như-lai đương thuyết đại thừa kinh, danh diệu pháp liên hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm.’” Nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi ư đại chúng trung, dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Di Lặc nên biết! Lúc đó Diệu Quang Bồ Tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu Danh Bồ Tát là ngài đấy. Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ hôm nay đức Phật Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên: “Diệu Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trong đại chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「我念過去世,無量無數劫,有佛人中尊,號日月燈明。世尊演說法,度無量眾生,無數億菩薩,令入佛智慧。
“Ngã niệm quá khứ thế, vô lượng vô số kiếp, hữu Phật nhân trung tôn, hiệu Nhật-nguyệt-đăng-minh. Thế-tôn diễn thuyết pháp, độ vô lượng chúng sinh, vô số ức Bồ-tát, lệnh nhập Phật trí tuệ.
Ta nhớ thuở quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật Nhân Trung Tôn
Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh
Đức Thế Tôn nói pháp
Độ vô lượng chúng sanh
Vô số ức Bồ Tát
Khiến vào trí huệ Phật.
佛未出家時,所生八王子,見大聖出家,亦隨修梵行。
Phật vị xuất gia thời, sở sinh bát vương tử, kiến đại thánh xuất gia, diệc tùy tu phạm hành.
Khi Phật chưa xuất gia
Có sanh tám vương tử
Thấy Đại Thánh xuất gia
Cũng theo tu phạm hạnh.
時佛說大乘,經名無量義,於諸大眾中,而為廣分別。佛說此經已,即於法座上,加趺坐三昧,名無量義處。天雨曼陀華,天鼓自然鳴,諸天龍鬼神,供養人中尊。一切諸佛土,即時大震動,
Thời Phật thuyết đại thừa, kinh danh vô lượng nghĩa, ư chư đại chúng trung, nhi vi quảng phân biệt. Phật thuyết thử kinh dĩ, tức ư pháp tòa thượng, gia phu tọa tam-muội, danh vô lượng nghĩa xứ. Thiên vũ mạn-đà hoa, thiên cổ tự nhiên minh, chư thiên long quỷ thần, cúng dường nhân trung tôn. Nhất thiết chư Phật thổ, tức thời đại chấn động,
Phật nói kinh Đại thừa
Tên là “Vô Lượng Nghĩa”
Ở trong hàng đại chúng
Mà vì rộng tỏ bày.
Phật nói kinh ấy rồi
Liền ở trong pháp tòa
Xếp bằng nhập chánh định
Tên “Vô Lượng Nghĩa Xứ”
Trời rưới hoa Mạn đà
Trống trời tự nhiên vang
Các trời, rồng, quỷ, thần
Cúng dường đấng Nhân Tôn,
Tất cả các cõi Phật
Tức thời vang động lớn,
佛放眉間光,現諸希有事。此光照東方,萬八千佛土,示一切眾生,生死業報處。有見諸佛土,以眾寶莊嚴,琉璃頗梨色,斯由佛光照。
Phật phóng mi gian quang, hiện chư hy hữu sự. Thử quang chiếu đông phương, vạn bát thiên Phật thổ, thị nhất thiết chúng sinh, sinh tử nghiệp báo xứ. Hữu kiến chư Phật thổ, dĩ chúng bảo trang nghiêm, lưu-ly pha-lê sắc, tư do Phật quang chiếu.
Phật phóng sáng giữa mày
Hiện các việc hy hữu
Ánh sáng chiếu phương Đông
Muôn tám nghìn cõi Phật
Bày sanh tử nghiệp báo
Của tất cả chúng sanh
Lại thấy các cõi Phật
Dùng các báu trang nghiêm
Màu lưu ly, pha lê
Đây bởi Phật quang soi.
及見諸天人、龍神夜叉眾、乾闥緊那羅,各供養其佛。
Cập kiến chư thiên nhân, long thần dạ-xoa chúng, can thát khẩn-na-la, các cúng dường kỳ Phật.
Lại thấy những trời, người
Rồng, thần, chúng Dạ xoa
Càn thát, Khẩn na la
Đều cúng dường Phật mình.
又見諸如來,自然成佛道,身色如金山,端嚴甚微妙。如淨琉璃中,內現真金像,世尊在大眾,敷演深法義。
Hựu kiến chư Như-lai, tự nhiên thành Phật đạo, thân sắc như kim sơn, đoan nghiêm thậm vi diệu. Như tịnh lưu-ly trung, nội hiện chân kim tượng, Thế-tôn tại đại chúng, phu diễn thâm pháp nghĩa.
Lại thấy các Như Lai
Tự nhiên thành Phật đạo,
Màu thân như núi vàng
Đoan nghiêm rất đẹp mầu
Như trong lưu ly sạch
Hiện ra tượng chơn kim
Thế Tôn trong đại chúng
Dạy nói nghĩa thâm diệu.
一一諸佛土,聲聞眾無數,因佛光所照,悉見彼大眾。或有諸比丘,在於山林中,精進持淨戒,猶如護明珠。
Nhất nhất chư Phật thổ, thanh văn chúng vô số, nhân Phật quang sở chiếu, tất kiến bỉ đại chúng. Hoặc hữu chư tỳ-kheo, tại ư sơn lâm trung, tinh tiến trì tịnh giới, do như hộ minh châu.
Mỗi mỗi các cõi Phật
Chúng Thanh văn vô số,
Nhân Phật quang soi sáng
Đều thấy đại chúng kia.
Hoặc có các Tỳ kheo
Ở tại trong núi rừng
Tinh tấn giữ tịnh giới
Dường như gìn châu sáng.
又見諸菩薩,行施忍辱等,其數如恒沙,斯由佛光照。又見諸菩薩,深入諸禪定,身心寂不動,以求無上道。又見諸菩薩,知法寂滅相,各於其國土,說法求佛道。
Hựu kiến chư Bồ-tát, hành thi nhẫn nhục đẳng, kỳ số như hằng sa, tư do Phật quang chiếu. Hựu kiến chư Bồ-tát, thâm nhập chư thiền định, thân tâm tịch bất động, dĩ cầu vô thượng đạo. Hựu kiến chư Bồ-tát, tri pháp tịch diệt tướng, các ư kỳ quốc độ, thuyết pháp cầu Phật đạo.
Lại thấy các Bồ Tát
Bố thí nhẫn nhục thảy
Số đông như hằng sa
(28) Đây bởi sáng Phật soi.
Lại thấy hàng Bồ Tát
Sâu vào các thiền định
Thân tâm lặng chẳng động
Để cầu đạo vô thượng.
Lại thấy các Bồ Tát
Rõ tướng pháp tịch diệt
Đều ở tại nước mình
Nói pháp cầu Phật đạo.
爾時四部眾,見日月燈佛,現大神通力,其心皆歡喜,各各自相問:『是事何因緣?』
Nhĩ thời tứ bộ chúng, kiến Nhật-nguyệt-đăng Phật, hiện đại thần thông lực, kỳ tâm giai hoan hỷ, các các tự tương vấn: ‘Thị sự hà nhân duyên?’
Bấy giờ bốn bộ chúng
Thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng
Hiện sức thần thông lớn
Tâm kia đều vui mừng
Mỗi người tự hỏi nhau
Việc này nhân duyên gì?
天人所奉尊,適從三昧起,讚妙光菩薩:『汝為世間眼,一切所歸信,能奉持法藏,如我所說法,唯汝能證知。』世尊既讚歎,令妙光歡喜,說是法華經,滿六十小劫,不起於此座。所說上妙法,是妙光法師,悉皆能受持。
Thiên nhân sở phụng tôn, thích tùng tam-muội khởi, tán Diệu-quang Bồ-tát: ‘Nhữ vi thế gian nhãn, nhất thiết sở quy tín, năng phụng trì pháp tàng, như ngã sở thuyết pháp, duy nhữ năng chứng tri.’ Thế-tôn ký tán thán, lệnh Diệu-quang hoan hỷ, thuyết thị pháp hoa kinh, mãn lục thập tiểu kiếp, bất khởi ư thử tòa. Sở thuyết thượng diệu pháp, thị Diệu-quang pháp sư, tất giai năng thọ trì.
Đấng của trời người thờ
Vừa từ chánh định dậy
Khen Diệu Quang Bồ Tát
Ông là mắt của đời
Mọi người đều tin về
Hay vâng giữ tạng pháp
Như pháp của ta nói
Chỉ ông chứng biết được
Đức Phật đã ngợi khen
Cho Diệu Quang vui mừng
Liền nói kinh Pháp Hoa
Trải sáu mươi tiểu kiếp
Chẳng rời chỗ ngồi ấy
Ngài Diệu Quang Pháp sư
Trọn đều hay thọ trì
Pháp thượng diệu của Phật.
佛說是法華,令眾歡喜已,尋即於是日,告於天人眾:『諸法實相義,已為汝等說,我今於中夜,當入於涅槃。汝一心精進,當離於放逸,諸佛甚難值,億劫時一遇。』
Phật thuyết thị pháp hoa, lệnh chúng hoan hỷ dĩ, tầm tức ư thị nhật, cáo ư thiên nhân chúng: ‘Chư pháp thực tướng nghĩa, dĩ vi nhữ đẳng thuyết, ngã kim ư trung dạ, đương nhập ư Niết-bàn. Nhữ nhất tâm tinh tiến, đương ly ư phóng dật, chư Phật thậm nan trị, ức kiếp thời nhất ngộ.’
Phật nói kinh Pháp Hoa
Cho chúng vui mừng rồi
Liền chính trong ngày đó
Bảo hàng chúng trời, người
Các pháp “nghĩa thật tướng”
Đã vì các ông nói
Nay ta ở giữa đêm
Sẽ vào cõi Niết bàn
Phải một lòng tinh tấn
Rời các sự buông lung
Các Phật rất khó gặp
Ức kiếp được một lần.
世尊諸子等,聞佛入涅槃,各各懷悲惱,佛滅一何速。聖主法之王,安慰無量眾:『我若滅度時,汝等勿憂怖,是德藏菩薩,於無漏實相,心已得通達。其次當作佛,號曰為淨身,亦度無量眾。』
Thế-tôn chư tử đẳng, văn Phật nhập Niết-bàn, các các hoài bi não, Phật diệt nhất hà tốc. Thánh chủ pháp chi vương, an úy vô lượng chúng: ‘Ngã nhược diệt độ thời, nhữ đẳng vật ưu bố, thị Đức-tạng Bồ-tát, ư vô lậu thực tướng, tâm dĩ đắc thông đạt. Kỳ thứ đương tác Phật, hiệu viết vi Tịnh-thân, diệc độ vô lượng chúng.’
Các con của Phật thảy
Nghe Phật sắp nhập diệt
Thảy đều lòng buồn khổ
Sao Phật gấp Niết bàn?
Đấng Thánh chúa Pháp vương
An ủi vô lượng chúng:
Nếu lúc ta diệt độ
Các ông chớ lo sợ
Đức Tạng Bồ Tát đây
Tâm đã được thông thấu
Nơi vô lậu thiệt tướng
Kế đây sẽ thành Phật
Tên hiệu là Tịnh Thân
Cũng độ vô lượng chúng.
佛此夜滅度,如薪盡火滅,分布諸舍利,而起無量塔。比丘比丘尼,其數如恒沙,倍復加精進,以求無上道。
Phật thử dạ diệt độ, như tân tận hỏa diệt, phân bố chư xá lợi, nhi khởi vô lượng tháp. Tỳ-kheo tỳ-kheo ni, kỳ số như hằng sa, bội phục gia tinh tiến, dĩ cầu vô thượng đạo.
Đêm đó Phật diệt độ
Như củi hết, lửa tắt
Chia phân các xá lợi
Mà xây vô lượng tháp
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni
Số đông như hằng sa
Lại càng thêm tinh tấn
Để cầu đạo vô thượng.
是妙光法師,奉持佛法藏,八十小劫中,廣宣法華經。是諸八王子,妙光所開化,堅固無上道,當見無數佛。供養諸佛已,隨順行大道,相繼得成佛,轉次而授記。最後天中天,號曰燃燈佛,諸仙之導師,度脫無量眾。
Thị Diệu-quang pháp sư, phụng trì Phật pháp tàng, bát thập tiểu kiếp trung, quảng tuyên pháp hoa kinh. Thị chư bát vương tử, Diệu-quang sở khai hóa, kiên cố vô thượng đạo, đương kiến vô số Phật. Cúng dường chư Phật dĩ, tùy thuận hành đại đạo, tương kế đắc thành Phật, chuyển thứ nhi thụ ký. Tối hậu thiên trung thiên, hiệu viết Nhiên-đăng Phật, chư tiên chi đạo sư, độ thoát vô lượng chúng.
Diệu Quang pháp sư ấy
Vâng giữ Phật pháp tạng
Trong tám mươi tiểu kiếp
Rộng nói kinh Pháp Hoa.
Tám vị vương tử đó
Được Diệu Quang dạy bảo
Vững bền đạo vô thượng
Sẽ thấy vô số Phật
Cúng dường các Phật xong
Thuận theo tu đại đạo
Nối nhau đặng thành Phật
Chuyển thứ thọ ký nhau,
Đấng Phật rốt sau cả
Hiệu là: Phật Nhiên Đăng
Đạo Sư (29) của thiên tiên
Độ thoát vô lượng chúng.
是妙光法師,時有一弟子,心常懷懈怠,貪著於名利,求名利無厭,多遊族姓家,棄捨所習誦,廢忘不通利。以是因緣故,號之為求名。亦行眾善業,得見無數佛,供養於諸佛,隨順行大道,具六波羅蜜,今見釋師子。其後當作佛,號名曰彌勒,廣度諸眾生,其數無有量。
Thị Diệu-quang pháp sư, thời hữu nhất đệ tử, tâm thường hoài giải đãi, tham trước ư danh lợi, Cầu-danh lợi vô yếm, đa du tộc tính gia, khí xả sở tập tụng, phế vong bất thông lợi. Dĩ thị nhân duyên cố, hiệu chi vi Cầu-danh. Diệc hành chúng thiện nghiệp, đắc kiến vô số Phật, cúng dường ư chư Phật, tùy thuận hành đại đạo, cụ lục ba-la-mật, kim kiến Thích sư-tử. Kỳ hậu đương tác Phật, hiệu danh viết Di-lặc, quảng độ chư chúng sinh, kỳ số vô hữu lượng.
Diệu Quang Pháp sư đó
Có một người đệ tử
Tâm thường hay biếng trễ
Tham ưa nơi danh lợi
Cầu danh lợi không nhàm
Thường đến nhà sang giàu
Rời bỏ việc tụng học
Bỏ quên không thông thuộc
Vì bởi nhân duyên ấy
Nên gọi là Cầu Danh
Cũng tu các nghiệp lành
Được thấy vô số Phật
Cúng dường các đức Phật
Thuận theo tu đại đạo
Đủ sáu ba la mật
Nay gặp đấng Thích Ca
Sau đây sẽ thành Phật
Hiệu là: Phật Di Lặc
Rộng độ khắp chúng sanh
Số đông đến vô lượng.
彼佛滅度後,懈怠者汝是;妙光法師者,今則我身是。我見燈明佛,本光瑞如此,以是知今佛,欲說法華經。今相如本瑞,是諸佛方便,今佛放光明,助發實相義。諸人今當知,合掌一心待,佛當雨法雨,充足求道者。諸求三乘人,若有疑悔者,佛當為除斷,令盡無有餘。」
Bỉ Phật diệt độ hậu, giải đãi giả nhữ thị; Diệu-quang pháp sư giả, kim tắc ngã thân thị. Ngã kiến đăng minh Phật, bản quang thụy như thử, dĩ thị tri kim Phật, dục thuyết pháp hoa kinh. Kim tướng như bản thụy, thị chư Phật phương tiện, kim Phật phóng quang minh, trợ phát thực tướng nghĩa. Chư nhân kim đương tri, hợp chưởng nhất tâm đãi, Phật đương vũ pháp vũ, sung túc cầu đạo giả. Chư cầu tam thừa nhân, nhược hữu nghi hối giả, Phật đương vi trừ đoạn, lệnh tận vô hữu dư.”
Sau Phật kia diệt độ
Lười biếng đó là ngài
Còn Diệu Quang Pháp sư
Nay thời chính là ta.
Ta thấy Phật Đăng Minh
Điềm sáng trước như thế
Cho nên biết rằng nay
Phật muốn nói “Pháp Hoa”
Tướng nay như điềm xưa.
Là phương tiện của Phật
Nay Phật phóng ánh sáng
Giúp bày nghĩa thiệt tướng
Các người nay nên biết
Chắp tay một lòng chờ
Phật sẽ rưới nước pháp
Đầy đủ người cầu đạo
Các người cầu ba thừa
(30) Nếu có chỗ nghi hối
Phật sẽ dứt trừ cho
Khiến hết không còn thừa.
PHẨM “PHƯƠNG TIỆN” THỨ HAI
妙法蓮華經方便品第二
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh phương tiện phẩm đệ nhị
PHẨM “PHƯƠNG TIỆN” (31) THỨ HAI
爾時,世尊從三昧安詳而起,告舍利弗:「諸佛智慧甚深無量,其智慧門難解難入,一切聲聞、辟支佛所不能知。所以者何?佛曾親近百千萬億無數諸佛,盡行諸佛無量道法,勇猛精進名稱普聞,成就甚深未曾有法,隨宜所說意趣難解。舍利弗!吾從成佛已來,種種因緣,種種譬喻,廣演言教無數方便,引導眾生令離諸著。所以者何?如來方便知見波羅蜜皆已具足。舍利弗!如來知見,廣大深遠,無量無礙,力、無所畏、禪定、解脫三昧,深入無際,成就一切未曾有法。舍利弗!如來能種種分別,巧說諸法,言辭柔軟,悅可眾心。舍利弗!取要言之,無量無邊未曾有法,佛悉成就。
Nhĩ thời, Thế-tôn tùng tam-muội an tường nhi khởi, cáo Xá-lợi-phất: “Chư Phật trí tuệ thậm thâm vô lượng, kỳ trí tuệ môn nan giải nan nhập, nhất thiết thanh văn, Bích-chi Phật sở bất năng tri. Sở dĩ giả hà? Phật tằng thân cận bách thiên vạn ức vô số chư Phật, tận hành chư Phật vô lượng đạo pháp, dũng mãnh tinh tiến danh xưng phổ văn, thành tựu thậm thâm vị tằng hữu pháp, tùy nghi sở thuyết ý thú nan giải. Xá-lợi-phất! Ngô tùng thành Phật dĩ lai, chủng chủng nhân duyên, chủng chủng thí dụ, quảng diễn ngôn giáo vô số phương tiện, dẫn đạo chúng sinh lệnh ly chư trước. Sở dĩ giả hà? Như-lai phương tiện tri kiến ba-la-mật giai dĩ cụ túc. Xá-lợi-phất! Như-lai tri kiến, quảng đại thâm viễn, vô lượng vô ngại, lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam-muội, thâm nhập vô tế, thành tựu nhất thiết vị tằng hữu pháp. Xá-lợi-phất! Như-lai năng chủng chủng phân biệt, xảo thuyết chư pháp, ngôn từ nhu nhuyễn, duyệt khả chúng tâm. Xá-lợi-phất! Thủ yếu ngôn chi, vô lượng vô biên vị tằng hữu pháp, Phật tất thành tựu.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá Lợi Phất: “Trí huệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh văn cùng Bích chi Phật đều không biết được. Vì sao? Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức, vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu. Xá Lợi Phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các thứ thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba la mật. Xá Lợi Phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô ngại lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có. Xá Lợi Phất! Như Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng. Xá Lợi Phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên.
「止,舍利弗!不須復說。所以者何?佛所成就第一希有難解之法。唯佛與佛乃能究盡諸法實相,所謂諸法如是相,如是性,如是體,如是力,如是作,如是因,如是緣,如是果,如是報,如是本末究竟等。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Chỉ, Xá-lợi-phất! Bất tu phục thuyết. Sở dĩ giả hà? Phật sở thành tựu đệ nhất hy hữu nan giải chi pháp. Duy Phật dữ Phật nãi năng cứu tận chư pháp thực tướng, sở vị chư pháp như thị tướng, như thị tính, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh đẳng.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Thôi Xá Lợi Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:
「世雄不可量,諸天及世人,一切眾生類,無能知佛者。佛力無所畏、解脫諸三昧,及佛諸餘法,無能測量者。本從無數佛,具足行諸道,甚深微妙法,難見難可了。於無量億劫,行此諸道已,道場得成果,我已悉知見。如是大果報,種種性相義,我及十方佛,乃能知是事。
“Thế hùng bất khả lượng, chư thiên cập thế nhân, nhất thiết chúng sinh loại, vô năng tri Phật giả. Phật lực vô sở úy, giải thoát chư tam-muội, cập Phật chư dư pháp, vô năng trắc lượng giả. Bản tùng vô số Phật, cụ túc hành chư đạo, thậm thâm vi diệu pháp, nan kiến nan khả liễu. Ư vô lượng ức kiếp, hành thử chư đạo dĩ, đạo tràng đắc thành quả, ngã dĩ tất tri kiến. Như thị đại quả báo, chủng chủng tính tướng nghĩa, ngã cập thập phương Phật, nãi năng tri thị sự.
Đấng Thế Hùng khó lường
Các trời cùng người đời
Tất cả loài chúng sanh
Không ai hiểu được Phật
Trí lực, vô sở úy
Giải thoát các tam muội
Các pháp khác của Phật
Không ai so lường được
Vốn từ vô số Phật
Đầy đủ tu các đạo
Pháp nhiệm mầu rất sâu
Khó thấy khó rõ được
Trong vô lượng ức kiếp
Tu các đạo đó rồi
Đạo tràng được chứng quả
Ta đều đã thấy biết
Quả báo lớn như vậy
Các món tánh tướng nghĩa
Ta cùng mười phương Phật
Mới biết được việc đó.
是法不可示,言辭相寂滅,諸餘眾生類,無有能得解,除諸菩薩眾、信力堅固者。諸佛弟子眾,曾供養諸佛,一切漏已盡,住是最後身,如是諸人等,其力所不堪。假使滿世間,皆如舍利弗,盡思共度量,不能測佛智。正使滿十方,皆如舍利弗,及餘諸弟子,亦滿十方剎,盡思共度量,亦復不能知。辟支佛利智,無漏最後身,亦滿十方界,其數如竹林,斯等共一心,於億無量劫,欲思佛實智,莫能知少分。新發意菩薩,供養無數佛,了達諸義趣,又能善說法,如稻麻竹葦,充滿十方剎,一心以妙智,於恒河沙劫,咸皆共思量,不能知佛智。不退諸菩薩,其數如恒沙,一心共思求,亦復不能知。
Thị pháp bất khả thị, ngôn từ tướng tịch diệt, chư dư chúng sinh loại, vô hữu năng đắc giải, trừ chư Bồ-tát chúng, tín lực kiên cố giả. Chư Phật đệ tử chúng, tằng cúng dường chư Phật, nhất thiết lậu dĩ tận, trụ thị tối hậu thân, như thị chư nhân đẳng, kỳ lực sở bất kham. Giả sử mãn thế gian, giai như Xá-lợi-phất, tận tư cộng độ lượng, bất năng trắc Phật trí. Chính sử mãn thập phương, giai như Xá-lợi-phất, cập dư chư đệ tử, diệc mãn thập phương sát, tận tư cộng độ lượng, diệc phục bất năng tri. Bích-chi Phật lợi trí, vô lậu tối hậu thân, diệc mãn thập phương giới, kỳ số như trúc lâm, tư đẳng cộng nhất tâm, ư ức vô lượng kiếp, dục tư Phật thực trí, mạc năng tri thiểu phân. Tân phát ý Bồ-tát, cúng dường vô số Phật, liễu đạt chư nghĩa thú, hựu năng thiện thuyết pháp, như đạo ma trúc vĩ, sung mãn thập phương sát, nhất tâm dĩ diệu trí, ư hằng hà sa kiếp, hàm giai cộng tư lượng, bất năng tri Phật trí. Bất thoái chư Bồ-tát, kỳ số như hằng sa, nhất tâm cộng tư cầu, diệc phục bất năng tri.
Pháp đó không chỉ được
Vắng bặt tướng nói năng
Các loài chúng sanh khác
Không có ai hiểu được
Trừ các chúng Bồ Tát
Người sức tin bền chặt
Các hàng đệ tử Phật
Từng cúng dường các Phật
Tất cả lậu đã hết
Trụ thân rốt sau này
Các hạng người vậy thảy
Sức họ không kham được,
Giả sử đầy thế gian
Đều như Xá Lợi Phất
Cùng suy chung so lường
Chẳng lường được Phật trí
Chính sử khắp mười phương
Đều như Xá Lợi Phất
Và các đệ tử khác
Cũng đầy mười phương cõi
Cùng suy chung so lường
Cũng lại chẳng biết được.
Bậc Duyên giác trí lành
Vô lậu thân rốt sau
Cũng đầy mười phương cõi
Số đông như rừng tre,
Hạng này chung một lòng
Trong vô lượng ức kiếp
Muốn xét Phật thật trí
Chẳng biết được chút phần.
Bồ Tát mới phát tâm
Cúng dường vô số Phật
Rõ thấu các nghĩa thú
Lại hay khéo nói pháp
Như lúa, mè, tre, lau
Đông đầy mười phương cõi
Một lòng dùng trí mầu
Trải số kiếp hằng sa
Thảy đều chung suy lường
Chẳng biết được trí Phật
Hàng bất thối Bồ Tát
Số đông như hằng sa
Một lòng chung suy cầu
Cũng lại chẳng hiểu được.
又告舍利弗:『無漏不思議,甚深微妙法,我今已具得,唯我知是相,十方佛亦然。舍利弗當知,諸佛語無異,於佛所說法,當生大信力,世尊法久後,要當說真實。』告諸聲聞眾,及求緣覺乘:『我令脫苦縛,逮得涅槃者。』佛以方便力,示以三乘教,眾生處處著,引之令得出。」
Hựu cáo Xá-lợi-phất: ‘Vô lậu bất tư nghị, thậm thâm vi diệu pháp, ngã kim dĩ cụ đắc, duy ngã tri thị tướng, thập phương Phật diệc nhiên. Xá-lợi-phất đương tri, chư Phật ngữ vô dị, ư Phật sở thuyết pháp, đương sinh đại tín lực, Thế-tôn pháp cửu hậu, yếu đương thuyết chân thực.’ Cáo chư thanh văn chúng, cập cầu duyên giác thừa: ‘Ngã lệnh thoát khổ phược, đãi đắc Niết-bàn giả.’ Phật dĩ phương tiện lực, thị dĩ tam thừa giáo, chúng sinh xứ xứ trước, dẫn chi lệnh đắc xuất.”
Lại bảo Xá Lợi Phất
Pháp nhiệm mầu rất sâu
Vô lậu khó nghĩ bàn
Nay ta đã được đủ
Chỉ ta biết tướng đó
Mười phương Phật cũng vậy,
Xá Lợi Phất phải biết
Lời Phật nói không khác
Với Pháp của Phật nói
Nên sanh sức tin chắc
Pháp của Phật lâu sau
Cần phải nói chân thật
Bảo các chúng Thanh văn
Cùng người cầu Duyên giác
Ta khiến cho thoát khổ
Đến chứng được Niết bàn
Phật dùng sức phương tiện
Dạy cho ba thừa giáo
Chúng sanh nơi nơi chấp
Dắt đó khiến ra khỏi.
爾時大眾中,有諸聲聞漏盡阿羅漢,阿若憍陳如等千二百人,及發聲聞、辟支佛心比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,各作是念:「今者、世尊何故慇懃稱歎方便而作是言:『佛所得法甚深難解,有所言說意趣難知,一切聲聞、辟支佛所不能及。』佛說一解脫義,我等亦得此法到於涅槃,而今不知是義所趣?」
Nhĩ thời đại chúng trung, hữu chư thanh văn lậu tận A-la-hán, A-nhã Kiều-trần-như đẳng thiên nhị bách nhân, cập phát thanh văn, Bích-chi Phật tâm tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, các tác thị niệm: “Kim giả, Thế-tôn hà cố ân cần xưng thán phương tiện nhi tác thị ngôn: ‘Phật sở đắc pháp thậm thâm nan giải, hữu sở ngôn thuyết ý thú nan tri, nhất thiết thanh văn, Bích-chi Phật sở bất năng cập.’ Phật thuyết nhất giải thoát nghĩa, ngã đẳng diệc đắc thử pháp đáo ư Niết-bàn, nhi kim bất tri thị nghĩa sở thú?”
Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh văn lậu tận A la hán, ngài A Nhã Kiều Trần Như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cùng cận sự nữ, hạng người phát tâm Thanh văn, Duyên giác đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: “Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được”. Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu?
爾時舍利弗知四眾心疑,自亦未了,而白佛言:「世尊!何因何緣慇懃稱歎諸佛第一方便、甚深微妙、難解之法?我自昔來,未曾從佛聞如是說;今者四眾咸皆有疑。唯願世尊敷演斯事。世尊何故慇懃稱歎甚深微妙難解之法?」爾時舍利弗欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Xá-lợi-phất tri tứ chúng tâm nghi, tự diệc vị liễu, nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Hà nhân hà duyên ân cần xưng thán chư Phật đệ nhất phương tiện, thậm thâm vi diệu, nan giải chi pháp? Ngã tự tích lai, vị tằng tùng Phật văn như thị thuyết; kim giả tứ chúng hàm giai hữu nghi. Duy nguyện Thế-tôn phu diễn tư sự. Thế-tôn hà cố ân cần xưng thán thậm thâm vi diệu nan giải chi pháp?” Nhĩ thời Xá-lợi-phất dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc ấy, ngài Xá Lợi Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật? Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu?” Khi đó ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「慧日大聖尊,久乃說是法,自說得如是,力無畏三昧、禪定解脫等,不可思議法。道場所得法,無能發問者;我意難可測,亦無能問者。無問而自說,稱歎所行道,智慧甚微妙,諸佛之所得。無漏諸羅漢,及求涅槃者,今皆墮疑網,佛何故說是?其求緣覺者,比丘比丘尼,諸天龍鬼神,及乾闥婆等,相視懷猶豫,瞻仰兩足尊,是事為云何,願佛為解說。於諸聲聞眾,佛說我第一。我今自於智,疑惑不能了,為是究竟法?為是所行道?佛口所生子,合掌瞻仰待,願出微妙音,時為如實說。諸天龍神等,其數如恒沙,求佛諸菩薩,大數有八萬,又諸萬億國,轉輪聖王至,合掌以敬心,欲聞具足道。」
“Tuệ nhật đại thánh tôn, cửu nãi thuyết thị pháp, tự thuyết đắc như thị, lực vô úy tam-muội, thiền định giải thoát đẳng, bất khả tư nghị pháp. Đạo tràng sở đắc pháp, vô năng phát vấn giả; ngã ý nan khả trắc, diệc vô năng vấn giả. Vô vấn nhi tự thuyết, xưng thán sở hành đạo, trí tuệ thậm vi diệu, chư Phật chi sở đắc. Vô lậu chư la hán, cập cầu Niết-bàn giả, kim giai đọa nghi võng, Phật hà cố thuyết thị? Kỳ cầu duyên giác giả, tỳ-kheo tỳ-kheo ni, chư thiên long quỷ thần, cập càn-thát-bà đẳng, tương thị hoài do dự, chiêm ngưỡng lưỡng túc tôn, thị sự vi vân hà, nguyện Phật vi giải thuyết. Ư chư thanh văn chúng, Phật thuyết ngã đệ nhất. Ngã kim tự ư trí, nghi hoặc bất năng liễu, vi thị cứu cánh pháp? Vi thị sở hành đạo? Phật khẩu sở sinh tử, hợp chưởng chiêm ngưỡng đãi, nguyện xuất vi diệu âm, thời vi như thực thuyết. Chư thiên long thần đẳng, kỳ số như hằng sa, cầu Phật chư Bồ-tát, đại số hữu bát vạn, hựu chư vạn ức quốc, chuyển luân thánh vương chí, hợp chưởng dĩ kính tâm, dục văn cụ túc đạo.”
Đấng Huệ Nhật Đại thánh
Lâu mới nói pháp này,
Tự nói pháp mình chứng
Lực, vô úy, tam muội,
Thiền định, giải thoát thảy
Đều chẳng nghĩ bàn được.
Pháp chứng nơi đạo tràng
Không ai hỏi đến được,
Ý con khó lường được
Cũng không ai hay hỏi.
Không hỏi mà tự nói
Khen ngợi đạo mình làm
Các đức Phật chứng được
Trí huệ rất nhiệm mầu.
Hàng vô lậu La hán
Cùng người cầu Niết bàn
Nay đều sa lưới nghi
Phật cớ chi nói thế?
Hạng người cầu Duyên giác.
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni,
Các trời, rồng, quỷ, thần
Và Càn thát bà thảy
Ngó nhau mang lòng nghi
Nhìn trông đấng Túc Tôn,
Việc đó là thế nào
Xin Phật vì dạy cho?
Trong các chúng Thanh văn
Phật nói con hạng nhất
Nay con nơi trí mình
Nghi lầm không rõ được
Vì là pháp rốt ráo
Vì là đạo Phật làm
Con từ miệng Phật sanh
Chắp tay nhìn trông chờ
Xin ban tiếng nhiệm mầu
Liền vì nói như thật
Các trời, rồng, thần thảy
Số đông như hằng sa
Bồ Tát cầu thành Phật
Số nhiều có tám muôn
Lại những muôn ức nước
Vua Chuyển Luân vương đến
Đều lòng kính chắp tay
Muốn nghe đạo đầy đủ.
爾時佛告舍利弗:「止,止!不須復說。若說是事,一切世間諸天及人皆當驚疑。」
Nhĩ thời Phật cáo Xá-lợi-phất: “Chỉ, chỉ! Bất tu phục thuyết. Nhược thuyết thị sự, nhất thiết thế gian chư thiên cập nhân giai đương kinh nghi.”
Khi đó đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ”.
舍利弗重白佛言:「世尊,唯願說之,唯願說之!所以者何?是會無數百千萬億阿僧祇眾生,曾見諸佛,諸根猛利,智慧明了,聞佛所說,則能敬信。」爾時舍利弗欲重宣此義,而說偈言:「法王無上尊,唯說願勿慮。是會無量眾,有能敬信者。」
Xá-lợi-phất trùng bạch Phật ngôn: “Thế-tôn, duy nguyện thuyết chi, duy nguyện thuyết chi! Sở dĩ giả hà? Thị hội vô số bách thiên vạn ức a tăng-kỳ chúng sinh, tằng kiến chư Phật, chư căn mãnh lợi, trí tuệ minh liễu, văn Phật sở thuyết, tắc năng kính tín.” Nhĩ thời Xá-lợi-phất dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “Pháp vương vô thượng tôn, duy thuyết nguyện vật lự. Thị hội vô lượng chúng, hữu năng kính tín giả.”
Ngài Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ chúng sanh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí huệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin”. Lúc ấy, ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Đấng Pháp Vương vô thượng
Xin nói nguyện đừng lo
Vô lượng chúng hội đây
Có người hay kính tin.
佛復止舍利弗:「若說是事,一切世間天、人、阿修羅皆當驚疑,增上慢比丘將墜於大坑。」爾時世尊重說偈言:「止止不須說,我法妙難思。諸增上慢者,聞必不敬信。」
Phật phục chỉ Xá-lợi-phất: “Nhược thuyết thị sự, nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la giai đương kinh nghi, tăng thượng mạn tỳ-kheo tương trụy ư đại khanh.” Nhĩ thời Thế-tôn trùng thuyết kệ ngôn: “Chỉ chỉ bất tu thuyết, ngã pháp diệu nan tư. Chư tăng thượng mạn giả, văn tất bất kính tín.”
Đức Phật lại ngăn Xá Lợi Phất: “Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A tu la đều sẽ nghi sợ, Tỳ kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn”. Khi đó đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Thôi thôi! Chẳng nên nói
Pháp ta diệu khó nghĩ
Những kẻ tăng thượng mạn
Nghe ắt không kính tin.
爾時舍利弗重白佛言:「世尊!唯願說之,唯願說之!今此會中,如我等比百千萬億,世世已曾從佛受化。如此人等,必能敬信,長夜安隱,多所饒益。」爾時舍利弗欲重宣此義,而說偈言:「無上兩足尊,願說第一法,我為佛長子,唯垂分別說。是會無量眾,能敬信此法,佛已曾世世,教化如是等,皆一心合掌,欲聽受佛語。我等千二百,及餘求佛者,願為此眾故,唯垂分別說。是等聞此法,則生大歡喜。」
Nhĩ thời Xá-lợi-phất trùng bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Duy nguyện thuyết chi, duy nguyện thuyết chi! Kim thử hội trung, như ngã đẳng tỷ bách thiên vạn ức, thế thế dĩ tằng tùng Phật thọ hóa. Như thử nhân đẳng, tất năng kính tín, trường dạ an ẩn, đa sở nhiêu ích.” Nhĩ thời Xá-lợi-phất dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “Vô thượng lưỡng túc tôn, nguyện thuyết đệ nhất pháp, ngã vi Phật trưởng tử, duy thùy phân biệt thuyết. Thị hội vô lượng chúng, năng kính tín thử pháp, Phật dĩ tằng thế thế, giáo hóa như thị đẳng, giai nhất tâm hợp chưởng, dục thính thọ Phật ngữ. Ngã đẳng thiên nhị bách, cập dư cầu Phật giả, nguyện vi thử chúng cố, duy thùy phân biệt thuyết. Thị đẳng văn thử pháp, tắc sinh đại hoan hỷ.”
Lúc ấy ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Cúi xin Phật nói, cúi xin Phật nói. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích”. Khi đó ngài Xá Lợi Phất, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Đấng vô thượng Lưỡng túc
Xin nói pháp đệ nhất
Con là trưởng tử Phật
Xin thương phân biệt nói.
Vô lượng chúng hội đây
Hay kính tin pháp này
Đời đời Phật đã từng
Giáo hóa chúng như thế
Đều một lòng chắp tay
Muốn nghe lãnh lời Phật.
Chúng con nghìn hai trăm
Cùng hạng cầu Phật nọ
Nguyện Phật vì chúng này
Cúi xin phân biệt nói
Chúng đây nghe pháp ấy
Thời sanh lòng vui mừng.
爾時世尊告舍利弗:「汝已慇懃三請,豈得不說。汝今諦聽,善思念之,吾當為汝分別解說。」
Nhĩ thời Thế-tôn cáo Xá-lợi-phất: “Nhữ dĩ ân cần tam thỉnh, khởi đắc bất thuyết. Nhữ kim đế thính, thiện tư niệm chi, ngô đương vi nhữ phân biệt giải thuyết.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Xá Lợi Phất: “Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói, ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói”.
說此語時,會中有比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷五千人等,即從座起,禮佛而退。所以者何?此輩罪根深重及增上慢,未得謂得、未證謂證,有如此失,是以不住。世尊默然而不制止。
Thuyết thử ngữ thời, hội trung hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di ngũ thiên nhân đẳng, tức tùng tòa khởi, lễ Phật nhi thoái. Sở dĩ giả hà? Thử bối tội căn thâm trọng cập tăng thượng mạn, vị đắc vị đắc, vị chứng vị chứng, hữu như thử thất, thị dĩ bất trụ. Thế-tôn mặc nhiên nhi bất Chế Chỉ.
Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, cả thảy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng thượng mạng, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà cho đã chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản.
爾時佛告舍利弗:「我今此眾,無復枝葉,純有貞實。舍利弗!如是增上慢人,退亦佳矣。汝今善聽,當為汝說。」舍利弗言:「唯然,世尊!願樂欲聞。」
Nhĩ thời Phật cáo Xá-lợi-phất: “Ngã kim thử chúng, vô phục chi diệp, thuần hữu trinh thực. Xá-lợi-phất! Như thị tăng thượng mạn nhân, thoái diệc giai hĩ. Nhữ kim thiện thính, đương vi nhữ thuyết.” Xá-lợi-phất ngôn: “Duy nhiên, Thế-tôn! Nguyện nhạo dục văn.”
Bấy giờ, Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá Lợi Phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói”. Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng: “Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện thích muốn nghe”.
佛告舍利弗:「如是妙法,諸佛如來時乃說之,如優曇鉢華,時一現耳。舍利弗!汝等當信佛之所說,言不虛妄。
Phật cáo Xá-lợi-phất: “Như thị diệu pháp, chư Phật Như-lai thời nãi thuyết chi, như ưu-đàm-bát hoa, thời nhất hiện nhĩ. Xá-lợi-phất! Nhữ đẳng đương tín Phật chi sở thuyết, ngôn bất hư vọng.
Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Pháp mầu như thế, các đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói, đó như hoa linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá Lợi Phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.
舍利弗!諸佛隨宜說法,意趣難解。所以者何?我以無數方便,種種因緣、譬喻言辭,演說諸法。是法非思量分別之所能解,唯有諸佛乃能知之。所以者何?諸佛世尊唯以一大事因緣故出現於世。舍利弗!云何名諸佛世尊唯以一大事因緣故出現於世?諸佛世尊,欲令眾生開佛知見,使得清淨故,出現於世;欲示眾生佛之知見故,出現於世;欲令眾生悟佛知見故,出現於世;欲令眾生入佛知見道故,出現於世。舍利弗!是為諸佛以一大事因緣故出現於世。」
Xá-lợi-phất! Chư Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú nan giải. Sở dĩ giả hà? Ngã dĩ vô số phương tiện, chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, diễn thuyết chư pháp. Thị pháp phi tư lượng phân biệt chi sở năng giải, duy hữu chư Phật nãi năng tri chi. Sở dĩ giả hà? Chư Phật Thế-tôn duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế. Xá-lợi-phất! Vân hà danh chư Phật Thế-tôn duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế? Chư Phật Thế-tôn, dục lệnh chúng sinh khai Phật tri kiến, sử đắc thanh tịnh cố, xuất hiện ư thế; dục thị chúng sinh Phật chi tri kiến cố, xuất hiện ư thế; dục lệnh chúng sinh ngộ Phật tri kiến cố, xuất hiện ư thế; dục lệnh chúng sinh nhập Phật tri kiến đạo cố, xuất hiện ư thế. Xá-lợi-phất! Thị vi chư Phật dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế.”
Xá Lợi Phất! Các đức Phật theo thời nghi nói Pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời. Xá Lợi Phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời. Xá Lợi Phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời”.
佛告舍利弗:「諸佛如來但教化菩薩,諸有所作,常為一事,唯以佛之知見示悟眾生。
Phật cáo Xá-lợi-phất: “Chư Phật Như-lai đãn giáo hóa Bồ-tát, chư hữu sở tác, thường vi nhất sự, duy dĩ Phật chi tri kiến thị ngộ chúng sinh.
Đức Phật bảo Xá Lợi Phất: “Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, những điều làm ra thường vì một việc: chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi”.
舍利弗!如來但以一佛乘故,為眾生說法,無有餘乘,若二、若三。
Xá-lợi-phất! Như-lai đãn dĩ nhất Phật thừa cố, vi chúng sinh thuyết pháp, vô hữu dư thừa, nhược nhị, nhược tam.
Xá Lợi Phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.
舍利弗!一切十方諸佛,法亦如是。
Xá-lợi-phất! Nhất thiết thập phương chư Phật, pháp diệc như thị.
Xá Lợi Phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.
「舍利弗!過去諸佛,以無量無數方便,種種因緣、譬喻言辭,而為眾生演說諸法,是法皆為一佛乘故。是諸眾生從諸佛聞法,究竟皆得一切種智。
“Xá-lợi-phất! Quá khứ chư Phật, dĩ vô lượng vô số phương tiện, chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, nhi vi chúng sinh diễn thuyết chư pháp, thị pháp giai vi nhất Phật thừa cố. Thị chư chúng sinh tùng chư Phật văn pháp, cứu cánh giai đắc nhất thiết chủng trí.
Xá Lợi Phất! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt thiết chủng trí”.
「舍利弗!未來諸佛當出於世,亦以無量無數方便,種種因緣、譬喻言辭,而為眾生演說諸法,是法皆為一佛乘故。是諸眾生從佛聞法,究竟皆得一切種智。
“Xá-lợi-phất! Vị lai chư Phật đương xuất ư thế, diệc dĩ vô lượng vô số phương tiện, chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, nhi vi chúng sinh diễn thuyết chư pháp, thị pháp giai vi nhất Phật thừa cố. Thị chư chúng sinh tùng Phật văn pháp, cứu cánh giai đắc nhất thiết chủng trí.
Xá Lợi Phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt thiết chủng trí”.
「舍利弗!現在十方無量百千萬億佛土中,諸佛世尊多所饒益安樂眾生,是諸佛亦以無量無數方便,種種因緣、譬喻言辭,而為眾生演說諸法,是法皆為一佛乘故。是諸眾生從佛聞法,究竟皆得一切種智。
“Xá-lợi-phất! Hiện tại thập phương vô lượng bách thiên vạn ức Phật thổ trung, chư Phật Thế-tôn đa sở nhiêu ích an lạc chúng sinh, thị chư Phật diệc dĩ vô lượng vô số phương tiện, chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, nhi vi chúng sinh diễn thuyết chư pháp, thị pháp giai vi nhất Phật thừa cố. Thị chư chúng sinh tùng Phật văn pháp, cứu cánh giai đắc nhất thiết chủng trí.
Xá Lợi Phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt thiết chủng trí”.
「舍利弗!是諸佛但教化菩薩,欲以佛之知見示眾生故,欲以佛之知見悟眾生故,欲令眾生入佛之知見故。
“Xá-lợi-phất! Thị chư Phật đãn giáo hóa Bồ-tát, dục dĩ Phật chi tri kiến thị chúng sinh cố, dục dĩ Phật chi tri kiến ngộ chúng sinh cố, dục lệnh chúng sinh nhập Phật chi tri kiến cố.
Xá Lợi Phất! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ Tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào tri kiến Phật vậy.
「舍利弗!我今亦復如是,知諸眾生有種種欲,深心所著,隨其本性,以種種因緣、譬喻言辭,方便力而為說法。
“Xá-lợi-phất! Ngã kim diệc phục như thị, tri chư chúng sinh hữu chủng chủng dục, thâm tâm sở trước, tùy kỳ bản tính, dĩ chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, phương tiện lực nhi vi thuyết pháp.
Xá Lợi Phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tánh kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.
舍利弗!如此皆為得一佛乘、一切種智故。
Xá-lợi-phất! Như thử giai vi đắc nhất Phật thừa, nhất thiết chủng trí cố.
Xá Lợi Phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa “nhứt thiết chủng trí”.
「舍利弗!十方世界中,尚無二乘,何況有三。舍利弗!諸佛出於五濁惡世,所謂劫濁、煩惱濁、眾生濁、見濁、命濁。如是,舍利弗!劫濁亂時,眾生垢重,慳貪嫉妬,成就諸不善根故,諸佛以方便力,於一佛乘分別說三。
“Xá-lợi-phất! Thập phương thế giới trung, thượng vô nhị thừa, hà huống hữu tam. Xá-lợi-phất! Chư Phật xuất ư ngũ trọc ác thế, sở vị kiếp trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc, kiến trọc, mệnh trọc. Như thị, Xá-lợi-phất! Kiếp trọc loạn thời, chúng sinh cấu trọng, khan tham tật đố, thành tựu chư bất thiện căn cố, chư Phật dĩ phương tiện lực, ư nhất Phật thừa phân biệt thuyết tam.
Xá Lợi Phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba! Xá Lợi Phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: Kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế, Xá Lợi Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sanh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.
舍利弗!若我弟子,自謂阿羅漢、辟支佛者,不聞不知諸佛如來但教化菩薩事,此非佛弟子,非阿羅漢,非辟支佛。「又,舍利弗!是諸比丘、比丘尼,自謂已得阿羅漢,是最後身,究竟涅槃,便不復志求阿耨多羅三藐三菩提,當知此輩皆是增上慢人。所以者何。若有比丘實得阿羅漢,若不信此法,無有是處。除佛滅度後,現前無佛。所以者何?佛滅度後,如是等經受持讀誦解義者,是人難得。若遇餘佛,於此法中便得決了。舍利弗!汝等當一心信解受持佛語。諸佛如來言無虛妄,無有餘乘,唯一佛乘。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Xá-lợi-phất! Nhược ngã đệ tử, tự vị A-la-hán, Bích-chi Phật giả, bất văn bất tri chư Phật Như-lai đãn giáo hóa Bồ-tát sự, thử phi Phật đệ tử, phi A-la-hán, phi Bích-chi Phật. “Hựu, Xá-lợi-phất! Thị chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, tự vị dĩ đắc A-la-hán, thị tối hậu thân, cứu cánh Niết-bàn, tiện bất phục chí cầu a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đương tri thử bối giai thị tăng thượng mạn nhân. Sở dĩ giả hà. Nhược hữu tỳ-kheo thực đắc A-la-hán, nhược bất tín thử pháp, vô hữu thị xứ. Trừ Phật diệt độ hậu, hiện tiền vô Phật. Sở dĩ giả hà? Phật diệt độ hậu, như thị đẳng kinh thọ trì độc tụng giải nghĩa giả, thị nhân nan đắc. Nhược ngộ dư Phật, ư thử pháp trung tiện đắc quyết liễu. Xá-lợi-phất! Nhữ đẳng đương nhất tâm tín giải thọ trì Phật ngữ. Chư Phật Như-lai ngôn vô hư vọng, vô hữu dư thừa, duy nhất Phật thừa.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Xá Lợi Phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A la hán cùng Duyên giác mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A la hán, chẳng phải Duyên giác. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đó tự cho mình đã được A la hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ kheo thực chứng quả A la hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ. Xá Lợi Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi. Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
「比丘比丘尼,有懷增上慢,優婆塞我慢,優婆夷不信,如是四眾等,其數有五千,不自見其過,於戒有缺漏,護惜其瑕疵。是小智已出,眾中之糟糠,佛威德故去,斯人尠福德,不堪受是法。此眾無枝葉,唯有諸貞實。
“Tỳ-kheo tỳ-kheo ni, hữu hoài tăng thượng mạn, ưu-bà-tắc ngã mạn, ưu-bà-di bất tín, như thị tứ chúng đẳng, kỳ số hữu ngũ thiên, bất tự kiến kỳ quá, ư giới hữu khuyết lậu, hộ tích kỳ hà tỳ. Thị tiểu trí dĩ xuất, chúng trung chi tao khang, Phật uy đức cố khứ, tư nhân tiển phúc đức, bất kham thọ thị pháp. Thử chúng vô chi diệp, duy hữu chư trinh thực.
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni
Mang lòng tăng thượng mạng
Cận sự nam ngã mạn
Cận sự nữ chẳng tin,
Hàng bốn chúng như thế
Số kia có năm nghìn
Chẳng tự thấy lỗi mình
Nơi giới có thiếu sót
Tiếc giữ tội quấy mình
Trí nhỏ đó đã ra,
Bọn cám tấm trong chúng
Oai đức Phật phải đi,
Gã đó kém phước đức
Chẳng kham lãnh pháp này,
Chúng nay không cành lá
Chỉ có những hột chắc
舍利弗善聽!諸佛所得法,無量方便力,而為眾生說。眾生心所念,種種所行道,若干諸欲性,先世善惡業。佛悉知是已,以諸緣譬喻、言辭方便力,令一切歡喜。或說修多羅、伽陀及本事、本生未曾有,亦說於因緣、譬喻并祇夜、優波提舍經。鈍根樂小法,貪著於生死,於諸無量佛,不行深妙道,眾苦所惱亂,為是說涅槃。我設是方便,令得入佛慧,未曾說汝等,當得成佛道。所以未曾說,說時未至故,今正是其時,決定說大乘。
Xá-lợi-phất thiện thính! Chư Phật sở đắc pháp, vô lượng phương tiện lực, nhi vi chúng sinh thuyết. Chúng sinh tâm sở niệm, chủng chủng sở hành đạo, nhược can chư dục tính, tiên thế thiện ác nghiệp. Phật tất tri thị dĩ, dĩ chư duyên thí dụ, ngôn từ phương tiện lực, lệnh nhất thiết hoan hỷ. Hoặc thuyết tu-đa-la, già-đà cập bản sự, bản sinh vị tằng hữu, diệc thuyết ư nhân duyên, thí dụ tinh kỳ-dạ, ưu-ba-đề-xá kinh. Độn căn nhạo tiểu pháp, tham trước ư sinh tử, ư chư vô lượng Phật, bất hành thâm diệu đạo, chúng khổ sở não loạn, vi thị thuyết Niết-bàn. Ngã thiết thị phương tiện, lệnh đắc nhập Phật tuệ, vị tằng thuyết nhữ đẳng, đương đắc thành Phật đạo. Sở dĩ vị tằng thuyết, thuyết thời vị chí cố, kim chính thị kỳ thời, quyết định thuyết đại thừa.
Xá Lợi Phất khéo nghe!
Pháp của các Phật được
Vô lượng sức phương tiện
Mà vì chúng sanh nói.
Tâm của chúng sanh nghĩ
Các món đạo ra làm
Bao nhiêu những tánh dục
Nghiệp lành dữ đời trước
Phật biết hết thế rồi
Dùng các duyên thí dụ
Lời lẽ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng.
Hoặc là nói Thế kinh
Cô khởi cùng Bổn sự.
Bổn sanh, Vị tằng hữu
Cũng nói những nhân duyên
Thí dụ và Trùng tụng
Luận nghị cộng chín kinh.
Căn độn ưa pháp nhỏ.
Tham chấp nơi sanh tử
Nơi vô lượng đức Phật
Chẳng tu đạo sâu mầu
Bị các khổ não loạn
Vì đó nói Niết bàn.
Ta bày phương tiện đó
Khiến đều vào huệ Phật,
Chưa từng nói các ông
Sẽ được thành Phật đạo
Sở dĩ chưa từng nói
Vì giờ nói chưa đến,
Nay chính là đến giờ
Quyết định nói Đại thừa.
我此九部法,隨順眾生說,入大乘為本,以故說是經。有佛子心淨,柔軟亦利根,無量諸佛所,而行深妙道。為此諸佛子,說是大乘經,我記如是人,來世成佛道,以深心念佛,修持淨戒故。此等聞得佛,大喜充遍身,佛知彼心行,故為說大乘。聲聞若菩薩,聞我所說法,乃至於一偈,皆成佛無疑。
Ngã thử cửu bộ pháp, tùy thuận chúng sinh thuyết, nhập đại thừa vi bản, dĩ cố thuyết thị kinh. Hữu Phật tử tâm tịnh, nhu nhuyễn diệc lợi căn, vô lượng chư Phật sở, nhi hành thâm diệu đạo. Vi thử chư Phật tử, thuyết thị đại thừa kinh, ngã ký như thị nhân, lai thế thành Phật đạo, dĩ thâm tâm niệm Phật, tu trì tịnh giới cố. Thử đẳng văn đắc Phật, đại hỷ sung biến thân, Phật tri bỉ tâm hành, cố vi thuyết đại thừa. Thanh văn nhược Bồ-tát, văn ngã sở thuyết pháp, nãi chí ư nhất kệ, giai thành Phật vô nghi.
Chín bộ pháp của ta
Thuận theo chúng sanh nói
Vào Đại thừa làm gốc
Nên mới nói kinh này.
Có Phật tử tâm tịnh
Êm dịu cũng căn lợi,
Nơi vô lượng các Phật
Mà tu đạo sâu mầu,
Vì hàng Phật tử này
Nói kinh Đại thừa đây.
Ta ghi cho người đó
Đời sau thành Phật đạo
Bởi thâm tâm niệm Phật
Tu trì tịnh giới vậy
Hạng này nghe thành Phật
Rất mừng đầy khắp mình,
Phật biết tâm của kia.
Nên vì nói Đại thừa.
Thanh văn hoặc Bồ Tát,
Nghe ta nói pháp ra
Nhẫn đến một bài kệ
Đều thành Phật không nghi.
十方佛土中,唯有一乘法,無二亦無三。除佛方便說。但以假名字,引導於眾生,說佛智慧故,諸佛出於世。唯此一事實,餘二則非真,終不以小乘,濟度於眾生。佛自住大乘,如其所得法,定慧力莊嚴,以此度眾生。自證無上道,大乘平等法,若以小乘化,乃至於一人,我則墮慳貪,此事為不可。若人信歸佛,如來不欺誑,亦無貪嫉意,斷諸法中惡。故佛於十方,而獨無所畏。我以相嚴身,光明照世間,無量眾所尊,為說實相印。
Thập phương Phật thổ trung, duy hữu nhất thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Trừ Phật phương tiện thuyết. Đãn dĩ giả danh tự, dẫn đạo ư chúng sinh, thuyết Phật trí tuệ cố, chư Phật xuất ư thế. Duy thử nhất sự thực, dư nhị tắc phi chân, chung bất dĩ tiểu thừa, tế độ ư chúng sinh. Phật tự trụ đại thừa, như kỳ sở đắc pháp, định tuệ lực trang nghiêm, dĩ thử độ chúng sinh. Tự chứng vô thượng đạo, đại thừa bình đẳng pháp, nhược dĩ tiểu thừa hóa, nãi chí ư nhất nhân, ngã tắc đọa khan tham, thử sự vi bất khả. Nhược nhân tín quy Phật, Như-lai bất khi cuống, diệc vô tham tật ý, đoạn chư pháp trung ác. Cố Phật ư thập phương, nhi độc vô sở úy. Ngã dĩ tướng nghiêm thân, quang minh chiếu thế gian, vô lượng chúng sở tôn, vi thuyết thực tướng ấn.
Trong cõi Phật mười phương
Chỉ có một thừa pháp
Không hai cũng không ba
Trừ Phật phương tiện nói
Chỉ dùng danh tự giả
Dắt dẫn các chúng sanh
Vì nói trí huệ Phật.
Các Phật ra nơi đời
Chỉ một việc này thật
Hai thứ chẳng phải chơn.
Trọn chẳng đem tiểu thừa
Mà tế độ chúng sanh,
Phật tự trụ Đại thừa
Như pháp của mình được
Định, huệ, lực trang nghiêm
Dùng đây độ chúng sanh.
Tự chứng đạo vô thượng
Pháp bình đẳng Đại thừa
Nếu dùng tiểu thừa độ
Nhẫn đến nơi một người
Thời ta đọa sân tham
Việc ấy tất không được,
Nếu người tin về Phật
Như Lai chẳng dối gạt
Cũng không lòng tham ghen
Dứt ác trong các pháp
Nên Phật ở mười phương
Mà riêng không chỗ sợ.
Ta dùng tướng trang nghiêm
Ánh sáng soi trong đời
Đấng vô lượng chúng trọng
Vì nói thực tướng ấn
舍利弗當知,我本立誓願,欲令一切眾,如我等無異。如我昔所願,今者已滿足,化一切眾生,皆令入佛道。若我遇眾生,盡教以佛道,無智者錯亂,迷惑不受教。我知此眾生,未曾修善本,堅著於五欲,癡愛故生惱。以諸欲因緣,墜墮三惡道,輪迴六趣中,備受諸苦毒,受胎之微形,世世常增長。薄德少福人,眾苦所逼迫,入邪見稠林,若有若無等。依止此諸見,具足六十二,深著虛妄法,堅受不可捨,我慢自矜高,諂曲心不實,於千萬億劫,不聞佛名字,亦不聞正法,如是人難度。
Xá-lợi-phất đương tri, ngã bản lập thệ nguyện, dục lệnh nhất thiết chúng, như ngã đẳng vô dị. Như ngã tích sở nguyện, kim giả dĩ mãn túc, hóa nhất thiết chúng sinh, giai lệnh nhập Phật đạo. Nhược ngã ngộ chúng sinh, tận giáo dĩ Phật đạo, vô trí giả thác loạn, mê hoặc bất thọ giáo. Ngã tri thử chúng sinh, vị tằng tu thiện bản, kiên trước ư ngũ dục, si ái cố sinh não. Dĩ chư dục nhân duyên, trụy đọa tam ác đạo, luân hồi lục thú trung, bị thọ chư khổ độc, thọ thai chi vi hình, thế thế thường tăng trưởng. Bạc đức thiểu phúc nhân, chúng khổ sở bức bách, nhập tà kiến trù lâm, nhược hữu nhược vô đẳng. Y chỉ thử chư kiến, cụ túc lục thập nhị, thâm trước hư vọng pháp, kiên thọ bất khả xả, ngã mạn tự căng cao, siểm khúc tâm bất thực, ư thiên vạn ức kiếp, bất văn Phật danh tự, diệc bất văn chính pháp, như thị nhân nan độ.
Xá Lợi Phất! nên biết
Ta vốn lập thệ nguyện
Muốn cho tất cả chúng
Bằng như ta không khác,
Như ta xưa đã nguyện
Nay đã đầy đủ rồi
Độ tất cả chúng sanh
Đều khiến vào Phật đạo
Nếu ta gặp chúng sanh
Dùng Phật đạo dạy cả
Kẻ vô trí rối sai
Mê lầm không nhận lời.
Ta rõ chúng sanh đó
Chưa từng tu cội lành
Chấp chặt nơi ngũ dục
Vì si ái sinh khổ,
Bởi nhân duyên các dục.
Sa vào ba đường dữ
Xoay lăn trong sáu nẻo
Chịu đủ những khổ độc
Thân mọn thọ bào thai
Đời đời tăng trưởng luôn
Người đức mỏng ít phước
Các sự khổ bức ngặt
Vào rừng rậm tà kiến
Hoặc chấp có, chấp không
Nương gá các chấp này
Đầy đủ sáu mươi hai
Chấp chặt pháp hư vọng
Bền nhận không bỏ được
Ngã mạn tự khoe cao
Dua nịnh lòng không thực
Trong nghìn muôn ức kiếp
Chẳng nghe danh tự Phật
Cũng chẳng nghe chánh pháp
Người như thế khó độ.
是故舍利弗!我為設方便,說諸盡苦道,示之以涅槃。我雖說涅槃,是亦非真滅,諸法從本來,常自寂滅相。佛子行道已,來世得作佛,我有方便力,開示三乘法。一切諸世尊,皆說一乘道,今此諸大眾,皆應除疑惑,諸佛語無異,唯一無二乘。
Thị cố Xá-lợi-phất! Ngã vi thiết phương tiện, thuyết chư tận khổ đạo, thị chi dĩ Niết-bàn. Ngã tuy thuyết Niết-bàn, thị diệc phi chân diệt, chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng. Phật tử hành đạo dĩ, lai thế đắc tác Phật, ngã hữu phương tiện lực, khai thị tam thừa pháp. Nhất thiết chư Thế-tôn, giai thuyết nhất thừa đạo, kim thử chư đại chúng, giai ưng trừ nghi hoặc, chư Phật ngữ vô dị, duy nhất vô nhị thừa.
Cho nên Xá Lợi Phất!
Ta vì bày phương tiện
Nói các đạo dứt khổ
Chỉ cho đó Niết bàn
Ta dầu nói Niết bàn
Cũng chẳng phải thật diệt,
Các pháp từ bổn lai
Tướng thường tự vắng lặng
Phật tử hành đạo rồi
Đời sau được thành Phật
Ta có sức phương tiện
Mở bày khắp ba thừa.
Tất cả các Thế Tôn
Đều nói đạo nhất thừa
Nay trong đại chúng này
Đều nên trừ nghi lầm
Lời Phật nói không khác
Chỉ một, không hai thừa.
過去無數劫,無量滅度佛,百千萬億種,其數不可量。如是諸世尊,種種緣譬喻,無數方便力,演說諸法相。是諸世尊等,皆說一乘法,化無量眾生,令入於佛道。又諸大聖主,知一切世間,天人群生類,深心之所欲,更以異方便,助顯第一義。
Quá khứ vô số kiếp, vô lượng diệt độ Phật, bách thiên vạn ức chủng, kỳ số bất khả lượng. Như thị chư Thế-tôn, chủng chủng duyên thí dụ, vô số phương tiện lực, diễn thuyết chư pháp tướng. Thị chư Thế-tôn đẳng, giai thuyết nhất thừa pháp, hóa vô lượng chúng sinh, lệnh nhập ư Phật đạo. Hựu chư đại thánh chủ, tri nhất thiết thế gian, thiên nhân quần sinh loại, thâm tâm chi sở dục, cánh dĩ dị phương tiện, trợ hiển đệ nhất nghĩa.
Vô số kiếp đã qua
Vô lượng Phật diệt độ
Trăm nghìn muôn ức Phật
Số nhiều không lường được.
Các Thế Tôn như thế
Các món duyên thí dụ
Vô số ức phương tiện
Diễn nói các pháp tướng,
Các đức Thế Tôn đó
Đều nói pháp nhất thừa
Độ vô lượng chúng sanh
Khiến vào nơi Phật đạo
Lại các đại Thánh chúa
Biết tất cả thế gian
Trời người loài quần sanh
Thâm tâm chỗ ưa muốn
Bèn dùng phương tiện khác
Giúp bày nghĩa đệ nhất.
若有眾生類,值諸過去佛,若聞法布施,或持戒忍辱、精進禪智等,種種修福慧。如是諸人等,皆已成佛道。諸佛滅度已,若人善軟心,如是諸眾生,皆已成佛道。
Nhược hữu chúng sinh loại, trị chư quá khứ Phật, nhược văn pháp bố thi, hoặc trì giới nhẫn nhục, tinh tiến thiền trí đẳng, chủng chủng tu phúc tuệ. Như thị chư nhân đẳng, giai dĩ thành Phật đạo. Chư Phật diệt độ dĩ, nhược nhân thiện nhuyễn tâm, như thị chư chúng sinh, giai dĩ thành Phật đạo.
Nếu có loài chúng sanh
Gặp các Phật quá khứ
Hoặc nghe pháp bố thí
Hoặc trì giới nhẫn nhục
Tinh tấn, thiền, trí thảy
Các món tu phước huệ,
Những người như thế đó
Đều đã thành Phật đạo
Sau các Phật diệt độ
Nếu người lòng lành dịu
Các chúng sanh như thế
Đều đã thành Phật đạo.
諸佛滅度已,供養舍利者,起萬億種塔,金銀及頗梨、車𤦲與馬腦、玫瑰琉璃珠,清淨廣嚴飾,莊校於諸塔。或有起石廟,栴檀及沈水,木櫁并餘材,塼瓦泥土等。若於曠野中,積土成佛廟,乃至童子戲,聚沙為佛塔,如是諸人等,皆已成佛道。
Chư Phật diệt độ dĩ, cúng dường xá lợi giả, khởi vạn ức chủng tháp, kim ngân cập pha-lê, xa cừ dữ mã não, mai khôi lưu-ly châu, thanh tịnh quảng nghiêm sức, trang hiệu ư chư tháp. Hoặc hữu khởi thạch miếu, chiên-đàn cập trầm thủy, mộc mật tinh dư tài, chuyên ngõa nê thổ đẳng. Nhược ư khoáng dã trung, tích thổ thành Phật miếu, nãi chí đồng tử hí, tụ sa vi Phật tháp, như thị chư nhân đẳng, giai dĩ thành Phật đạo.
Các Phật diệt độ rồi
Người cúng dường xá lợi
Dựng muôn ức thứ tháp
Vàng, bạc và pha lê
Xa cừ cùng mã não
Ngọc mai khôi, lưu ly
Thanh tịnh rộng nghiêm sức,
Trau dồi nơi các tháp,
Hoặc có dựng miếu đá
Chiên đàn và trầm thủy
Gỗ mật cùng gỗ khác
Gạch ngói bùn đất thảy,
Hoặc ở trong đồng trống
Chứa đất thành miếu Phật
Nhẫn đến đồng tử giỡn
Nhóm cát thành tháp Phật,
Những hạng người như thế
Đều đã thành Phật đạo.
若人為佛故,建立諸形像,刻雕成眾相,皆已成佛道。或以七寶成,鍮石赤白銅、白鑞及鉛錫,鐵木及與泥,或以膠漆布,嚴飾作佛像,如是諸人等,皆已成佛道。彩畫作佛像,百福莊嚴相,自作若使人,皆已成佛道。乃至童子戲,若草木及筆,或以指爪甲,而畫作佛像,如是諸人等,漸漸積功德,具足大悲心,皆已成佛道。但化諸菩薩,度脫無量眾。
Nhược nhân vi Phật cố, kiến lập chư hình tượng, khắc điêu thành chúng tướng, giai dĩ thành Phật đạo. Hoặc dĩ thất bảo thành, thâu thạch xích bạch đồng, bạch lạp cập duyên tích, thiết mộc cập dữ nê, hoặc dĩ giao tất bố, nghiêm sức tác Phật tượng, như thị chư nhân đẳng, giai dĩ thành Phật đạo. Thái họa tác Phật tượng, bách phúc trang nghiêm tướng, tự tác nhược sử nhân, giai dĩ thành Phật đạo. Nãi chí đồng tử hí, nhược thảo mộc cập bút, hoặc dĩ chỉ trảo giáp, nhi họa tác Phật tượng, như thị chư nhân đẳng, tiệm tiệm tích công đức, cụ túc đại bi tâm, giai dĩ thành Phật đạo. Đãn hóa chư Bồ-tát, độ thoát vô lượng chúng.
Nếu như người vì Phật
Xây dựng các hình tượng
Chạm trổ thành các tướng
Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc dùng bảy báu làm
Thau, đồng bạch, đồng đỏ
Chất nhôm cùng chì kẽm
Sắt, gỗ cùng với bùn
Hoặc dùng keo, sơn, vải
Nghiêm sức làm tượng Phật
Những người như thế đó
Đều đã thành Phật đạo
Vẽ vời làm tượng Phật
Trăm tướng phước trang nghiêm
Tự làm hoặc bảo người
Đều đã thành Phật đạo.
Nhẫn đến đồng tử giỡn
Hoặc cỏ cây và bút
Hoặc lấy móng tay mình
Mà vẽ làm tượng Phật
Những hạng người như thế
Lần lần chứa công đức
Đầy đủ tâm đại bi
Đều đã thành Phật đạo
Chỉ dạy các Bồ Tát
Độ thoát vô lượng chúng.
若人於塔廟、寶像及畫像,以華香幡蓋,敬心而供養。若使人作樂,擊鼓吹角貝,簫笛琴箜篌、琵琶鐃銅鈸,如是眾妙音,盡持以供養。或以歡喜心,歌唄頌佛德,乃至一小音,皆已成佛道。
Nhược nhân ư tháp miếu, bảo tượng cập họa tượng, dĩ hoa hương phướn cái, kính tâm nhi cúng dường. Nhược sử nhân tác nhạc, kích cổ xuy giác bối, tiêu địch cầm không-hầu, tỳ-bà nao đồng bạt, như thị chúng diệu âm, tận trì dĩ cúng dường. Hoặc dĩ hoan hỷ tâm, ca bái tụng Phật đức, nãi chí nhất tiểu âm, giai dĩ thành Phật đạo.
Nếu người nơi tháp miếu
Tượng báu và tượng vẽ
Dùng hoa, hương, phan, lọng
Lồng kính mà cúng dường
Hoặc khiến người trổi nhạc
Đánh trống, thổi sừng ốc
Tiêu địch, cầm, không hầu
Tỳ bà, chụp chả đồng
Các tiếng hay như thế
Đem dùng cúng dường hết
Hoặc người lòng vui mừng
Ca ngâm khen đức Phật
Nhẫn đến một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật đạo.
若人散亂心,乃至以一華,供養於畫像,漸見無數佛。或有人禮拜,或復但合掌,乃至舉一手,或復小低頭,以此供養像,漸見無量佛。自成無上道,廣度無數眾,入無餘涅槃,如薪盡火滅。若人散亂心,入於塔廟中,一稱南無佛,皆已成佛道。於諸過去佛,在世或滅度,若有聞是法,皆已成佛道。
Nhược nhân tán loạn tâm, nãi chí dĩ nhất hoa, cúng dường ư họa tượng, tiệm kiến vô số Phật. Hoặc hữu nhân lễ bái, hoặc phục đãn hợp chưởng, nãi chí cử nhất thủ, hoặc phục tiểu đê đầu, dĩ thử cúng dường tượng, tiệm kiến vô lượng Phật. Tự thành vô thượng đạo, quảng độ vô số chúng, nhập vô dư Niết-bàn, như tân tận hỏa diệt. Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng nam vô Phật, giai dĩ thành Phật đạo. Ư chư quá khứ Phật, tại thế hoặc diệt độ, nhược hữu văn thị pháp, giai dĩ thành Phật đạo.
Nếu người lòng tán loạn
Nhẫn đến dùng một hoa
Cúng dường nơi tượng vẽ
Lần thấy các đức Phật
Hoặc có người lễ lạy
Hoặc lại chỉ chắp tay
Nhẫn đến giơ một tay
Hoặc lại hơi cúi đầu
Dùng đây cúng dường tượng
Lần thấy vô lượng Phật
Tự thành đạo vô thượng
Rộng độ chúng vô số
Vào Vô dư Niết bàn
Như củi hết lửa tắt.
Nếu người tâm tán loạn
Bước vào trong tháp chùa
Chỉ niệm Nam mô Phật
Đều đã thành Phật đạo
Nơi các Phật quá khứ
Tại thế, hoặc diệt độ,
Có người nghe pháp này
Đều đã thành Phật đạo
未來諸世尊,其數無有量,是諸如來等,亦方便說法。一切諸如來,以無量方便,度脫諸眾生,入佛無漏智,若有聞法者,無一不成佛。諸佛本誓願,我所行佛道,普欲令眾生,亦同得此道。未來世諸佛,雖說百千億,無數諸法門,其實為一乘。諸佛兩足尊,知法常無性,佛種從緣起,是故說一乘。是法住法位,世間相常住,於道場知已,導師方便說。天人所供養,現在十方佛,其數如恒沙,出現於世間,安隱眾生故,亦說如是法。知第一寂滅,以方便力故,雖示種種道,其實為佛乘。知眾生諸行,深心之所念,過去所習業,欲性精進力,及諸根利鈍,以種種因緣、譬喻亦言辭,隨應方便說。
Vị lai chư Thế-tôn, kỳ số vô hữu lượng, thị chư Như-lai đẳng, diệc phương tiện thuyết pháp. Nhất thiết chư Như-lai, dĩ vô lượng phương tiện, độ thoát chư chúng sinh, nhập Phật vô lậu trí, nhược hữu văn pháp giả, vô nhất bất thành Phật. Chư Phật bản thệ nguyện, ngã sở hành Phật đạo, phổ dục lệnh chúng sinh, diệc đồng đắc thử đạo. Vị lai thế chư Phật, tuy thuyết bách thiên ức, vô số chư pháp môn, kỳ thực vi nhất thừa. Chư Phật lưỡng túc tôn, tri pháp thường vô tính, Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết nhất thừa. Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ, ư đạo tràng tri dĩ, đạo sư phương tiện thuyết. Thiên nhân sở cúng dường, hiện tại thập phương Phật, kỳ số như hằng sa, xuất hiện ư thế gian, an ẩn chúng sinh cố, diệc thuyết như thị pháp. Tri đệ nhất tịch diệt, dĩ phương tiện lực cố, tuy thị chủng chủng đạo, kỳ thực vi Phật thừa. Tri chúng sinh chư hành, thâm tâm chi sở niệm, quá khứ sở tập nghiệp, dục tính tinh tiến lực, cập chư căn lợi độn, dĩ chủng chủng nhân duyên, thí dụ diệc ngôn từ, tùy ưng phương tiện thuyết.
Các Thế Tôn vị lai
Số nhiều không thể lường
Các đức Như Lai đó
Cùng phương tiện nói pháp.
Tất cả các Như Lai
Dùng vô lượng phương tiện
Độ thoát các chúng sanh
Vào trí vô lậu Phật,
Nếu có người nghe pháp
Không ai chẳng thành Phật.
Các Phật vốn thệ nguyện
Ta tu hành Phật đạo
Khắp muốn cho chúng sanh
Cũng đồng được đạo này.
Các Phật đời vị lai
Dầu nói trăm nghìn ức
Vô số các pháp môn
Kỳ thật vì nhứt thừa.
Các Phật Lưỡng Túc tôn
Biết pháp thường không tánh
Giống Phật theo duyên sanh
Cho nên nói nhứt thừa.
Pháp đó trụ ngôi pháp
Tướng thế gian thường còn
Nơi đạo tràng biết rồi
Đức Phật phương tiện nói.
Hiện tại mười phương Phật
Của trời người cúng dường
Số nhiều như hằng sa
Hiện ra nơi thế gian
Vì an ổn chúng sanh
Cũng nói pháp như thế.
Biết vắng bặt thứ nhứt
Bởi dùng sức phương tiện
Dầu bày các món đạo
Kỳ thật vì Phật thừa
Biết các hạnh chúng sanh
Thâm tâm nó nghĩ nhớ
Nghiệp quen từ quá khứ
Tánh dục, sức tinh tấn
Và các căn lợi độn
Dùng các món nhân duyên
Thí dụ cùng lời lẽ
Tùy cơ phương tiện nói.
今我亦如是,安隱眾生故,以種種法門,宣示於佛道。我以智慧力,知眾生性欲,方便說諸法,皆令得歡喜。舍利弗當知!我以佛眼觀,見六道眾生,貧窮無福慧,入生死嶮道,相續苦不斷,深著於五欲,如犛牛愛尾,以貪愛自蔽,盲瞑無所見。不求大勢佛,及與斷苦法,深入諸邪見,以苦欲捨苦,為是眾生故,而起大悲心。
Kim ngã diệc như thị, an ẩn chúng sinh cố, dĩ chủng chủng pháp môn, tuyên thị ư Phật đạo. Ngã dĩ trí tuệ lực, tri chúng sinh tính dục, phương tiện thuyết chư pháp, giai lệnh đắc hoan hỷ. Xá-lợi-phất đương tri! Ngã dĩ Phật nhãn quán, kiến lục đạo chúng sinh, bần cùng vô phúc tuệ, nhập sinh tử hiểm đạo, tương tục khổ bất đoạn, thâm trước ư ngũ dục, như mao ngưu ái vĩ, dĩ tham ái tự tế, manh minh vô sở kiến. Bất cầu đại thế Phật, cập dữ đoạn khổ pháp, thâm nhập chư tà kiến, dĩ khổ dục xả khổ, vi thị chúng sinh cố, nhi khởi đại bi tâm.
Ta nay cũng như vậy
Vì an ổn chúng sanh
Dùng các món pháp môn
Rao bày nơi Phật đạo
Ta dùng sức trí huệ
Rõ tánh dục chúng sanh
Phương tiện nói các pháp
Đều khiến được vui mừng.
Xá Lợi Phất nên biết!
Ta dùng mắt Phật xem
Thấy sáu đường chúng sanh
Nghèo cùng không phước huệ
Vào đường hiểm sanh tử
Khổ nối luôn không dứt
Sâu tham nơi ngũ dục
Như trâu “mao” mến đuôi
Do tham ái tự che
Đui mù không thấy biết
Chẳng cầu Phật thế lớn
Cùng pháp dứt sự khổ
Sâu vào các tà kiến
Lấy khổ muốn bỏ khổ
Phật vì chúng sanh này
Mà sanh lòng đại bi.
我始坐道場,觀樹亦經行,於三七日中,思惟如是事,我所得智慧,微妙最第一。眾生諸根鈍,著樂癡所盲,如斯之等類,云何而可度?爾時諸梵王,及諸天帝釋、護世四天王,及大自在天,并餘諸天眾,眷屬百千萬,恭敬合掌禮,請我轉法輪。我即自思惟:『若但讚佛乘,眾生沒在苦,不能信是法;破法不信故,墜於三惡道。我寧不說法,疾入於涅槃。尋念過去佛,所行方便力,我今所得道,亦應說三乘。』
Ngã thủy tọa đạo tràng, quán thụ diệc kinh hành, ư tam thất nhật trung, tư duy như thị sự, ngã sở đắc trí tuệ, vi diệu tối đệ nhất. Chúng sinh chư căn độn, trước lạc si sở manh, như tư chi đẳng loại, vân hà nhi khả độ? Nhĩ thời chư phạm vương, cập chư thiên đế thích, hộ thế tứ thiên vương, cập đại tự tại thiên, tinh dư chư thiên chúng, quyến thuộc bách thiên vạn, cung kính hợp chưởng lễ, thỉnh ngã chuyển pháp luân. Ngã tức tự tư duy: ‘Nhược đãn tán Phật thừa, chúng sinh một tại khổ, bất năng tín thị pháp; phá pháp bất tín cố, trụy ư tam ác đạo. Ngã ninh bất thuyết pháp, tật nhập ư Niết-bàn. Tầm niệm quá khứ Phật, sở hành phương tiện lực, ngã kim sở đắc đạo, diệc ưng thuyết tam thừa.’
Xưa, tu ngồi đạo tràng
Xem cây cùng kinh hành
Trong hai mươi mốt ngày
Suy nghĩ việc như vầy:
Trí huệ của ta được
Vi diệu rất thứ nhứt
Chúng sanh các căn chậm
Tham vui si làm mù
Các hạng người như thế
Làm sao mà độ được?
Bấy giờ các Phạm vương
Cùng các trời Đế Thích
Bốn Thiên vương hộ đời
Và trời Đại Tự Tại
Cùng các thiên chúng khác
Trăm nghìn ức quyến thuộc
Chắp tay cung kính lễ
Thỉnh ta chuyển pháp luân.
Ta liền tự suy nghĩ
Nếu chỉ khen Phật thừa
Chúng sanh chìm nơi khổ
Không thể tin pháp đó
Do phá pháp không tin
Rớt trong ba đường dữ
Ta thà không nói pháp
Mau vào cõi Niết bàn
Liền nhớ Phật quá khứ
Thực hành sức phương tiện
Ta nay chứng được đạo
Cũng nên nói ba thừa.
作是思惟時,十方佛皆現,梵音慰喻我:『善哉釋迦文!第一之導師,得是無上法,隨諸一切佛,而用方便力。我等亦皆得,最妙第一法,為諸眾生類、分別說三乘。少智樂小法,不自信作佛,是故以方便,分別說諸果。雖復說三乘,但為教菩薩。』
Tác thị tư duy thời, thập phương Phật giai hiện, phạm âm úy dụ ngã: ‘Thiện tai Thích-ca-văn! Đệ nhất chi đạo sư, đắc thị vô thượng pháp, tùy chư nhất thiết Phật, nhi dụng phương tiện lực. Ngã đẳng diệc giai đắc, tối diệu đệ nhất pháp, vi chư chúng sinh loại, phân biệt thuyết tam thừa. Thiểu trí nhạo tiểu pháp, bất tự tín tác Phật, thị cố dĩ phương tiện, phân biệt thuyết chư quả. Tuy phục thuyết tam thừa, đãn vi giáo Bồ-tát.’
Lúc ta nghĩ thế đó
Mười phương Phật đều hiện
Tiếng Phạm an ủi ta
Hay thay! Đức Thích Ca
Bậc Đạo Sư thứ nhứt
Được pháp vô thượng ấy
Tùy theo tất cả Phật
Mà dùng sức phương tiện
Chúng ta cũng đều được
Pháp tối diệu thứ nhứt
Vì các loại chúng sanh
Phân biệt nói ba thừa.
Trí kém ưa pháp nhỏ
Chẳng tự tin thành Phật
Cho nên dùng phương tiện
Phân biệt nói các quả
Dầu lại nói ba thừa
Chỉ vì dạy Bồ Tát.
舍利弗當知!我聞聖師子,深淨微妙音,喜稱南無佛。復作如是念:『我出濁惡世,如諸佛所說,我亦隨順行。』思惟是事已,即趣波羅柰。諸法寂滅相,不可以言宣,以方便力故,為五比丘說。是名轉法輪,便有涅槃音,及以阿羅漢,法僧差別名。從久遠劫來,讚示涅槃法,生死苦永盡,我常如是說。
Xá-lợi-phất đương tri! Ngã văn thánh sư tử, thâm tịnh vi diệu âm, hỷ xưng nam vô Phật. Phục tác như thị niệm: ‘Ngã xuất trọc ác thế, như chư Phật sở thuyết, ngã diệc tùy thuận hành.’ Tư duy thị sự dĩ, tức thú Ba-la-nại. Chư pháp tịch diệt tướng, bất khả dĩ ngôn tuyên, dĩ phương tiện lực cố, vi ngũ tỳ-kheo thuyết. Thị danh chuyển pháp luân, tiện hữu Niết-bàn âm, cập dĩ A-la-hán, pháp tăng sai biệt danh. Tùng cửu viễn kiếp lai, tán thị Niết-bàn pháp, sinh tử khổ vĩnh tận, ngã thường như thị thuyết.
Xá Lợi Phất nên biết!
Ta nghe các đức Phật
Tiếng nhiệm mầu rất sạch
Xưng: “Nam mô chư Phật!”
Ta lại nghĩ thế này
Ta ra đời trược ác
Như các Phật đã nói
Ta cũng thuận làm theo
Suy nghĩ việc đó rồi
Liền đến thành Ba Nại.
Các pháp tướng tịch diệt
Không thể dùng lời bày
Bèn dùng sức phương tiện
Vì năm Tỳ kheo nói.
Đó gọi chuyển pháp luân
Bèn có tiếng Niết bàn
Cùng với A la hán
Tên pháp, tăng sai khác.
Từ kiếp xa nhẫn lại
Khen bày Pháp Niết bàn
Dứt hẳn khổ sống chết
Ta thường nói như thế.
舍利弗當知!我見佛子等,志求佛道者,無量千萬億,咸以恭敬心,皆來至佛所,曾從諸佛聞,方便所說法。我即作是念:『如來所以出,為說佛慧故,今正是其時。』
Xá-lợi-phất đương tri! Ngã kiến Phật tử đẳng, chí cầu Phật đạo giả, vô lượng thiên vạn ức, hàm dĩ cung kính tâm, giai lai chí Phật sở, tằng tùng chư Phật văn, phương tiện sở thuyết pháp. Ngã tức tác thị niệm: ‘Như-lai sở dĩ xuất, vi thuyết Phật tuệ cố, kim chính thị kỳ thời.’
Xá Lợi Phất phải biết
Ta thấy các Phật tử
Chí quyết cầu Phật đạo
Vô lượng nghìn muôn ức
Đều dùng lòng cung kính
Đồng đi đến chỗ Phật
Từng đã theo các Phật
Nghe nói pháp phương tiện
Ta liền nghĩ thế này
Sở dĩ Phật ra đời
Để vì nói Phật huệ
Nay chính đã đúng giờ.
舍利弗當知!鈍根小智人、著相憍慢者,不能信是法。今我喜無畏,於諸菩薩中,正直捨方便,但說無上道。菩薩聞是法,疑網皆已除,千二百羅漢,悉亦當作佛。如三世諸佛,說法之儀式,我今亦如是,說無分別法。諸佛興出世,懸遠值遇難,正使出于世,說是法復難。無量無數劫,聞是法亦難,能聽是法者,斯人亦復難。譬如優曇花,一切皆愛樂,天人所希有,時時乃一出。
Xá-lợi-phất đương tri! Độn căn tiểu trí nhân, trước tướng kiêu mạn giả, bất năng tín thị pháp. Kim ngã hỷ vô úy, ư chư Bồ-tát trung, chính trực xả phương tiện, đãn thuyết vô thượng đạo. Bồ-tát văn thị pháp, nghi võng giai dĩ trừ, thiên nhị bách la hán, tất diệc đương tác Phật. Như tam thế chư Phật, thuyết pháp chi nghi thức, ngã kim diệc như thị, thuyết vô phân biệt pháp. Chư Phật hưng xuất thế, huyền viễn trị ngộ nan, chính sử xuất vu thế, thuyết thị pháp phục nan. Vô lượng vô số kiếp, văn thị pháp diệc nan, năng thính thị pháp giả, tư nhân diệc phục nan. Thí như ưu-đàm hoa, nhất thiết giai ái nhạo, thiên nhân sở hy hữu, thời thời nãi nhất xuất.
Xá Lợi Phất phải biết!
Người căn chậm trí nhỏ
Kẻ chấp tướng kiêu mạn
Chẳng thể tin pháp này
Nay ta vui vô úy
Ở trong hàng Bồ Tát
Chính bỏ ngay phương tiện
Chỉ nói đạo vô thượng.
Bồ Tát nghe pháp đó
Đều đã trừ lưới nghi
Nghìn hai trăm La hán
Cũng đều sẽ thành Phật
Như nghi thức nói pháp
Của các Phật ba đời
Ta nay cũng như vậy
Nói pháp không phân biệt
Các đức Phật ra đời
Lâu xa khó gặp gỡ
Chính sử hiện ra đời
Nói pháp này khó hơn
Vô lượng vô số kiếp
Nghe pháp này cũng khó,
Hay nghe được pháp này
Người đó cũng lại khó
Thí như hoa linh thoại
Tất cả đều ưa mến
Ít có trong trời, người
Lâu lâu một lần trổ.
聞法歡喜讚,乃至發一言,則為已供養,一切三世佛,是人甚希有,過於優曇花。汝等勿有疑,我為諸法王,普告諸大眾,但以一乘道,教化諸菩薩,無聲聞弟子。
Văn pháp hoan hỷ tán, nãi chí phát nhất ngôn, tắc vi dĩ cúng dường, nhất thiết tam thế Phật, thị nhân thậm hy hữu, quá ư ưu-đàm hoa. Nhữ đẳng vật hữu nghi, ngã vi chư pháp vương, phổ cáo chư đại chúng, đãn dĩ nhất thừa đạo, giáo hóa chư Bồ-tát, vô thanh văn đệ tử.
Người nghe pháp mừng khen
Nhẫn đến nói một lời
Thời là đã cúng dường
Tất cả Phật ba đời
Người đó rất ít có
Hơn cả hoa Ưu đàm.
Các ông chớ có nghi
Ta là vua các pháp
Khắp bảo các đại chúng
Chỉ dùng đạo nhứt thừa
Dạy bảo các Bồ Tát
Không Thanh văn đệ tử.
汝等舍利弗,聲聞及菩薩,當知是妙法,諸佛之祕要。以五濁惡世,但樂著諸欲,如是等眾生,終不求佛道。當來世惡人,聞佛說一乘,迷惑不信受,破法墮惡道。有慚愧清淨,志求佛道者,當為如是等,廣讚一乘道。舍利弗當知!諸佛法如是,以萬億方便,隨宜而說法,其不習學者,不能曉了此。汝等既已知,諸佛世之師,隨宜方便事,無復諸疑惑,心生大歡喜,自知當作佛。」
Nhữ đẳng Xá-lợi-phất, thanh văn cập Bồ-tát, đương tri thị diệu pháp, chư Phật chi bí yếu. Dĩ ngũ trọc ác thế, đãn nhạo trước chư dục, như thị đẳng chúng sinh, chung bất cầu Phật đạo. Đương lai thế ác nhân, văn Phật thuyết nhất thừa, mê hoặc bất tín thọ, phá pháp đọa ác đạo. Hữu tàm quý thanh tịnh, chí cầu Phật đạo giả, đương vi như thị đẳng, quảng tán nhất thừa đạo. Xá-lợi-phất đương tri! Chư Phật pháp như thị, dĩ vạn ức phương tiện, tùy nghi nhi thuyết pháp, kỳ bất tập học giả, bất năng hiểu liễu thử. Nhữ đẳng ký dĩ tri, chư Phật thế chi sư, tùy nghi phương tiện sự, vô phục chư nghi hoặc, tâm sinh đại hoan hỷ, tự tri đương tác Phật.”
Xá Lợi Phất các ông!
Thanh văn và Bồ Tát
Phải biết pháp mầu này
Bí yếu của các Phật
Bởi đời ác năm trược
Chỉ tham ưa các dục
Những chúng sanh như thế
Trọn không cầu Phật đạo
Người ác đời sẽ tới
Nghe Phật nói nhứt thừa
Mê lầm không tin nhận
Phá pháp đọa đường dữ
Người tàm quý trong sạch
Quyết chí cầu Phật đạo
Nên vì bọn người ấy
Rộng khen đạo nhất thừa.
Xá Lợi Phất nên biết
Pháp các Phật như thế
Dùng muôn ức phương tiện
Tùy thời nghi nói pháp
Người chẳng học tập tu
Không hiểu được pháp này
Các ông đã biết rõ
Phật là thầy trong đời
Việc phương tiện tùy nghi
Không còn lại nghi lầm
Lòng sanh rất vui mừng
Tự biết sẽ thành Phật.
妙法蓮華經卷第一
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ nhất
(Hết Quyển Thứ Nhất — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Nhất”)
THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ nhất)
- (1) KINH: Pháp thường, mười phương ba đời các đức Phật đều nói như vậy. Nói đủ là “Khế Kinh” nghĩa là “pháp thường khế hiệp chân lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh”. DIỆU PHÁP LIÊN HOA: Pháp mầu khó nghĩ lường, thắng hơn tất cả pháp. Kinh pháp này là bật nhất trong kinh pháp khác của Phật nói, dụ như hoa sen, vì hoa sen sánh với hoa khác có 5 điều đặc biệt: a) Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời. b) Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho. c) Cọng hoa từ gốc tách riêng nhưng không chung cành với lá. d) Ong và bướm không bu đậu. e) Không bị người dùng làm trang điểm (xưa đàn bà Ấn Độ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v...)
- (2) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
- (3) Hữu Lậu: Các điều vọng lầm hay làm lọt mất công đức lành.
- (4) Tự mình đã được thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi.
- (5) Ba cõi: Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc.
- (6) Hữu học, Vô học: Từ quả A na hàm trở xuống chưa được giải thoát còn phải học tập nên gọi “Hữu học”. Quả A la hán đã được giải thoát, về trong Tiểu thừa pháp, thì không còn phải học nữa nên gọi “Vô học”.
- (7) Quả chứng của Phật.
- (8) Tổng trì: Gồm nhiếp các Pháp.
- (9) Biện tài: Tài biện luận ưa giảng nói pháp.
- (10) Chỗ rốt ráo, trọn vẹn, nên xong hoàn toàn.
- (11) Tên của vị vua 33 nước trời Đao Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di.
- (12) Ba thứ tiếng vang dội và ba thứ rung động của hình sắc.
- (13)
- (16) Các loài thần hầu hạ cõi Đao Lợi.
- (14) Thần phi thiên: có phước như trời mà đức kém hơn trời.
- (15) Chim cánh vàng (kim sí điểu).
- (17) Thần rắn.
- (18) 1) Trời; 2) Người; 3) A tu la; 4) Thú; 5) Quỷ; 6) Địa ngục.
- (19) Phật là vua pháp (Pháp vương). Bồ Tát cũng như con của Phật nên là: Pháp vương tử.
- (20) Người thọ tam quy ngũ giới tu tại gia gần gũi hộ thờ Tam Bảo nên gọi cận sự, đàn ông là nam, đàn bà là nữ, ta quen gọi là “cư sĩ”.
- (21) A tăng kỳ: Vô số (một số lớn). Kiếp có: Tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một tiểu kiếp có 16.798.000 năm. Một trung kiếp có 20 tiểu kiếp. Một đại kiếp có 4 trung kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không.
- (22) Tứ đế: 1) Khổ đế; 2) Tập đế; 3) Diệt đế; 4) Đạo đế.
- (23) Mười hai nhân duyên: 1) Vô minh 2) Hành 3) Thức 4) Danh sắc 5) Lục nhập 6) Xúc 7) Thọ8) Aùi 9) Thủ 10) Hữu 11) Sanh 12) Lão tử. Mười hai món này làm nhân duyên lẫn nhau.
- (24) Lục Ba la mật: Cũng gọi là 6 độ: 1) Bố thí độ, 2) Trì giới độ, 3) Nhẫn nhục độ, 4) Tinh tấn độ, 5) Thiền định độ, 6) Trí huệ độ.
- (25) Nhứt thiết chủng trí: Trí của Phật.
- (26) Tứ châu: 1) Đông thắng thần châu. 2) Nam thiệm bộ châu (quả địa cầu), 3) Tây ngưu hóa châu, 4) Bắc câu lô châu.
- (27) Thọ ký: Trao cho lời ghi chắc về sau, bao nhiêu năm cõi nào sẽ thành Phật hiệu là v.v...
- (28) Sông Hằng: Một con sông lớn xứ Ấn Độ, trong sông và hai bờ có cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một số đông nhiều.
- (29) Đạo sư: Ông thầy dắt dẫn.
- (30) Tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa.
- (31) Phương tiện: Phương chước hay phương pháp tiện lợi dễ dàng.
Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)
Một sáng chiếu phương đông, thể diệu toàn bày, chẳng phải chỗ suy lường mà suy lường được, thầm hiểu ở trong lòng, phương tiện truyền bày một đạo nhả hương trời.
NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)
Thế Tôn hiện điềm tốt, Di Lặc nghi tướng lành, Văn Thù vì chúng rộng phô bày: Phật xưa phóng hào quang. Ba phen mời đấng Pháp Vương vì nói hương Diệu Liên.
NAM MÔ QUÁ KHỨ NHẬT NGUYỆT ĐĂNG MINH PHẬT. (3 lần)
Hết Quyển 1