Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinhkinh dieu phap lien hoa妙法蓮華經卷第五
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ ngũ
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ NĂM
後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯
Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch
(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)
PHẨM “AN LẠC HẠNH” THỨ MƯỜI BỐN
安樂行品第十四
An lạc hành phẩm đệ thập tứ
PHẨM “AN LẠC HẠNH” THỨ MƯỜI BỐN
爾時文殊師利法王子菩薩摩訶薩白佛言:「世尊!是諸菩薩,甚為難有,敬順佛故,發大誓願,於後惡世,護持讀說是法華經。世尊!菩薩摩訶薩於後惡世,云何能說是經?」佛告文殊師利:「若菩薩摩訶薩,於後惡世欲說是經,當安住四法。
Nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi pháp vương tử Bồ-tát Ma-ha tát bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Thị chư Bồ-tát, thậm vi nan hữu, kính thuận Phật cố, phát đại thệ nguyện, ư hậu ác thế, hộ trì độc thuyết thị pháp hoa kinh. Thế-tôn! Bồ-tát Ma-ha tát ư hậu ác thế, vân hà năng thuyết thị kinh?” Phật cáo Văn-thù-sư-lợi: “Nhược Bồ-tát Ma-ha tát, ư hậu ác thế dục thuyết thị kinh, đương an trụ tứ pháp.
Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Các vị Bồ tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: Ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này”. “Thế Tôn! Các vị đại Bồ tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?” Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: “Nếu vị Bồ tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp:
一者、安住菩薩行處及親近處,能為眾生演說是經。「文殊師利!云何名菩薩摩訶薩行處?若菩薩摩訶薩住忍辱地,柔和善順而不卒暴,心亦不驚;又復於法無所行,而觀諸法如實相,亦不行不分別,是名菩薩摩訶薩行處。云何名菩薩摩訶薩親近處?菩薩摩訶薩不親近國王、王子、大臣、官長,不親近諸外道梵志、尼揵子等,及造世俗文筆、讚詠外書,及路伽耶陀、逆路伽耶陀者;亦不親近諸有兇戲、相扠相撲,及那羅等種種變現之戲;又不親近旃陀羅,及畜猪羊鷄狗,畋獵漁捕諸惡律儀。如是人等,或時來者,則為說法,無所悕望。又不親近求聲聞比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,亦不問訊。若於房中,若經行處,若在講堂中,不共住止。或時來者,隨宜說法,無所悕求。「文殊師利!又菩薩摩訶薩不應於女人身,取能生欲想相而為說法,亦不樂見。若入他家,不與小女、處女、寡女等共語。亦復不近五種不男之人以為親厚,不獨入他家,若有因緣須獨入時,但一心念佛。若為女人說法,不露齒笑,不現胸臆,乃至為法猶不親厚,況復餘事。不樂畜年少弟子、沙彌、小兒,亦不樂與同師。常好坐禪,在於閑處,修攝其心。文殊師利!是名初親近處。」
Nhất giả, an trụ Bồ-tát hành xứ cập thân cận xứ, năng vi chúng sinh diễn thuyết thị kinh. “Văn-thù-sư-lợi! Vân hà danh Bồ-tát Ma-ha tát hành xứ? Nhược Bồ-tát Ma-ha tát trụ nhẫn nhục địa, nhu hòa thiện thuận nhi bất tốt bạo, tâm diệc bất kinh; hựu phục ư pháp vô sở hành, nhi quán chư pháp như thực tướng, diệc bất hành bất phân biệt, thị danh Bồ-tát Ma-ha tát hành xứ. Vân hà danh Bồ-tát Ma-ha tát thân cận xứ? Bồ-tát Ma-ha tát bất thân cận quốc vương, vương tử, đại thần, quan trường, bất thân cận chư ngoại đạo phạm chí, ni kiền tử đẳng, cập tạo thế tục văn bút, tán vịnh ngoại thư, cập lộ Già-da đà, nghịch lộ Già-da đà giả; diệc bất thân cận chư hữu hung hí, tướng xoa tướng phác, cập na la đẳng chủng chủng biến hiện chi hí; hựu bất thân cận chiên-đà-la, cập súc trư dương kê cẩu, điền liệp ngư bắt chư ác luật nghi. Như thị nhân đẳng, hoặc thời lai giả, tắc vi thuyết pháp, vô sở hy vọng. Hựu bất thân cận cầu thanh văn tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, diệc bất vấn tấn. Nhược ư phòng trung, nhược kinh hành xứ, nhược tại giảng đường trung, bất cộng trụ chỉ. Hoặc thời lai giả, tùy nghi thuyết pháp, vô sở hy cầu. “Văn-thù-sư-lợi! Hựu Bồ-tát Ma-ha tát bất ưng ư nữ nhân thân, thủ năng sinh dục tưởng tướng nhi vi thuyết pháp, diệc bất nhạo kiến. Nhược nhập tha gia, bất dữ tiểu nữ, xứ nữ, quả nữ đẳng cộng ngữ. Diệc phục bất cận ngũ chủng bất nam chi nhân dĩ vi thân hậu, bất độc nhập tha gia, nhược hữu nhân duyên tu độc nhập thời, đãn nhất tâm niệm Phật. Nhược vi nữ nhân thuyết pháp, bất lộ xỉ tiếu, bất hiện hung ức, nãi chí vi pháp do bất thân hậu, huống phục dư sự. Bất nhạo súc niên thiếu đệ tử, sa-di, tiểu nhi, diệc bất nhạo dữ đồng sư. Thường hảo tọa thiền, tại ư nhàn xứ, tu nhiếp kỳ tâm. Văn-thù-sư-lợi! Thị danh sơ thân cận xứ.”
Một, an trụ nơi “hành xứ” và nơi “thân cận xứ” của Bồ tát, thì có thể vì chúng sanh mà diễn nói kinh này. Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là chỗ “hành xứ” của đại Bồ tát? Nếu vị đại Bồ tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc, lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tướng như thật của các pháp (1), cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ “hành xứ” của Bồ tát. Thế nào gọi là chỗ “thân cận xứ” của đại Bồ tát? Vị đại Bồ tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi ngoại đạo phạm chí, ni kiền tử (2) v.v... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái “lộ già da đà” phái “nghịch lộ già da đà” (3), cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn na la (4) v.v... bày các cuộc chơi biến hiện. Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời Bồ tát vì nói pháp không có lòng mong cầu. Lại chẳng gần gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng người cầu quả Thanh Văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu. Văn Thù Sư Lợi! Lại vị đại Bồ tát chẳng nên ở nơi thân người nữ cho là tướng có thể sanh tư tưởng dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa v.v... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam (5) để làm thân hậu. Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thì chuyên một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói pháp thì chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác. Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình. Văn Thù Sư Lợi! Đó gọi là “chỗ thân cận” ban đầu.
「復次,菩薩摩訶薩觀一切法空,如實相,不顛倒、不動、不退、不轉,如虛空,無所有性。一切語言道斷,不生、不出、不起,無名、無相,實無所有,無量、無邊,無礙、無障,但以因緣有,從顛倒生故說。常樂觀如是法相,是名菩薩摩訶薩第二親近處。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, Bồ-tát Ma-ha tát quán nhất thiết pháp không, như thực tướng, bất điên đảo, bất động, bất thoái, bất chuyển, như hư không, vô sở hữu tính. Nhất thiết ngữ ngôn đạo đoạn, bất sinh, bất xuất, bất khởi, vô danh, vô tướng, thực vô sở hữu, vô lượng, vô biên, vô ngại, vô chướng, đãn dĩ nhân duyên hữu, tùng điên đảo sinh cố thuyết. Thường nhạo quán như thị pháp tướng, thị danh Bồ-tát Ma-ha tát đệ nhị thân cận xứ.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa, vị đại Bồ tát quán sát “Nhất thiết pháp không như thật tướng” chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có thật tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh cho nên nói, thường ưa quán sát pháp tướng như thế đó gọi là “chỗ thân cận” thứ hai của vị Đại Bồ tát. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若有菩薩,於後惡世,無怖畏心,欲說是經,應入行處,及親近處。常離國王,及國王子、大臣官長,兇險戲者,及旃陀羅、外道梵志。亦不親近,增上慢人,貪著小乘、三藏學者,破戒比丘,名字羅漢,及比丘尼,好戲笑者,深著五欲,求現滅度,諸優婆夷,皆勿親近。若是人等,以好心來,到菩薩所,為聞佛道。菩薩則以,無所畏心,不懷悕望,而為說法。寡女處女,及諸不男,皆勿親近,以為親厚。亦莫親近,屠兒魁膾,畋獵漁捕,為利殺害,販肉自活,衒賣女色,如是之人,皆勿親近。兇險相撲,種種嬉戲,諸婬女等,盡勿親近。莫獨屏處,為女說法,若說法時,無得戲笑。入里乞食,將一比丘,若無比丘,一心念佛。是則名為,行處近處,以此二處,能安樂說。又復不行,上中下法,有為無為,實不實法,亦不分別,是男是女。不得諸法,不知不見,是則名為,菩薩行處。一切諸法,空無所有,無有常住,亦無起滅,是名智者,所親近處。顛倒分別,諸法有無,是實非實,是生非生。在於閑處,修攝其心,安住不動,如須彌山。觀一切法,皆無所有,猶如虛空,無有堅固。不生不出,不動不退,常住一相,是名近處。若有比丘,於我滅後,入是行處、及親近處,說斯經時,無有怯弱。菩薩有時,入於靜室,以正憶念,隨義觀法。從禪定起,為諸國王、王子臣民、婆羅門等,開化演暢,說斯經典,其心安隱,無有怯弱。文殊師利!是名菩薩,安住初法,能於後世,說法華經。
“Nhược hữu Bồ-tát, ư hậu ác thế, vô bố úy tâm, dục thuyết thị kinh, ưng nhập hành xứ, cập thân cận xứ. Thường ly quốc vương, cập quốc vương tử, đại thần quan trường, hung hiểm hí giả, cập chiên-đà-la, ngoại đạo phạm chí. Diệc bất thân cận, tăng thượng mạn nhân, tham trước tiểu thừa, Tam tạng học giả, phá giới tỳ-kheo, danh tự la hán, cập tỳ-kheo ni, hảo hí tiếu giả, thâm trước ngũ dục, cầu hiện diệt độ, chư ưu-bà-di, giai vật thân cận. Nhược thị nhân đẳng, dĩ hảo tâm lai, đáo Bồ-tát sở, vi văn Phật đạo. Bồ-tát tắc dĩ, vô sở úy tâm, bất hoài hy vọng, nhi vi thuyết pháp. Quả nữ xứ nữ, cập chư bất nam, giai vật thân cận, dĩ vi thân hậu. Diệc mạc thân cận, đồ nhi khôi khoái, điền liệp ngư bắt, vi lợi sát hại, phiến nhục tự hoạt, huyễn mại nữ sắc, như thị chi nhân, giai vật thân cận. Hung hiểm tướng phác, chủng chủng hi hí, chư dâm nữ đẳng, tận vật thân cận. Mạc độc bình xứ, vi nữ thuyết pháp, nhược thuyết pháp thời, vô đắc hí tiếu. Nhập lý khất thực, tương nhất tỳ-kheo, nhược vô tỳ-kheo, nhất tâm niệm Phật. Thị tắc danh vi, hành xứ cận xứ, dĩ thử nhị xứ, năng an nhạo thuyết. Hựu phục bất hành, thượng trung hạ pháp, hữu vi vô vi, thực bất thực pháp, diệc bất phân biệt, thị nam thị nữ. Bất đắc chư pháp, bất tri bất kiến, thị tắc danh vi, Bồ-tát hành xứ. Nhất thiết chư pháp, không vô sở hữu, vô hữu thường trụ, diệc vô khởi diệt, thị danh trí giả, sở thân cận xứ. Điên đảo phân biệt, chư pháp hữu vô, thị thực phi thực, thị sinh phi sinh. Tại ư nhàn xứ, tu nhiếp kỳ tâm, an trụ bất động, như Tu-di sơn. Quán nhất thiết pháp, giai vô sở hữu, do như hư không, vô hữu kiên cố. Bất sinh bất xuất, bất động bất thoái, thường trụ nhất tướng, thị danh cận xứ. Nhược hữu tỳ-kheo, ư ngã diệt hậu, nhập thị hành xứ, cập thân cận xứ, thuyết tư kinh thời, vô hữu khiếp nhược. Bồ-tát hữu thời, nhập ư tĩnh thất, dĩ chính ức niệm, tùy nghĩa quán pháp. Tùng thiền định khởi, vi chư quốc vương, vương tử thần dân, bà-la-môn đẳng, khai hóa diễn sướng, thuyết tư kinh điển, kỳ tâm an ẩn, vô hữu khiếp nhược. Văn-thù-sư-lợi! Thị danh Bồ-tát, an trụ sơ pháp, năng ư hậu thế, thuyết pháp hoa kinh.
Nếu có vị Bồ tát
Ở trong đời ác sau
Lòng không hề sợ sệt
Muốn nói kinh pháp này
Nên trụ vào “hành xứ”
Và trụ “thân cận xứ”.
Thường xa rời quốc vương
Và con của quốc vương
Quan đại thần, quan lớn
Kẻ chơi việc hung hiểm
Cùng bọn chiên đà la
(6) Hàng ngoại đạo phạm chí
Cùng chẳng ưa gần gũi
Hạng người Tăng thượng mạn
Hàng học giả tham chấp
Kinh, luật, luận tiểu thừa
Những Tỳ kheo phá giới
Danh tự A la hán
Và những Tỳ kheo ni
Ưa thích chơi giỡn cười
Các vị Ưu bà di
Tham mê năm món dục
Cầu hiện tại diệt độ
Đều chớ có gần gũi.
Nếu những hạng người đó
Dùng tâm tốt mà đến
Tại chỗ của Bồ tát
Để vì nghe Phật đạo
Bồ tát thời nên dùng
Lòng không chút sợ sệt
Chẳng có niệm mong cầu
Mà vì chúng nói pháp.
Những gái góa, gái trinh
Và các kẻ bất nam
Đều chớ có gần gũi
Để cùng làm thân hậu.
Cũng chớ nên gần gũi
Kẻ đồ tể cắt thái
Săn bắn và chài lưới
Vì lợi mà giết hại
Bán thịt để tự sống
Buôn bán sắc gái đẹp
Những người như thế đó
Đều chớ có gần gũi.
Các cuộc chơi giỡn dữ
Hung hiểm đâm đánh nhau
Và những dâm nữ thảy
Trọn chớ có gần gũi.
Chớ nên riêng chỗ khuất
Vì người nữ nói pháp
Nếu lúc vì nói pháp
Chẳng được chơi giỡn cười
Khi vào xóm khất thực
Phải dắt một Tỳ kheo
Nếu không có Tỳ kheo
Phải một lòng niệm Phật
Đây thời gọi tên là
“Hành xứ” “thân cận xứ”.
Dùng hai xứ trên đây
Có thể an lạc nói.
Lại cũng chẳng vịn theo
Pháp thượng, trung và hạ
Hữu vi hay vô vi
Thực cùng pháp chẳng thực
Cũng chẳng có phân biệt
Là nam là nữ thảy
Lại chẳng được các pháp
Chẳng biết cũng chẳng thấy
Đây thời gọi tên là
“Hành xứ” của Bồ tát.
Tất cả các món pháp
Đều không, chẳng chỗ có
Không có chút thường trụ
Vẫn cũng không khởi diệt
Đây gọi là “thân cận”
Chỗ người trí hằng nương.
Chớ đảo điên phân biệt
Các pháp có hoặc không
Là thực, chẳng phải thực
Là sanh chẳng phải sanh,
Ở an nơi vắng vẻ
Sửa trau nhiếp tâm mình
An trụ chẳng lay động
Như thể núi Tu Di
Quán sát tất cả pháp
Thảy đều không thực có
Dường như khoảng hư không
Không có chúc bền chắc.
Chẳng sanh cũng chẳng xuất
Chẳng động cũng chẳng thối
Thường trụ một tướng thể
Đó gọi là “cận xứ”.
Nếu có vị Tỳ kheo
Sau khi ta diệt độ
Vào được “hành xứ” này
Và “thân cận xứ” đó
Thời lúc nói kinh này
Không có lòng e sợ
Vị Bồ tát có lúc
Vào nơi nhà tịnh thất
Lòng nghĩ nhớ chân chánh
Theo đúng nghĩa quán pháp.
Từ trong thiền định dậy
Vì các bậc Quốc vương
Vương tử và quan, dân
Hàng Bà la môn thảy
Mà khai hóa diễn bày
Rộng nói kinh điển này
Tâm vị đó an ổn
Không có chút khiếp nhược.
Văn Thù Sư Lợi này!
Đó gọi là Bồ tát
An trụ trong sơ pháp
Có thể ở đời sau
Diễn nói kinh Pháp Hoa.
「又,文殊師利!如來滅後,於末法中欲說是經,應住安樂行。若口宣說、若讀經時,不樂說人及經典過。亦不輕慢諸餘法師,不說他人好惡、長短。於聲聞人,亦不稱名說其過惡,亦不稱名讚歎其美,又亦不生怨嫌之心。善修如是安樂心故,諸有聽者不逆其意,有所難問,不以小乘法答,但以大乘而為解說,令得一切種智。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Hựu, Văn-thù-sư-lợi! Như-lai diệt hậu, ư mạt pháp trung dục thuyết thị kinh, ưng trụ an lạc hành. Nhược khẩu tuyên thuyết, nhược độc kinh thời, bất nhạo thuyết nhân cập kinh điển quá. Diệc bất khinh mạn chư dư pháp sư, bất thuyết tha nhân hảo ác, trường đoản. Ư thanh văn nhân, diệc bất xưng danh thuyết kỳ quá ác, diệc bất xưng danh tán thán kỳ mỹ, hựu diệc bất sinh oán hiềm chi tâm. Thiện tu như thị an lạc tâm cố, chư hữu thính giả bất nghịch kỳ ý, hữu sở nan vấn, bất dĩ tiểu thừa pháp đáp, đãn dĩ đại thừa nhi vi giải thuyết, lệnh đắc nhất thiết chủng trí.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại Văn Thù Sư Lợi! Sau khi đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó. Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm vì khéo tu lòng an lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc “Nhất thiết chủng trí”. Khi ấy, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「菩薩常樂,安隱說法,於清淨地,而施床座。以油塗身,澡浴塵穢,著新淨衣,內外俱淨,安處法座,隨問為說。若有比丘,及比丘尼,諸優婆塞,及優婆夷,國王王子、群臣士民,以微妙義,和顏為說。若有難問,隨義而答,因緣譬喻,敷演分別。以是方便,皆使發心,漸漸增益,入於佛道。除嬾惰意,及懈怠想,離諸憂惱,慈心說法。晝夜常說,無上道教,以諸因緣、無量譬喻,開示眾生,咸令歡喜。衣服臥具,飲食醫藥,而於其中,無所悕望。但一心念,說法因緣,願成佛道,令眾亦爾。是則大利,安樂供養。我滅度後,若有比丘,能演說斯,妙法華經。心無嫉恚,諸惱障礙,亦無憂愁,及罵詈者,又無怖畏加刀杖等,亦無擯出,安住忍故。智者如是,善修其心,能住安樂,如我上說。其人功德,千萬億劫,算數譬喻,說不能盡。
“Bồ-tát thường nhạo, an ẩn thuyết pháp, ư thanh tịnh địa, nhi thi sàng tòa. Dĩ dầu đồ thân, táo dục trần uế, trước tân tịnh y, nội ngoại câu tịnh, an xứ pháp tòa, tùy vấn vi thuyết. Nhược hữu tỳ-kheo, cập tỳ-kheo ni, chư ưu-bà-tắc, cập ưu-bà-di, quốc vương vương tử, quần thần sĩ dân, dĩ vi diệu nghĩa, hòa nhan vi thuyết. Nhược hữu nan vấn, tùy nghĩa nhi đáp, nhân duyên thí dụ, phu diễn phân biệt. Dĩ thị phương tiện, giai sử phát tâm, tiệm tiệm tăng ích, nhập ư Phật đạo. Trừ lãn đọa ý, cập giải đãi tưởng, ly chư ưu não, từ tâm thuyết pháp. Trú dạ thường thuyết, vô thượng đạo giáo, dĩ chư nhân duyên, vô lượng thí dụ, khai thị chúng sinh, hàm lệnh hoan hỷ. Y phục ngọa cụ, ẩm thực y dược, nhi ư kỳ trung, vô sở hy vọng. Đãn nhất tâm niệm, thuyết pháp nhân duyên, nguyện thành Phật đạo, lệnh chúng diệc nhĩ. Thị tắc đại lợi, an lạc cúng dường. Ngã diệt độ hậu, nhược hữu tỳ-kheo, năng diễn thuyết tư, diệu pháp hoa kinh. Tâm vô tật huệ, chư não chướng ngại, diệc vô ưu sầu, cập mạ lị giả, hựu vô bố úy gia đao trượng đẳng, diệc vô tấn xuất, an trụ nhẫn cố. Trí giả như thị, thiện tu kỳ tâm, năng trụ an lạc, như ngã thượng thuyết. Kỳ nhân công đức, thiên vạn ức kiếp, toán số thí dụ, thuyết bất năng tận.
Vị Bồ Tát thường ưa
An ổn nói kinh pháp
Ở nơi chỗ thanh tịnh
Mà sắp đặt sàng tòa
Dùng hương dầu xoa thân
Tắm gội các bụi dơ
Mặc y mới sạch sẽ
Trong ngoài đều sạch thơm
Ngồi an nơi pháp tòa
Theo chỗ hỏi vì nói.
Nếu có vị Tỳ kheo
Cùng với Tỳ kheo ni
Các hàng Ưu bà tắc
Và hàng Uu bà di
Quốc vương và vương tử,
Các quan cùng sĩ dân
Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu
Vui vẻ vì họ nói
Nếu có người gạn hỏi
Theo đúng nghĩa mà đáp
Nhân duyên hoặc thí dụ
Giãi bày phân biệt nói
Dùng trí phương tiện này
Đều khiến kia phát tâm
Lần lần thêm đông nhiều
Vào ở trong Phật đạo.
Trừ lòng lười biếng trễ
Cùng với tưởng giải đãi
Xa rời các ưu não
Tâm từ lành nói pháp
Ngày đêm thường tuyên nói
Giáo pháp vô thượng đạo
Dùng các việc nhân duyên
Vô lượng món thí dụ
Mở bày dạy chúng sanh
Đều khiến chúng vui mừng
Y phục cùng đồ nằm
Đồ ăn uống thuốc thang
Mà ở nơi trong đó
Không có chỗ mong cầu
Chỉ chuyên một lòng nhớ
Nhân duyên nói kinh pháp
Nguyện ta thành Phật đạo
Khiến mọi người cũng vậy
Đó là lợi lành lớn
Là an vui cúng dường.
Sau khi ta diệt độ
Nếu có vị Tỳ kheo
Có thể diễn nói được
Kinh Diệu Pháp Hoa này
Lòng không chút ghen hờn
Không các não chướng ngại
Cũng lại không ưu sầu
Và cùng mắng nhiếc thảy
Lại cũng không sợ sệt
Không dao gậy đánh đập
Cũng không xua đuổi ra
Vì an trụ nhẫn vậy.
Người trí khéo tu tập
Tâm mình được dường ấy
Thời hay trụ an lạc
Như ta nói ở trên
Công đức của người đó
Trong nghìn muôn ức kiếp
Tính kể hay thí dụ Nói chẳng thể hết được.
「又,文殊師利!菩薩摩訶薩,於後末世法欲滅時,受持、讀誦斯經典者,無懷嫉妬諂誑之心,亦勿輕罵學佛道者,求其長短。若比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,求聲聞者、求辟支佛者、求菩薩道者,無得惱之,令其疑悔,語其人言:『汝等去道甚遠,終不能得一切種智。所以者何?汝是放逸之人,於道懈怠故。』又亦不應戲論諸法,有所諍競。當於一切眾生起大悲想,於諸如來起慈父想,於諸菩薩起大師想,於十方諸大菩薩,常應深心恭敬禮拜。於一切眾生,平等說法,以順法故,不多不少,乃至深愛法者,亦不為多說。」「文殊師利!是菩薩摩訶薩,於後末世法欲滅時,有成就是第三安樂行者,說是法時,無能惱亂,得好同學共讀誦是經,亦得大眾而來聽受,聽已能持,持已能誦,誦已能說,說已能書、若使人書,供養經卷,恭敬、尊重、讚歎。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Hựu, Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát Ma-ha tát, ư hậu mạt thế pháp dục diệt thời, thọ trì, độc tụng tư kinh điển giả, vô hoài tật đố siểm cuống chi tâm, diệc vật khinh mạ học Phật đạo giả, cầu kỳ trường đoản. Nhược tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cầu thanh văn giả, cầu Bích-chi Phật giả, cầu Bồ-tát đạo giả, vô đắc não chi, lệnh kỳ nghi hối, ngữ kỳ nhân ngôn: ‘Nhữ đẳng khứ đạo thậm viễn, chung bất năng đắc nhất thiết chủng trí. Sở dĩ giả hà? Nhữ thị phóng dật chi nhân, ư đạo giải đãi cố.’ Hựu diệc bất ưng hí luận chư pháp, hữu sở tránh cạnh. Đương ư nhất thiết chúng sinh khởi đại bi tưởng, ư chư Như-lai khởi từ phụ tưởng, ư chư Bồ-tát khởi đại sư tưởng, ư thập phương chư đại Bồ-tát, thường ưng thâm tâm cung kính lễ bái. Ư nhất thiết chúng sinh, bình đẳng thuyết pháp, dĩ thuận pháp cố, bất đa bất thiểu, nãi chí thâm ái pháp giả, diệc bất vi đa thuyết.” “Văn-thù-sư-lợi! Thị Bồ-tát Ma-ha tát, ư hậu mạt thế pháp dục diệt thời, hữu thành tựu thị đệ tam an lạc hành giả, thuyết thị pháp thời, vô năng não loạn, đắc hảo đồng học cộng độc tụng thị kinh, diệc đắc đại chúng nhi lai thính thọ, thính dĩ năng trì, trì dĩ năng tụng, tụng dĩ năng thuyết, thuyết dĩ năng thư, nhược sử nhân thư, cúng dường kinh quyển, cung kính, tôn trọng, tán thán.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thọ trì đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ghen ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc cầu Thanh Văn, hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sanh lòng nghi hối mà nói với người đó rằng: “Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc Nhất thiết chủng trí”. Vì sao? “Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo”. Lại cũng chẳng nên hý luận các pháp có chỗ tranh cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sanh, khởi tưởng đại bi, đối với các đức Như Lai sanh tưởng như cha lành, đối với các Bồ tát, tưởng là bậc đại sư, với các Đại Bồ tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều. Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt, nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây, thì lúc nói pháp này không ai có thể não loạn được bạn đồng học tốt chung cùng đọc tụng kinh này, cũng được đại chúng thường đến nghe thọ. Nghe rồi hay nhớ, nhớ rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay chép, hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển cung kính tôn trọng ngợi khen. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若欲說是經,當捨嫉恚慢、諂誑邪偽心,常修質直行。不輕蔑於人,亦不戲論法,不令他疑悔,云汝不得佛。是佛子說法,常柔和能忍,慈悲於一切,不生懈怠心。十方大菩薩,愍眾故行道,應生恭敬心,是則我大師。於諸佛世尊,生無上父想,破於憍慢心,說法無障礙。第三法如是,智者應守護,一心安樂行,無量眾所敬。
“Nhược dục thuyết thị kinh, đương xả tật huệ mạn, siểm cuống tà ngụy tâm, thường tu chất trực hành. Bất khinh miệt ư nhân, diệc bất hí luận pháp, bất lệnh tha nghi hối, vân nhữ bất đắc Phật. Thị Phật tử thuyết pháp, thường nhu hòa năng nhẫn, từ bi ư nhất thiết, bất sinh giải đãi tâm. Thập phương đại Bồ-tát, mẫn chúng cố hành đạo, ưng sinh cung kính tâm, thị tắc ngã đại sư. Ư chư Phật Thế-tôn, sinh vô thượng phụ tưởng, phá ư kiêu mạn tâm, thuyết pháp vô chướng ngại. Đệ tam pháp như thị, trí giả ưng thủ hộ, nhất tâm an lạc hành, vô lượng chúng sở kính.
Nếu muốn nói kinh này
Phải bỏ lòng ghen hờn
Ngạo dua dối tà ngụy
Thường tu hạnh chất trực
Chẳng nên khinh miệt người
Cũng chẳng hý luận pháp
Chẳng khiến kia nghi hối
Rằng ngươi chẳng thành Phật
Phật tử đó nói pháp
Thường nhu hòa hay nhẫn
Từ bi với tất cả
Chúng sanh lòng biếng trễ
Bồ tát lớn mười phương
Thương chúng nên hành đạo
Phải sanh lòng cung kính
Đó là Đại sư ta,
Với các Phật Thế Tôn
Tưởng là cha vô thượng,
Phá nơi lòng kiêu mạn
Nói pháp không chướng ngại
Pháp thứ ba như thế
Người trí phải giữ gìn
Một lòng an lạc hạnh
Vô lượng chúng cung kính.
「又,文殊師利!菩薩摩訶薩,於後末世法欲滅時,有持是法華經者,於在家、出家人中生大慈心,於非菩薩人中生大悲心,應作是念:『如是之人,則為大失。如來方便隨宜說法,不聞不知不覺、不問不信不解,其人雖不問不信不解是經,我得阿耨多羅三藐三菩提時,隨在何地,以神通力、智慧力引之,令得住是法中。』文殊師利!是菩薩摩訶薩,於如來滅後、有成就此第四法者,說是法時,無有過失,常為比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷、國王、王子、大臣、人民、婆羅門、居士等,供養恭敬、尊重讚歎。虛空諸天,為聽法故亦常隨侍。若在聚落、城邑、空閑林中,有人來欲難問者,諸天晝夜常為法故而衛護之,能令聽者皆得歡喜。所以者何?此經是一切過去、未來、現在諸佛神力所護故。文殊師利!是法華經,於無量國中,乃至名字不可得聞,何況得見受持讀誦?」「文殊師利!譬如強力轉輪聖王,欲以威勢降伏諸國,而諸小王不順其命,時轉輪王起種種兵而往討罰。王見兵眾戰有功者,即大歡喜,隨功賞賜,或與田宅、聚落、城邑;或與衣服、嚴身之具;或與種種珍寶:金、銀、琉璃、車𤦲、馬腦、珊瑚、虎珀,象馬車乘,奴婢人民。唯髻中明珠,不以與之。所以者何?獨王頂上有此一珠,若以與之,王諸眷屬必大驚怪。「文殊師利!如來亦復如是,以禪定智慧力得法國土,王於三界,而諸魔王不肯順伏。如來賢聖諸將與之共戰,其有功者,心亦歡喜,於四眾中為說諸經,令其心悅,賜以禪定、解脫、無漏根力、諸法之財,又復賜與涅槃之城,言得滅度,引導其心,令皆歡喜,而不為說是法華經。「文殊師利!如轉輪王,見諸兵眾有大功者,心甚歡喜,以此難信之珠,久在髻中不妄與人,而今與之。如來亦復如是,於三界中為大法王,以法教化一切眾生。見賢聖軍,與五陰魔、煩惱魔、死魔共戰,有大功勳,滅三毒,出三界,破魔網,爾時如來亦大歡喜。此法華經,能令眾生至一切智,一切世間多怨難信,先所未說而今說之。文殊師利!此法華經,是諸如來第一之說,於諸說中最為甚深,末後賜與,如彼強力之王久護明珠,今乃與之。文殊師利!此法華經,諸佛如來祕密之藏,於諸經中最在其上,長夜守護不妄宣說,始於今日乃與汝等而敷演之。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Hựu, Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát Ma-ha tát, ư hậu mạt thế pháp dục diệt thời, hữu trì thị pháp hoa kinh giả, ư tại gia, xuất gia nhân trung sinh đại từ tâm, ư phi Bồ-tát nhân trung sinh đại bi tâm, ưng tác thị niệm: ‘Như thị chi nhân, tắc vi đại thất. Như-lai phương tiện tùy nghi thuyết pháp, bất văn bất tri bất giác, bất vấn bất tín bất giải, kỳ nhân tuy bất vấn bất tín bất giải thị kinh, ngã đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thời, tùy tại hà địa, dĩ thần thông lực, trí tuệ lực dẫn chi, lệnh đắc trụ thị pháp trung.’ Văn-thù-sư-lợi! Thị Bồ-tát Ma-ha tát, ư Như-lai diệt hậu, hữu thành tựu thử đệ tứ pháp giả, thuyết thị pháp thời, vô hữu quá thất, thường vi tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, bà-la-môn, cư sĩ đẳng, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán. Hư không chư thiên, vi thính pháp cố diệc thường tùy thị. Nhược tại tụ lạc, thành ấp, không nhàn lâm trung, hữu nhân lai dục nan vấn giả, chư thiên trú dạ thường vi pháp cố nhi vệ hộ chi, năng lệnh thính giả giai đắc hoan hỷ. Sở dĩ giả hà? Thử kinh thị nhất thiết quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật thần lực sở hộ cố. Văn-thù-sư-lợi! Thị pháp hoa kinh, ư vô lượng quốc trung, nãi chí danh tự bất khả đắc văn, hà huống đắc kiến thọ trì độc tụng?” “Văn-thù-sư-lợi! Thí như cường lực chuyển luân thánh vương, dục dĩ uy thế hàng phục chư quốc, nhi chư tiểu vương bất thuận kỳ mệnh, thời chuyển luân vương khởi chủng chủng binh nhi vãng thảo phạt. Vương kiến binh chúng chiến hữu công giả, tức đại hoan hỷ, tùy công thưởng tứ, hoặc dữ điền trạch, tụ lạc, thành ấp; hoặc dữ y phục, nghiêm thân chi cụ; hoặc dữ chủng chủng trân bảo: Kim, ngân, lưu-ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, tượng mã xa thừa, nô tỳ nhân dân. Duy kết trung minh châu, bất dĩ dữ chi. Sở dĩ giả hà? Độc vương đỉnh thượng hữu thử nhất châu, nhược dĩ dữ chi, vương chư quyến thuộc tất đại kinh quái. “Văn-thù-sư-lợi! Như-lai diệc phục như thị, dĩ thiền định trí tuệ lực đắc pháp quốc độ, vương ư tam giới, nhi chư ma vương bất khẳng thuận phục. Như-lai hiền thánh chư tương dữ chi cộng chiến, kỳ hữu công giả, tâm diệc hoan hỷ, ư tứ chúng trung vi thuyết chư kinh, lệnh kỳ tâm duyệt, tứ dĩ thiền định, giải thoát, vô lậu căn lực, chư pháp chi tài, hựu phục tứ dữ Niết-bàn chi thành, ngôn đắc diệt độ, dẫn đạo kỳ tâm, lệnh giai hoan hỷ, nhi bất vi thuyết thị pháp hoa kinh. “Văn-thù-sư-lợi! Như chuyển luân vương, kiến chư binh chúng hữu đại công giả, tâm thậm hoan hỷ, dĩ thử nan tín chi châu, cửu tại kết trung bất vọng dữ nhân, nhi kim dữ chi. Như-lai diệc phục như thị, ư tam giới trung vi đại pháp vương, dĩ pháp giáo hóa nhất thiết chúng sinh. Kiến hiền thánh quân, dữ ngũ âm ma, phiền não ma, tử ma cộng chiến, hữu đại công huân, diệt tam độc, xuất tam giới, phá ma võng, nhĩ thời Như-lai diệc đại hoan hỷ. Thử pháp hoa kinh, năng lệnh chúng sinh chí nhất thiết trí, nhất thiết thế gian đa oán nan tín, tiên sở vị thuyết nhi kim thuyết chi. Văn-thù-sư-lợi! Thử pháp hoa kinh, thị chư Như-lai đệ nhất chi thuyết, ư chư thuyết trung tối vi thậm thâm, mạt hậu tứ dữ, như bỉ cường lực chi vương cửu hộ minh châu, kim nãi dữ chi. Văn-thù-sư-lợi! Thử pháp hoa kinh, chư Phật Như-lai bí mật chi tàng, ư chư kinh trung tối tại kỳ thượng, trường dạ thủ hộ bất vọng tuyên thuyết, thủy ư kim nhật nãi dữ nhữ đẳng nhi phu diễn chi.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại Văn Thù Sư Lợi! Các vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt có vị nào trì kinh Pháp Hoa này ở trong hàng người tại gia, xuất gia sanh lòng từ lớn, ở trong hạng người chẳng phải Bồ tát sanh lòng bi lớn, phải nghĩ thế này: Những người như thế thì là mất lợi lớn. Đức Như Lai phương tiện tùy nghi nói pháp chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng tin, chẳng hỏi. Người đó dầu chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, lúc ta được vô thượng chánh đẳng chánh giác, người đó tùy ở chỗ nào, ta dùng sức thần thông, sức trí huệ dẫn dắt đó khiến được trụ trong pháp này. Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát đó ở sau lúc Như Lai diệt độ, nếu thành tựu được pháp thứ tư này thời lúc nói pháp này không có lầm lỗi, thường được hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân bà la môn, cư sĩ thảy cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, hàng chư thiên ở trên hư không vì nghe pháp cũng thường theo hầu. Nếu ở trong xóm làng thành ấp, rừng cây vắng vẻ, có người đến muốn gạn hỏi, hàng chư thiên ngày đêm thường vì pháp mà hộ vệ đó, có thể khiến người nghe đều được vui mừng. Vì sao? Vì kinh này được sức thần của tất cả đức Phật thuở quá khứ, vị lai, hiện tại giữ gìn vậy. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này ở trong vô lượng cõi nước, nhẫn đến danh tự còn chẳng được nghe, hà huống là được thấy thọ trì, đọc tụng. Văn Thù Sư Lợi! Thí như vua Chuyển luân thánh vương (10) sức lực mạnh mẽ muốn dùng uy thế hàng phục các nước, mà các vua nhỏ chẳng thuận mệnh lệnh, bấy giờ Chuyển luân thánh vương đem các đạo binh ra đánh dẹp, vua thấy binh chúng những người đánh giặc có công, liền rất vui mừng theo công mà thưởng ban. Hoặc ban cho ruộng, nhà, xóm, làng, thành, ấp, hoặc ban cho đồ y phục trang nghiêm nơi thân, hoặc cho các món trân bảo, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, voi, ngựa, xe, cộ, tôi tớ, nhân dân, chỉ viên minh châu trong búi tóc chẳng đem cho đó. Vì sao? Vì riêng trên đỉnh vua có một viên châu này, nếu đem cho đó thời các quyến thuộc của vua ắt rất kinh lạ. Văn Thù Sư Lợi! Như Lai cũng như thế, dùng sức thiền định trí huệ được cõi nước pháp, giáo hóa trong ba cõi mà ma vương chẳng khứng thuận phục, các tướng hiền thánh của Như Lai cùng ma đánh nhau. Những người có công lòng cũng vui mừng, ở trong hàng chúng vì nói các kinh khiến tâm kia vui thích, ban cho các pháp thiền định, giải thoát, vô lậu căn lực. Và lại ban cho thành Niết Bàn, bảo rằng được diệt độ để dẫn dắt lòng chúng làm cho đều được vui mừng, mà chẳng vì đó nói kinh Pháp Hoa này. Văn Thù Sư Lợi! Như vua Chuyển Luân thấy các binh chúng những người có công lớn, đem viên minh châu khó tin từ lâu ở trong búi tóc chẳng vọng cho người, mà nay cho đó. Đức Như Lai cũng lại như thế, làm vị đại Pháp vương trong ba cõi, đem pháp mầu giáo hóa tất cả chúng sanh. Thấy quân hiền thánh cùng ma ngũ ấm, ma phiền não (7), ma chết, đánh nhau có công lao lớn, diệt ba độc, khỏi ba cõi, phá lưới ma. Lúc ấy Như Lai cũng rất vui mừng, kinh Pháp hoa này có thể khiến chúng sanh đến bậc “Nhất thiết trí” là pháp mà tất cả thế gian nhiều oán ghét, khó tin, trước chưa từng nói mà nay nói đó. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhất của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vua sức mạnh kia lâu giữ gìn viên minh châu mà nay mới cho đó. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của các đức Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc trên hết, lâu ngày giữ gìn chẳng vọng tuyên nói, mới ở ngày nay cùng với các ông mà bày nói đó. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「常行忍辱,哀愍一切,乃能演說,佛所讚經。後末世時,持此經者,於家出家,及非菩薩,應生慈悲,斯等不聞,不信是經,則為大失。我得佛道,以諸方便,為說此法,令住其中。譬如強力,轉輪之王,兵戰有功,賞賜諸物,象馬車乘,嚴身之具,及諸田宅,聚落城邑,或與衣服,種種珍寶,奴婢財物,歡喜賜與。如有勇健,能為難事,王解髻中,明珠賜之。如來亦爾,為諸法王,忍辱大力,智慧寶藏,以大慈悲,如法化世。見一切人、受諸苦惱,欲求解脫,與諸魔戰。為是眾生,說種種法,以大方便,說此諸經。既知眾生,得其力已,末後乃為,說是法華。如王解髻,明珠與之。此經為尊,眾經中上,我常守護,不妄開示,今正是時,為汝等說。我滅度後,求佛道者,欲得安隱,演說斯經,應當親近,如是四法。讀是經者,常無憂惱,又無病痛,顏色鮮白,不生貧窮、卑賤醜陋。眾生樂見,如慕賢聖,天諸童子,以為給使。刀杖不加,毒不能害,若人惡罵,口則閉塞。遊行無畏,如師子王,智慧光明,如日之照。若於夢中,但見妙事。見諸如來,坐師子座,諸比丘眾、圍繞說法。又見龍神、阿修羅等,數如恒沙,恭敬合掌,自見其身,而為說法。又見諸佛,身相金色,放無量光,照於一切,以梵音聲,演說諸法。佛為四眾,說無上法,見身處中,合掌讚佛,聞法歡喜,而為供養,得陀羅尼,證不退智。佛知其心,深入佛道,即為授記,成最正覺:『汝善男子!當於來世,得無量智,佛之大道。國土嚴淨,廣大無比;亦有四眾,合掌聽法。』又見自身,在山林中,修習善法,證諸實相,深入禪定,見十方佛。諸佛身金色,百福相莊嚴,聞法為人說,常有是好夢。又夢作國王,捨宮殿眷屬,及上妙五欲,行詣於道場。在菩提樹下,而處師子座,求道過七日,得諸佛之智。成無上道已,起而轉法輪,為四眾說法,經千萬億劫,說無漏妙法,度無量眾生。後當入涅槃,如烟盡燈滅。若後惡世中,說是第一法,是人得大利,如上諸功德。」
“Thường hành nhẫn nhục, ai mẫn nhất thiết, nãi năng diễn thuyết, Phật sở tán kinh. Hậu mạt thế thời, trì thử kinh giả, ư gia xuất gia, cập phi Bồ-tát, ưng sinh từ bi, tư đẳng bất văn, bất tín thị kinh, tắc vi đại thất. Ngã đắc Phật đạo, dĩ chư phương tiện, vi thuyết thử pháp, lệnh trụ kỳ trung. Thí như cường lực, chuyển luân chi vương, binh chiến hữu công, thưởng tứ chư vật, tượng mã xa thừa, nghiêm thân chi cụ, cập chư điền trạch, tụ lạc thành ấp, hoặc dữ y phục, chủng chủng trân bảo, nô tỳ tài vật, hoan hỷ tứ dữ. Như hữu dũng kiện, năng vi nan sự, vương giải kết trung, minh châu tứ chi. Như-lai diệc nhĩ, vi chư pháp vương, nhẫn nhục đại lực, trí tuệ bảo tàng, dĩ đại từ bi, như pháp hóa thế. Kiến nhất thiết nhân, thọ chư khổ não, dục cầu giải thoát, dữ chư ma chiến. Vi thị chúng sinh, thuyết chủng chủng pháp, dĩ đại phương tiện, thuyết thử chư kinh. Ký tri chúng sinh, đắc kỳ lực dĩ, mạt hậu nãi vi, thuyết thị pháp hoa. Như vương giải kết, minh châu dữ chi. Thử kinh vi tôn, chúng kinh trung thượng, ngã thường thủ hộ, bất vọng khai thị, kim chính thị thời, vi nhữ đẳng thuyết. Ngã diệt độ hậu, cầu Phật đạo giả, dục đắc an ẩn, diễn thuyết tư kinh, ưng đương thân cận, như thị tứ pháp. Độc thị kinh giả, thường vô ưu não, hựu vô bệnh thống, nhan sắc tiên bạch, bất sinh bần cùng, ti tiện xú lậu. Chúng sinh lạc kiến, như mộ hiền thánh, thiên chư đồng tử, dĩ vi cấp sử. Đao trượng bất gia, độc bất năng hại, nhược nhân ác mạ, khẩu tắc bế tắc. Du hành vô úy, như sư tử vương, trí tuệ quang minh, như nhật chi chiếu. Nhược ư mộng trung, đãn kiến diệu sự. Kiến chư Như-lai, tọa sư tử tòa, chư tỳ-kheo chúng, vi nhiễu thuyết pháp. Hựu kiến long thần, a-tu-la đẳng, số như hằng sa, cung kính hợp chưởng, tự kiến kỳ thân, nhi vi thuyết pháp. Hựu kiến chư Phật, thân tướng kim sắc, phóng vô lượng quang, chiếu ư nhất thiết, dĩ phạm âm thanh, diễn thuyết chư pháp. Phật vi tứ chúng, thuyết vô thượng pháp, kiến thân xứ trung, hợp chưởng tán Phật, văn pháp hoan hỷ, nhi vi cúng dường, đắc đà-la-ni, chứng bất thoái trí. Phật tri kỳ tâm, thâm nhập Phật đạo, tức vi thụ ký, thành tối chính giác: ‘Nhữ thiện nam tử! Đương ư lai thế, đắc vô lượng trí, Phật chi đại đạo. Quốc độ nghiêm tịnh, quảng đại vô tỷ; diệc hữu tứ chúng, hợp chưởng thính pháp.’ Hựu kiến tự thân, tại sơn lâm trung, tu tập thiện pháp, chứng chư thực tướng, thâm nhập thiền định, kiến thập phương Phật. Chư Phật thân kim sắc, bách phúc tướng trang nghiêm, văn pháp vi nhân thuyết, thường hữu thị hảo mộng. Hựu mộng tác quốc vương, xả cung điện quyến thuộc, cập thượng diệu ngũ dục, hành nghệ ư đạo tràng. Tại Bồ-đề thụ hạ, nhi xứ sư tử tòa, cầu đạo quá thất nhật, đắc chư Phật chi trí. Thành vô thượng đạo dĩ, khởi nhi chuyển pháp luân, vi tứ chúng thuyết pháp, kinh thiên vạn ức kiếp, thuyết vô lậu diệu pháp, độ vô lượng chúng sinh. Hậu đương nhập Niết-bàn, như yên tận đăng diệt. Nhược hậu ác thế trung, thuyết thị đệ nhất pháp, thị nhân đắc đại lợi, như thượng chư công đức.”
Thường tu hành nhẫn nhục
Thương xót tất cả chúng
Mới có thể diễn nói
Kinh của Phật khen ngợi.
Đời mạt thế về sau
Người thọ trì kinh này
Với tại gia, xuất gia
Và chẳng phải Bồ tát,
Nên sanh lòng từ bi
Những người đó chẳng nghe
Chẳng tin kinh pháp này
Thời là mất lợi lớn
Khi ta chứng Phật đạo
Dùng các sức phương tiện
Vì nói kinh pháp này
Làm cho trụ trong đó.
Thí như vua Chuyển Luân
Thánh vương có sức mạnh
Binh tướng đánh có công
Thưởng ban những đồ vật
Voi, ngựa và xe cộ
Đồ trang nghiêm nơi thân,
Và những ruộng cùng nhà
Xóm làng thành ấp thảy
Hoặc ban cho y phục
Các món trân báu lạ
Tôi tớ cùng của cải
Đều vui mừng ban cho,
Nếu có người mạnh mẽ
Hay làm được việc khó
Vua mới mở búi tóc
Lấy minh châu cho đó.
Đức Như Lai cũng thế
Là vua trong các pháp
Nhẫn nhục sức rất lớn
Tạng báu trí huệ sáng
Dùng lòng từ bi lớn
Đúng như pháp độ đời
Thấy tất cả mọi người
Chịu các điều khổ não
Muốn cầu được giải thoát
Cùng các ma đánh nhau
Phật vì chúng sanh đó
Nói các món kinh pháp
Dùng sức phương tiện lớn
Nói các kinh điển đó,
Đã biết loài chúng sanh
Được sức mạnh kia rồi
Rốt sau mới vì chúng
Nói kinh Pháp Hoa này
Như vua thánh mở tóc
Lấy minh châu cho đó.
Kinh này là bậc tôn
Trên hết trong các kinh
Ta thường giữ gìn luôn
Chẳng vọng vì mở bày
Nay chính đã phải lúc
Vì các ông mà nói.
Sau khi ta diệt độ
Người mong cầu Phật đạo
Muốn được trụ an ổn
Diễn nói kinh pháp này
Phải nên thường gần gũi
Bốn pháp trên như thế.
Người đọc tụng kinh này
Thường không bị ưu não
Lại không có bệnh đau
Nhan sắc được trắng sạch
Chẳng sanh nhà bần cùng
Dòng ti tiện xấu xa
Chúng sanh thường ưa thấy.
Như ham mộ hiền thánh
Các đồng tử cõi trời
Dùng làm kẻ sai khiến
Dao gậy chẳng đến được
Độc dữ chẳng hại được
Nếu người muốn mắng nhiếc
Miệng thì liền ngậm bít
Dạo đi không sợ sệt
Dường như sư tử vương
Trí huệ rất sáng suốt
Như mặt trời chói sáng.
Nếu ở trong chiêm bao
Chỉ thấy những việc tốt
Thấy các đức Như Lai
Ngồi trên tòa sư tử
Các hàng chúng tỳ kheo
Vây quanh nghe nói pháp.
Lại thấy các long thần
Cùng A tu la thảy
Số như cát sông Hằng
Đều cung kính chắp tay
Tự ngó thấy thân mình
Mà vì chúng nói pháp.
Lại thấy các đức Phật
Thân tướng thuần sắc vàng
Phóng vô lượng hào quang
Soi khắp đến tất cả
Dùng giọng tiếng phạm âm
Mà diễn nói các pháp
Phật vì hàng tứ chúng
Nói kinh pháp vô thượng
Thấy thân mình ở trong
Chắp tay khen ngợi Phật
Nghe pháp lòng vui mừng
Mà vì cúng dường Phật
Được pháp Đà la ni
Chứng bậc bất thối trí,
Phật biết tâm người đó
Đã sâu vào Phật đạo
Liền vì thọ ký cho
Sẽ thành tối Chánh giác.
Thiện nam tử người này!
Sẽ ở đời vị lai
Chứng được vô lượng trí
Nên đạo lớn của Phật,
Cõi nước rất nghiêm tịnh
Rộng lớn không đâu bằng
Cũng có hàng tứ chúng
Chắp tay nghe nói pháp.
Lại thấy thân của mình
Ở trong rừng núi vắng
Tu tập các pháp lành
Chứng thực tướng các pháp
Sâu vào trong thiền định
Thấy các Phật mười phương
Các Phật thân sắc vàng
Trăm phước tướng trang nghiêm
Nghe pháp vì người nói
Thường có mộng tốt đó.
Lại mộng làm quốc vương
Bỏ cung điện quyến thuộc
Và ngũ dục thượng diệu
Đi đến nơi đạo tràng
Ở dưới gốc Bồ Đề
Mà ngồi tòa sư tử
Cầu đạo quá bảy ngày
Được trí của các Phật
Thành đạo vô thượng rồi
Dậy mà chuyển pháp luân
Vì bốn chúng nói pháp
Trải nghìn muôn ức kiếp
Nói pháp mầu vô lậu
Độ vô lượng chúng sanh
Sau sẽ vào Niết bàn
Như khói hết đèn tắt.
Nếu trong đời ác sau
Nói pháp bậc nhất này
Người đó được lợi lớn
Các công đức như trên.
PHẨM “TÙNG ĐỊA DÕNG XUẤT” THỨ MƯỜI LĂM
妙法蓮華經從地踊出品第十五
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh tùng địa dũng xuất phẩm đệ thập ngũ
PHẨM “TÙNG ĐỊA DÕNG XUẤT” THỨ MƯỜI LĂM
爾時他方國土諸來菩薩摩訶薩,過八恒河沙數,於大眾中起立,合掌作禮而白佛言:「世尊!若聽我等,於佛滅後,在此娑婆世界,懃加精進,護持、讀誦、書寫、供養是經典者,當於此土而廣說之。」爾時佛告諸菩薩摩訶薩眾:「止,善男子!不須汝等護持此經。所以者何?我娑婆世界自有六萬恒河沙等菩薩摩訶薩,一一菩薩各有六萬恒河沙眷屬,是諸人等,能於我滅後,護持、讀誦、廣說此經。」
Nhĩ thời tha phương quốc độ chư lai Bồ-tát Ma-ha tát, quá bát hằng hà sa số, ư đại chúng trung khởi lập, hợp chưởng tác lễ nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Nhược thính ngã đẳng, ư Phật diệt hậu, tại thử Ta-bà thế giới, cần gia tinh tiến, hộ trì, độc tụng, thư tả, cúng dường thị kinh điển giả, đương ư thử thổ nhi quảng thuyết chi.” Nhĩ thời Phật cáo chư Bồ-tát Ma-ha tát chúng: “Chỉ, thiện nam tử! Bất tu nhữ đẳng hộ trì thử kinh. Sở dĩ giả hà? Ngã Ta-bà thế giới tự hữu lục vạn hằng hà sa đẳng Bồ-tát Ma-ha tát, nhất nhất Bồ-tát các hữu lục vạn hằng hà sa quyến thuộc, thị chư nhân đẳng, năng ư ngã diệt hậu, hộ trì, độc tụng, quảng thuyết thử kinh.”
Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng đứng dậy chắp tay làm lễ mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu bằng lòng cho chúng con lúc sau khi Phật diệt độ ở tại cõi Ta Bà này siêng tu tinh tấn, giữ gìn đọc tụng, biên chép, cúng dường kinh điển này, thời chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng nói đó”. Khi đó Phật bảo các chúng đại Bồ tát: “Thiện nam tử! Thôi đi chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta bà của ta tự có chúng đại Bồ tát số đông bằng số cát của sáu muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì, đọc tụng, rộng nói kinh này”.
佛說是時,娑婆世界三千大千國土地皆震裂,而於其中,有無量千萬億菩薩摩訶薩同時踊出。是諸菩薩,身皆金色,三十二相,無量光明,先盡在此娑婆世界之下、此界虛空中住。是諸菩薩,聞釋迦牟尼佛所說音聲,從下發來。一一菩薩皆是大眾唱導之首,各將六萬恒河沙眷屬;況將五萬、四萬、三萬、二萬、一萬恒河沙等眷屬者;況復乃至一恒河沙、半恒河沙、四分之一、乃至千萬億那由他分之一;況復千萬億那由他眷屬;況復億萬眷屬;況復千萬、百萬、乃至一萬;況復一千、一百、乃至一十;況復將五、四、三、二、一弟子者;況復單己,樂遠離行。如是等比,無量無邊,算數譬喻所不能知。
Phật thuyết thị thời, Ta-bà thế giới tam thiên đại thiên quốc độ địa giai chấn liệt, nhi ư kỳ trung, hữu vô lượng thiên vạn ức Bồ-tát Ma-ha tát đồng thời dũng xuất. Thị chư Bồ-tát, thân giai kim sắc, tam thập nhị tướng, vô lượng quang minh, tiên tận tại thử Ta-bà thế giới chi hạ, thử giới hư không trung trụ. Thị chư Bồ-tát, văn Thích-ca Mâu-ni Phật sở thuyết âm thanh, tùng hạ phát lai. Nhất nhất Bồ-tát giai thị đại chúng xướng đạo chi thủ, các tương lục vạn hằng hà sa quyến thuộc; huống tương ngũ vạn, tứ vạn, tam vạn, nhị vạn, nhất vạn hằng hà sa đẳng quyến thuộc giả; huống phục nãi chí nhất hằng hà sa, bán hằng hà sa, tứ phân chi nhất, nãi chí thiên vạn ức na-do-tha phân chi nhất; huống phục thiên vạn ức na-do-tha quyến thuộc; huống phục ức vạn quyến thuộc; huống phục thiên vạn, bách vạn, nãi chí nhất vạn; huống phục nhất thiên, nhất bách, nãi chí nhất thập; huống phục tương ngũ, tứ, tam, nhị, nhất đệ tử giả; huống phục đan kỷ, nhạo viễn ly hành. Như thị đẳng tỷ, vô lượng vô biên, toán số thí dụ sở bất năng tri.
Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta Bà trong tam thiên đại thiên cõi nước đất đều rúng nứt, mà ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị đại Bồ tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ tát đó thân đều sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta Bà này, cõi đó trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát đó nghe tiếng nói của đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên từ dưới mà đến. Mỗi vị Bồ tát đều là bậc đạo thủ trong đại chúng, đều đem theo sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, huống là những vị đem năm muôn, bốn muôn, ba muôn, hai muôn, một muôn hằng hà sa quyến thuộc. Huống là nhẫn đến những vị đem một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa, nhẫn đến một phần trong nghìn muôn ức na do tha phần hằng hà sa quyến thuộc. Huống là những vị đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, huống là đem muôn ức quyến thuộc, huống là đem nghìn trăm muôn nhẫn đến một muôn, huống là đem một nghìn, một trăm nhẫn đến mười quyến thuộc, huống là năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử. Huống lại là những vị riêng một mình ưa hạnh viễn ly, số đông vô lượng vô biên dường ấy, tính đếm thí dụ chẳng có thể biết được.
是諸菩薩從地出已,各詣虛空七寶妙塔多寶如來、釋迦牟尼佛所。到已,向二世尊頭面禮足,及至諸寶樹下師子座上佛所,亦皆作禮,右繞三匝,合掌恭敬,以諸菩薩種種讚法而以讚歎,住在一面,欣樂瞻仰於二世尊。是諸菩薩摩訶薩,從初踊出,以諸菩薩種種讚法而讚於佛,如是時間,經五十小劫。是時釋迦牟尼佛默然而坐,及諸四眾亦皆默然五十小劫;佛神力故,令諸大眾謂如半日。爾時四眾,亦以佛神力故,見諸菩薩遍滿無量百千萬億國土虛空。
Thị chư Bồ-tát tùng địa xuất dĩ, các nghệ hư không thất bảo diệu tháp đa bảo Như-lai, Thích-ca Mâu-ni Phật sở. Đáo dĩ, hướng nhị Thế-tôn đầu diện lễ túc, cập chí chư bảo thụ hạ sư tử tòa thượng Phật sở, diệc giai tác lễ, hữu nhiễu tam táp, hợp chưởng cung kính, dĩ chư Bồ-tát chủng chủng tán pháp nhi dĩ tán thán, trụ tại nhất diện, hân nhạo chiêm ngưỡng ư nhị Thế-tôn. Thị chư Bồ-tát Ma-ha tát, tùng sơ dũng xuất, dĩ chư Bồ-tát chủng chủng tán pháp nhi tán ư Phật, như thị thời gian, kinh ngũ thập tiểu kiếp. Thị thời Thích-ca Mâu-ni Phật mặc nhiên nhi tọa, cập chư tứ chúng diệc giai mặc nhiên ngũ thập tiểu kiếp; Phật thần lực cố, lệnh chư đại chúng vị như bán nhật. Nhĩ thời tứ chúng, diệc dĩ Phật thần lực cố, kiến chư Bồ-tát biến mãn vô lượng bách thiên vạn ức quốc độ hư không.
Các vị Bồ tát đó từ dưới đất lên, đều đến nơi tháp đẹp bảy báu, chỗ của đức Đa Bảo Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, đến nơi rồi hướng về hai vị Thế Tôn mà đầu mặt lạy chân Phật, và đến chỗ các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, cũng đều làm lễ. Đi quanh bên mặt ba vòng, chắp tay cung kính dùng các cách ngợi khen của Bồ tát mà ngợi khen Phật, rồi đứng qua một phía, ưa vui chiêm ngưỡng hai đấng Thế Tôn. Từ lúc các vị Bồ tát do từ dưới đất vọt lên dùng các cách ngợi khen của Bồ tát mà khen ngợi Phật, thời gian đó trải qua năm mươi tiểu kiếp. Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật nín lặng ngồi yên, cùng hàng tứ chúng cũng đều nín lặng, năm mươi tiểu kiếp, vì do sức thần của Phật, khiến hàng đại chúng cho là như nửa ngày. Bấy giờ, hàng tứ chúng cũng nhờ sức thần của Phật, thấy các Bồ tát đầy khắp vô lượng nghìn muôn ức cõi nước hư không.
是菩薩眾中有四導師:一名上行,二名無邊行,三名淨行,四名安立行。是四菩薩,於其眾中最為上首唱導之師,在大眾前,各共合掌,觀釋迦牟尼佛而問訊言:「世尊!少病、少惱,安樂行不?所應度者,受教易不?不令世尊生疲勞耶?」爾時四大菩薩而說偈言:「世尊安樂,少病少惱,教化眾生,得無疲惓。又諸眾生,受化易不?不令世尊,生疲勞耶?」
Thị Bồ-tát chúng trung hữu tứ đạo sư: Nhất danh thượng hành, nhị danh vô biên hành, tam danh tịnh hành, tứ danh an lập hành. Thị tứ Bồ-tát, ư kỳ chúng trung tối vi thượng thủ xướng đạo chi sư, tại đại chúng tiền, các cộng hợp chưởng, quán Thích-ca Mâu-ni Phật nhi vấn tấn ngôn: “Thế-tôn! Thiểu bệnh, thiểu não, an lạc hành phủ? Sở ưng độ giả, thọ giáo dịch phủ? Bất lệnh Thế-tôn sinh bì lao da?” Nhĩ thời tứ đại Bồ-tát nhi thuyết kệ ngôn: “Thế-tôn an lạc, thiểu bệnh thiểu não, giáo hóa chúng sinh, đắc vô bì quyện. Hựu chư chúng sinh, thọ hóa dịch phủ? Bất lệnh Thế-tôn, sinh bì lao da?”
Trong chúng Bồ tát đó có bốn vị đạo sư: 1.- Thượng Hạnh; 2.- Vô
Biên Hạnh; 3.- Tịnh Hạnh;
4.- An Lập Hạnh. Bốn
vị Bồ tát này là
bậc thượng thủ xướng Đạo
sư trong chúng đó, ở
trước đại chúng, bốn vị
đồng chắp tay nhìn đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà hỏi thăm rằng: “Thưa Thế Tôn! Có được ít bệnh, ít não, an vui luôn chăng, những người đáng độ thọ giáo dễ chăng, chẳng làm cho đức Thế Tôn sanh mỏi nhọc chăng?” Khi đó, bốn vị Bồ tát nói kệ rằng: Thế Tôn được an vui Ít bệnh cùng ít não, Giáo hóa các chúng sanh Được không mỏi nhọc ư? Lại các hàng chúng sanh Thọ hóa có dễ chăng? Chẳng làm cho Thế Tôn Sanh nhọc mệt đó ư?
爾時世尊,於菩薩大眾中而作是言:「如是,如是!諸善男子!如來安樂,少病、少惱;諸眾生等,易可化度,無有疲勞。所以者何?是諸眾生,世世已來常受我化,亦於過去諸佛供養尊重,種諸善根。此諸眾生,始見我身,聞我所說,即皆信受入如來慧;除先修習學小乘者。如是之人,我今亦令得聞是經,入於佛慧。」爾時諸大菩薩而說偈言:「善哉善哉!大雄世尊!諸眾生等,易可化度。能問諸佛,甚深智慧,聞已信行,我等隨喜。」於時世尊讚歎上首諸大菩薩:「善哉,善哉!善男子!汝等能於如來發隨喜心。」
Nhĩ thời Thế-tôn, ư Bồ-tát đại chúng trung nhi tác thị ngôn: “Như thị, như thị! Chư thiện nam tử! Như-lai an lạc, thiểu bệnh, thiểu não; chư chúng sinh đẳng, dịch khả hóa độ, vô hữu bì lao. Sở dĩ giả hà? Thị chư chúng sinh, thế thế dĩ lai thường thọ ngã hóa, diệc ư quá khứ chư Phật cúng dường tôn trọng, chủng chư thiện căn. Thử chư chúng sinh, thủy kiến ngã thân, văn ngã sở thuyết, tức giai tín thọ nhập Như-lai tuệ; trừ tiên tu tập học tiểu thừa giả. Như thị chi nhân, ngã kim diệc lệnh đắc văn thị kinh, nhập ư Phật tuệ.” Nhĩ thời chư đại Bồ-tát nhi thuyết kệ ngôn: “Thiện tai thiện tai! Đại hùng Thế-tôn! Chư chúng sinh đẳng, dịch khả hóa độ. Năng vấn chư Phật, thậm thâm trí tuệ, văn dĩ tín hành, ngã đẳng tùy hỷ.” Ư thời Thế-tôn tán thán thượng thủ chư đại Bồ-tát: “Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử! Nhữ đẳng năng ư Như-lai phát tùy hỷ tâm.”
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ tát mà nói rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Các
thiện nam tử! Đức Như
Lai an vui, ít bệnh,
ít não, các hàng chúng
sanh hóa độ được dễ,
không có nhọc mệt. Vì
sao? Vì các chúng sanh
đó, từ nhiều đời nhẫn lại, thường được ta dạy bảo, mà cũng từng ở nơi các Phật quá khứ, cung kính, tôn trọng, trồng các cội lành. Các chúng sanh đó vừa mới thấy thân ta, nghe ta nói pháp, liền đều tín nhận, vào được trong huệ của Như Lai, trừ người trước đã tu tập học hạnh tiểu thừa; những người như thế ta cũng khiến được nghe kinh này, vào trong huệ của Phật”. Lúc ấy các vị Bồ tát nói kệ rằng: Hay thay! Hay thay! Đức đại hùng Thế Tôn Các hàng chúng sanh thảy Đều hóa độ được dễ Hay hỏi các đức Phật Về trí huệ rất sâu Nghe pháp rồi tin làm Chúng con đều tùy hỷ. Khi đó, đức Thế Tôn khen ngợi các vị đại Bồ tát thượng thủ: “Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Các ông có thể đối với đức Như Lai mà phát lòng tùy hỷ”.
爾時彌勒菩薩及八千恒河沙諸菩薩眾,皆作是念:「我等從昔已來,不見不聞如是大菩薩摩訶薩眾,從地踊出,住世尊前,合掌、供養,問訊如來。」時彌勒菩薩摩訶薩,知八千恒河沙諸菩薩等心之所念,并欲自決所疑,合掌向佛,以偈問曰:「無量千萬億,大眾諸菩薩,昔所未曾見,願兩足尊說,是從何所來,以何因緣集?巨身大神通,智慧叵思議,其志念堅固,有大忍辱力,眾生所樂見,為從何所來?一一諸菩薩,所將諸眷屬,其數無有量,如恒河沙等。或有大菩薩,將六萬恒沙,如是諸大眾,一心求佛道。是諸大師等,六萬恒河沙,俱來供養佛,及護持是經。將五萬恒沙,其數過於是。四萬及三萬、二萬至一萬,一千一百等,乃至一恒沙、半及三四分,億萬分之一,千萬那由他,萬億諸弟子,乃至於半億,其數復過上。百萬至一萬,一千及一百,五十與一十,乃至三二一,單己無眷屬,樂於獨處者,俱來至佛所,其數轉過上。如是諸大眾,若人行籌數,過於恒沙劫,猶不能盡知。是諸大威德,精進菩薩眾,誰為其說法,教化而成就?從誰初發心?稱揚何佛法?受持行誰經?修習何佛道?如是諸菩薩,神通大智力,四方地震裂,皆從中踊出。世尊我昔來,未曾見是事,願說其所從,國土之名號。我常遊諸國,未曾見是眾,我於此眾中,乃不識一人,忽然從地出,願說其因緣。今此之大會,無量百千億,是諸菩薩等,皆欲知此事。是諸菩薩眾,本末之因緣,無量德世尊,唯願決眾疑。」
Nhĩ thời Di-lặc Bồ-tát cập bát thiên hằng hà sa chư Bồ-tát chúng, giai tác thị niệm: “Ngã đẳng tùng tích dĩ lai, bất kiến bất văn như thị đại Bồ-tát Ma-ha tát chúng, tùng địa dũng xuất, trụ Thế-tôn tiền, hợp chưởng, cúng dường, vấn tấn Như-lai.” Thời Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát, tri bát thiên hằng hà sa chư Bồ-tát đẳng tâm chi sở niệm, tinh dục tự quyết sở nghi, hợp chưởng hướng Phật, dĩ kệ vấn viết: “Vô lượng thiên vạn ức, đại chúng chư Bồ-tát, tích sở vị tằng kiến, nguyện lưỡng túc tôn thuyết, thị tùng hà sở lai, dĩ hà nhân duyên tập? Cự thân đại thần thông, trí tuệ phả tư nghị, kỳ chí niệm kiên cố, hữu đại nhẫn nhục lực, chúng sinh sở lạc kiến, vi tùng hà sở lai? Nhất nhất chư Bồ-tát, sở tương chư quyến thuộc, kỳ số vô hữu lượng, như hằng hà sa đẳng. Hoặc hữu đại Bồ-tát, tương lục vạn hằng sa, như thị chư đại chúng, nhất tâm cầu Phật đạo. Thị chư đại sư đẳng, lục vạn hằng hà sa, câu lai cúng dường Phật, cập hộ trì thị kinh. Tương ngũ vạn hằng sa, kỳ số quá ư thị. Tứ vạn cập tam vạn, nhị vạn chí nhất vạn, nhất thiên nhất bách đẳng, nãi chí nhất hằng sa, bán cập tam tứ phân, ức vạn phân chi nhất, thiên vạn na-do-tha, vạn ức chư đệ tử, nãi chí ư bán ức, kỳ số phục quá thượng. Bách vạn chí nhất vạn, nhất thiên cập nhất bách, ngũ thập dữ nhất thập, nãi chí tam nhị nhất, đan kỷ vô quyến thuộc, lạc ư độc xứ giả, câu lai chí Phật sở, kỳ số chuyển quá thượng. Như thị chư đại chúng, nhược nhân hành trù số, quá ư hằng sa kiếp, do bất năng tận tri. Thị chư đại uy đức, tinh tiến Bồ-tát chúng, thùy vi kỳ thuyết pháp, giáo hóa nhi thành tựu? Tùng thùy sơ phát tâm? Xưng dương hà Phật pháp? Thọ trì hành thùy kinh? Tu tập hà Phật đạo? Như thị chư Bồ-tát, thần thông đại trí lực, tứ phương địa chấn liệt, giai tùng trung dũng xuất. Thế-tôn ngã tích lai, vị tằng kiến thị sự, nguyện thuyết kỳ sở tùng, quốc độ chi danh hiệu. Ngã thường du chư quốc, vị tằng kiến thị chúng, ngã ư thử chúng trung, nãi bất thức nhất nhân, hốt nhiên tùng địa xuất, nguyện thuyết kỳ nhân duyên. Kim thử chi đại hội, vô lượng bách thiên ức, thị chư Bồ-tát đẳng, giai dục tri thử sự. Thị chư Bồ-tát chúng, bản mạt chi nhân duyên, vô lượng đức Thế-tôn, duy nguyện quyết chúng nghi.”
Bấy giờ ngài Di Lặc Bồ tát cùng tám nghìn hằng hà sa các chúng Bồ tát đều nghĩ rằng: “Chúng ta từ xưa nhẫn
lại chẳng thấy, chẳng nghe
các chúng đại Bồ tát
như thế, từ dưới đất
vọt lên, đứng trước đức
Thế Tôn, chắp tay cúng
dường thăm hỏi Như Lai”.
Lúc đó, ngài Di Lặc
Bồ tát biết tâm niệm
của tám nghìn hằng hà
sa chúng Bồ tát, cùng
muốn tự giải quyết chỗ
nghi của mình, bèn chắp
tay hướng về phía Phật,
nói kệ hỏi rằng: Vô
lượng nghìn muôn ức Các
Bồ tát đại chúng Từ
xưa chưa từng thấy Nguyện
đấng Lưỡng Túc nói Là
từ chốn nào đến Do
nhân duyên gì nhóm Thân
lớn đại thần thông Trí
huệ chẳng nghĩ bàn Chí
niệm kia bền vững Có
sức nhẫn nhục lớn Chúng
sanh chỗ ưa thấy Là
từ chốn nào đến? Mỗi
mỗi hàng Bồ tát Đem
theo các quyến thuộc Số
đông không thể lường Như
số hằng hà sa Hoặc
có đại Bồ tát Đem
sáu muôn hằng sa Các
đại chúng như thế Một
lòng cầu Phật đạo, Những
đại sư đó thảy Sáu
muôn hằng hà sa Đều
đến cúng dường Phật Cùng
hộ trì kinh này. Đem
năm muôn hằng sa Số
này hơn số trên Bốn
muôn và ba muôn Hai
muôn đến một muôn Một
nghìn một trăm thảy Nhẫn
đến một hằng sa Nửa
và ba bốn phần Một
phần trong ức muôn Nghìn
muôn na do tha Muôn
ức các đệ tử Nhẫn
đến đem nửa ức Số
đông lại hơn trên. Trăm
muôn đến một muôn Một
nghìn và một trăm Năm
mươi cùng một mươi Nhẫn
đến ba, hai, một Riêng
mình không quyến thuộc Ưa
thích ở riêng vắng Đều
đi đến chỗ Phật Số
đây càng hơn trên. Các
đại chúng như thế Nếu
người phát thẻ đếm Quá
nơi kiếp hằng sa Còn
chẳng thể biết hết. Các
vị oai đức lớn Chúng
Bồ tát tinh tấn Ai
vì đó nói pháp Giáo
hóa cho thành tựu Từ
ai, đầu phát tâm? Xưng
dương Phật pháp nào? Thọ
trì tu kinh gì? Tu
tập Phật đạo nào? Các
Bồ tát như thế Thần
thông sức trí lớn Đất
bốn phương rúng nứt Đều
từ đất vọt lên Thế
Tôn! Con từ xưa Chưa
từng thấy việc đó Xin
Phật nói danh hiệu Cõi nước của kia ở. Con thường qua các nước Chưa từng thấy chúng này Con ở trong chúng đây Bèn chẳng quen một người Thoạt vậy từ đất lên Mong nói nhân duyên đó. Nay trong đại hội này Vô lượng trăm nghìn ức Các chúng Bồ tát đây Đều muốn biết việc này Hàng Bồ tát chúng kia Gốc ngọn nhân duyên đó Thế Tôn đức vô lượng Cúi mong quyết lòng nghi.
爾時釋迦牟尼分身諸佛,從無量千萬億他方國土來者,在於八方諸寶樹下,師子座上,結加趺坐。其佛侍者,各各見是菩薩大眾,於三千大千世界四方,從地踊出,住於虛空。各白其佛言:「世尊!此諸無量無邊阿僧祇菩薩大眾,從何所來?」爾時諸佛各告侍者:「諸善男子!且待須臾,有菩薩摩訶薩,名曰彌勒——釋迦牟尼佛之所授記,次後作佛——以問斯事,佛今答之,汝等自當因是得聞。」
Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni phân thân chư Phật, tùng vô lượng thiên vạn ức tha phương quốc độ lai giả, tại ư bát phương chư bảo thụ hạ, sư tử tòa thượng, kết gia phu tọa. Kỳ Phật thị giả, các các kiến thị Bồ-tát đại chúng, ư tam thiên đại thiên thế giới tứ phương, tùng địa dũng xuất, trụ ư hư không. Các bạch kỳ Phật ngôn: “Thế-tôn! Thử chư vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ-tát đại chúng, tùng hà sở lai?” Nhĩ thời chư Phật các cáo thị giả: “Chư thiện nam tử! Thả đãi tu du, hữu Bồ-tát Ma-ha tát, danh viết Di-lặc——Thích-ca Mâu-ni Phật chi sở thụ ký, thứ hậu tác Phật——dĩ vấn tư sự, Phật kim đáp chi, nhữ đẳng tự đương nhân thị đắc văn.”
Khi ấy các vị Phật của đức Thích Ca Mâu Ni phân thân, từ vô lượng nghìn muôn ức cõi nước ở phương khác đến, ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, dưới các gốc cây báu nơi trong tám phương. Hàng thị giả của Phật đó, đều thấy đại chúng Bồ tát ở bốn phương cõi tam thiên đại thiên, từ đất vọt lên trụ trên hư không, đều bạch với Phật mình rằng: “Thế Tôn! Các đại chúng vô lượng vô biên a tăng kỳ Bồ tát đó, từ chốn nào mà đến?” Lúc ấy các đức Phật đều bảo thị giả: “Các Thiện nam tử! Hãy chờ giây lát, hiện có vị đại Bồ tát tên là Di Lặc, là vị mà đức Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký kế đây sẽ làm Phật đã hỏi việc đó, đức Phật sẽ đáp, các ông tự đương, nhân đây mà được nghe”.
爾時釋迦牟尼佛告彌勒菩薩:「善哉,善哉!阿逸多!乃能問佛如是大事。汝等當共一心,被精進鎧,發堅固意,如來今欲顯發宣示諸佛智慧、諸佛自在神通之力、諸佛師子奮迅之力、諸佛威猛大勢之力。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:「當精進一心,我欲說此事,勿得有疑悔,佛智叵思議。汝今出信力,住於忍善中,昔所未聞法,今皆當得聞。我今安慰汝,勿得懷疑懼,佛無不實語,智慧不可量。所得第一法,甚深叵分別,如是今當說,汝等一心聽。」
Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Phật cáo Di-lặc Bồ-tát: “Thiện tai, thiện tai! A-dật-đa! Nãi năng vấn Phật như thị đại sự. Nhữ đẳng đương cộng nhất tâm, bị tinh tiến khải, phát kiên cố ý, Như-lai kim dục hiển phát tuyên thị chư Phật trí tuệ, chư Phật tự tại thần thông chi lực, chư Phật sư tử phấn tấn chi lực, chư Phật uy mãnh đại thế chi lực.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “Đương tinh tiến nhất tâm, ngã dục thuyết thử sự, vật đắc hữu nghi hối, Phật trí phả tư nghị. Nhữ kim xuất tín lực, trụ ư nhẫn thiện trung, tích sở vị văn pháp, kim giai đương đắc văn. Ngã kim an úy nhữ, vật đắc hoài nghi cụ, Phật vô bất thực ngữ, trí tuệ bất khả lượng. Sở đắc đệ nhất pháp, thậm thâm phả phân biệt, như thị kim đương thuyết, nhữ đẳng nhất tâm thính.”
Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo ngài Di Lặc Bồ tát: “Hay thay! Hay thay! A
Dật Đa (9), bèn có
thể hỏi Phật việc lớn
như thế, các ông phải
chung một lòng, mặc giáp
tinh tấn, phát ý bền
vững. Nay đức Như Lai
muốn hiển phát tuyên bày
trí huệ của các đức
Phật, sức thần thông tự
tại của các đức Phật,
sức sư tử mạnh nhanh
của các đức Phật, sức
oai thế mạnh lớn của
các đức Phật”. Khi đó,
đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Phải một lòng tinh tấn Ta muốn nói việc này Chớ nên có nghi hối Trí Phật chẳng nghĩ bàn Ông nay gắng sức tin Trụ nơi trong nhẫn thiện Chỗ pháp xưa chưa nghe Nay đều sẽ được nghe Nay ta an ủi ông Chớ ôm lòng nghi sợ Phật không lời chẳng thật Trí huệ chẳng nghĩ bàn Phật được pháp bậc nhất Rất sâu khó phân biệt Như thế nay sẽ nói Các ông một lòng nghe.
爾時世尊說此偈已,告彌勒菩薩:「我今於此大眾,宣告汝等。阿逸多!是諸大菩薩摩訶薩,無量無數阿僧祇,從地踊出,汝等昔所未見者,我於是娑婆世界得阿耨多羅三藐三菩提已,教化示導是諸菩薩,調伏其心,令發道意。此諸菩薩,皆於是娑婆世界之下、此界虛空中住;於諸經典,讀誦通利,思惟分別,正憶念。阿逸多!是諸善男子等,不樂在眾多有所說;常樂靜處,懃行精進未曾休息;亦不依止人天而住。常樂深智,無有障礙,亦常樂於諸佛之法,一心精進,求無上慧。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:「阿逸汝當知!是諸大菩薩,從無數劫來,修習佛智慧,悉是我所化,令發大道心。此等是我子,依止是世界,常行頭陀事,志樂於靜處,捨大眾憒閙,不樂多所說。如是諸子等,學習我道法,晝夜常精進,為求佛道故,在娑婆世界,下方空中住。志念力堅固,常懃求智慧,說種種妙法,其心無所畏。我於伽耶城,菩提樹下坐,得成最正覺,轉無上法輪。爾乃教化之,令初發道心,今皆住不退,悉當得成佛。我今說實語,汝等一心信,我從久遠來,教化是等眾。」
Nhĩ thời Thế-tôn thuyết thử kệ dĩ, cáo Di-lặc Bồ-tát: “Ngã kim ư thử đại chúng, tuyên cáo nhữ đẳng. A-dật-đa! Thị chư đại Bồ-tát Ma-ha tát, vô lượng vô số a-tăng-kỳ, tùng địa dũng xuất, nhữ đẳng tích sở vị kiến giả, ngã ư thị Ta-bà thế giới đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề dĩ, giáo hóa thị đạo thị chư Bồ-tát, điều phục kỳ tâm, lệnh phát đạo ý. Thử chư Bồ-tát, giai ư thị Ta-bà thế giới chi hạ, thử giới hư không trung trụ; ư chư kinh điển, độc tụng thông lợi, tư duy phân biệt, chính ức niệm. A-dật-đa! Thị chư thiện nam tử đẳng, bất nhạo tại chúng đa hữu sở thuyết; thường nhạo tĩnh xứ, cần hành tinh tiến vị tằng hưu tức; diệc bất y chỉ nhân thiên nhi trụ. Thường nhạo thâm trí, vô hữu chướng ngại, diệc thường nhạo ư chư Phật chi pháp, nhất tâm tinh tiến, cầu vô thượng tuệ.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “A dật nhữ đương tri! Thị chư đại Bồ-tát, tùng vô số kiếp lai, tu tập Phật trí tuệ, tất thị ngã sở hóa, lệnh phát đại đạo tâm. Thử đẳng thị ngã tử, y chỉ thị thế giới, thường hành đầu đà sự, chí nhạo ư tĩnh xứ, xả đại chúng hội náo, bất nhạo đa sở thuyết. Như thị chư tử đẳng, học tập ngã đạo pháp, trú dạ thường tinh tiến, vi cầu Phật đạo cố, tại Ta-bà thế giới, hạ phương không trung trụ. Chí niệm lực kiên cố, thường cần cầu trí tuệ, thuyết chủng chủng diệu pháp, kỳ tâm vô sở úy. Ngã ư Già-da thành, Bồ-đề thụ hạ tọa, đắc thành tối chính giác, chuyển vô thượng pháp luân. Nhĩ nãi giáo hóa chi, lệnh sơ phát đạo tâm, kim giai trụ bất thoái, tất đương đắc thành Phật. Ngã kim thuyết thực ngữ, nhữ đẳng nhất tâm tín, ngã tùng cửu viễn lai, giáo hóa thị đẳng chúng.”
Khi đức Thế Tôn nói kệ đó, bảo ngài Di Lặc Bồ tát: “Nay ta ở trong đại
chúng này, tuyên bảo các
ông. A Dật Đa! Các
hàng đại Bồ tát vô
lượng vô số a tăng
kỳ, từ dưới đất vọt
ra mà các ông từ
xưa chưa từng thấy đó,
chính ta ở cõi Ta
bà lúc được vô thượng
chánh đẳng chánh giác rồi,
giáo hóa chỉ dẫn các
Bồ tát đó, điều phục
tâm kia khiến phát đạo
tâm. Các vị Bồ tát
đó, ở phía dưới cõi
Ta bà, cõi đó trụ
giữa hư không, ở trong
các kinh điển đọc tụng
thông lẹ, suy ngẫm rõ
hiểu, nghĩ tưởng chân chánh.
A Dật Đa! Các Thiện
nam tử đó chẳng thích
ở trong chúng nhiều nói
bàn, thường ưa ở chỗ
vắng, siêng tu tinh tấn
chưa từng thôi dứt. Cũng
chẳng nương tựa người trời
mà ở, thường ham trí
huệ sâu không có chướng
ngại, cũng thường ham nơi
pháp của đức Phật, chuyên
lòng tinh tấn cầu huệ
vô thượng. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: A Dật ông nên biết! Các Bồ tát lớn này Từ vô số kiếp lại Tu tập trí huệ Phật Đều là ta hóa độ Khiến phát đại đạo tâm Chúng đó là con ta Y chỉ thế giới này Thường tu hạnh đầu đà Chí thích ở chỗ vắng Bỏ đại chúng ồn náo Chẳng ưa nói bàn nhiều, Các vị đó như thế Học tập đạo pháp ta Ngày đêm thường tinh tấn Vì để cầu Phật đạo Ở phương dưới Ta bà Trụ giữa khoảng hư không Sức chí niệm bền vững Thường siêng cầu trí huệ Nói các món pháp mầu Tâm kia không sợ sệt. Ta ở thành Già Da Ngồi dưới gốc Bồ Đề Thành bậc tối chánh giác Chuyển pháp luân vô thượng Rồi mới giáo hóa đó Khiến đều phát đạo tâm Nay đều trụ bất thối Đều sẽ được thành Phật. Nay ta nói lời thật Các ông một lòng tin Ta từ lâu xa lại Giáo hóa các chúng đó.
爾時,彌勒菩薩摩訶薩及無數諸菩薩等,心生疑惑,怪未曾有,而作是念:「云何世尊於少時間、教化如是無量無邊阿僧祇諸大菩薩,令住阿耨多羅三藐三菩提?」即白佛言:「世尊!如來為太子時,出於釋宮,去伽耶城不遠,坐於道場,得成阿耨多羅三藐三菩提。從是已來,始過四十餘年。世尊!云何於此少時,大作佛事,以佛勢力、以佛功德,教化如是無量大菩薩眾,當成阿耨多羅三藐三菩提?「世尊!此大菩薩眾,假使有人於千萬億劫數不能盡,不得其邊。斯等久遠已來,於無量無邊諸佛所,殖諸善根,成就菩薩道,常修梵行。世尊!如此之事,世所難信。譬如有人,色美髮黑,年二十五,指百歲人,言:『是我子。』其百歲人,亦指年少,言:『是我父,生育我等。』是事難信。佛亦如是,得道已來,其實未久,而此大眾諸菩薩等,已於無量千萬億劫,為佛道故,懃行精進,善入出住無量百千萬億三昧,得大神通,久修梵行,善能次第習諸善法,巧於問答,人中之寶,一切世間甚為希有。今日世尊方云:『得佛道時,初令發心,教化示導,令向阿耨多羅三藐三菩提。』世尊得佛未久,乃能作此大功德事。我等雖復信佛隨宜所說,佛所出言未曾虛妄,佛所知者皆悉通達。然諸新發意菩薩,於佛滅後,若聞是語,或不信受,而起破法罪業因緣。唯然,世尊!願為解說,除我等疑,及未來世諸善男子聞此事已,亦不生疑。」爾時彌勒菩薩欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời, Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát cập vô số chư Bồ-tát đẳng, tâm sinh nghi hoặc, quái vị tằng hữu, nhi tác thị niệm: “Vân hà Thế-tôn ư thiểu thời gian, giáo hóa như thị vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư đại Bồ-tát, lệnh trụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề?” Tức bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Như-lai vi thái tử thời, xuất ư thích cung, khứ Già-da thành bất viễn, tọa ư đạo tràng, đắc thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tùng thị dĩ lai, thủy quá tứ thập dư niên. Thế-tôn! Vân hà ư thử thiểu thời, đại tác Phật sự, dĩ Phật thế lực, dĩ Phật công đức, giáo hóa như thị vô lượng đại Bồ-tát chúng, đương thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề? “Thế-tôn! Thử đại Bồ-tát chúng, giả sử hữu nhân ư thiên vạn ức kiếp số bất năng tận, bất đắc kỳ biên. Tư đẳng cửu viễn dĩ lai, ư vô lượng vô biên chư Phật sở, thực chư thiện căn, thành tựu Bồ-tát đạo, thường tu phạm hành. Thế-tôn! Như thử chi sự, thế sở nan tín. Thí như hữu nhân, sắc mỹ phát hắc, niên nhị thập ngũ, chỉ bách tuế nhân, ngôn: ‘Thị ngã tử.’ Kỳ bách tuế nhân, diệc chỉ niên thiếu, ngôn: ‘Thị ngã phụ, sinh dục ngã đẳng.’ Thị sự nan tín. Phật diệc như thị, đắc đạo dĩ lai, kỳ thực vị cửu, nhi thử đại chúng chư Bồ-tát đẳng, dĩ ư vô lượng thiên vạn ức kiếp, vi Phật đạo cố, cần hành tinh tiến, thiện nhập xuất trụ vô lượng bách thiên vạn ức tam-muội, đắc đại thần thông, cửu tu phạm hành, thiện năng thứ đệ tập chư thiện pháp, xảo ư vấn đáp, nhân trung chi bảo, nhất thiết thế gian thậm vi hy hữu. Kim nhật Thế-tôn phương vân: ‘Đắc Phật đạo thời, sơ lệnh phát tâm, giáo hóa thị đạo, lệnh hướng a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.’ Thế-tôn đắc Phật vị cửu, nãi năng tác thử đại công đức sự. Ngã đẳng tuy phục tín Phật tùy nghi sở thuyết, Phật sở xuất ngôn vị tằng hư vọng, Phật sở tri giả giai tất thông đạt. Nhiên chư tân phát ý Bồ-tát, ư Phật diệt hậu, nhược văn thị ngữ, hoặc bất tín thọ, nhi khởi phá pháp tội nghiệp nhân duyên. Duy nhiên, Thế-tôn! Nguyện vi giải thuyết, trừ ngã đẳng nghi, cập vị lai thế chư thiện nam tử văn thử sự dĩ, diệc bất sinh nghi.” Nhĩ thời Di-lặc Bồ-tát dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, ngài Di Lặc Bồ tát cùng vô số chúng Bồ tát, lòng sanh nghi hoặc, lấy làm lạ chưa từng có mà nghĩ rằng: “Thế nào đức Thế Tôn ở trong thời gian rất ngắn mà có thể giáo hóa vô lượng vô biên a tăng kỳ các đại Bồ tát đó, làm cho trụ nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Đức Như Lai lúc làm Thái Tử rời khỏi cung dòng Thích, ngồi nơi đạo tràng cách thành Già Da chẳng bao xa, được thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Từ đó đến nay mới hơn bốn mươi năm, đức Thế Tôn thế nào ở trong thời gian ngắn đó làm nên Phật sự lớn! Do thế lực của Phật, do công đức của Phật, giáo hóa vô lượng chúng Bồ Tát lớn như thế sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác? Thế Tôn! Chúng đại Bồ tát này giả sử có người trong nghìn muôn ức kiếp đếm không thể hết, chẳng được ngằn mé, chúng đó từ lâu nhẫn lại, ở nơi vô lượng vô biên các đức Phật, trồng các gốc lành, thành tựu đạo Bồ tát thường tu phạm hạnh. Thế Tôn! Việc như thế đời rất khó tin. Thí như có người sắc đẹp tóc đen, tuổi hai mươi lăm, chỉ người trăm tuổi, nói đó chỉ là con của ta. Người trăm tuổi nọ cũng chỉ gã tuổi nhỏ nói là cha ta, đẻ nuôi ta thảy, việc đó khó tin. Đức Phật cũng như thế. Từ lúc thành đạo nhẫn đến nay, kỳ thật chưa bao lâu, mà các đại chúng Bồ tát đó, đã ở nơi vô lượng nghìn muôn ức kiếp, vì Phật đạo nên siêng tu tinh tấn, khéo nhập xuất trụ nơi vô lượng nghìn muôn ức tam muội (11) được thần thông lớn, tu hạnh thanh tịnh đã lâu, khéo hay thứ đệ tập các pháp lành, giỏi nơi vấn đáp, là báu quý trong loài người, tất cả thế gian rất là ít có. Ngày nay đức Thế Tôn mới nói, lúc được Phật đạo, bắt đầu khiến kia phát tâm, giáo hóa chỉ dạy dìu dắt, làm cho kia hướng về vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đức Thế Tôn thành Phật chưa bao lâu mà bèn có thể làm được việc công đức lớn này. Chúng con dầu lại tin Phật tùy cơ nghi nói pháp, lời Phật nói ra chưa từng hư vọng, chỗ Phật biết thảy đều thông suốt, như các Bồ tát mới phát tâm, sau khi Phật diệt độ nếu nghe lời này hoặc chẳng tin nhận, sanh nhân duyên tội nghiệp phá chánh pháp. Kính thưa Thế Tôn! Mong vì chúng giải nói trừ lòng nghi của chúng con, và các thiện nam tử đời vị lai nghe việc này rồi cũng chẳng sanh nghi. Lúc đó ngài Di Lặc muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「佛昔從釋種,出家近伽耶,坐於菩提樹,爾來尚未久。此諸佛子等,其數不可量,久已行佛道,住於神通力,善學菩薩道,不染世間法,如蓮華在水,從地而踊出。皆起恭敬心,住於世尊前。是事難思議,云何而可信?佛得道甚近,所成就甚多,願為除眾疑,如實分別說。譬如少壯人,年始二十五,示人百歲子,髮白而面皺,是等我所生;子亦說是父。父少而子老,舉世所不信。世尊亦如是,得道來甚近。是諸菩薩等,志固無怯弱,從無量劫來,而行菩薩道,巧於難問答,其心無所畏,忍辱心決定,端正有威德,十方佛所讚。善能分別說,不樂在人眾,常好在禪定,為求佛道故,於下空中住。我等從佛聞,於此事無疑,願佛為未來,演說令開解。若有於此經,生疑不信者,即當墮惡道。願今為解說,是無量菩薩,云何於少時,教化令發心,而住不退地?」
“Phật tích tùng thích chủng, xuất gia cận Già-da, tọa ư Bồ-đề thụ, nhĩ lai thượng vị cửu. Thử chư Phật tử đẳng, kỳ số bất khả lượng, cửu dĩ hành Phật đạo, trụ ư thần thông lực, thiện học Bồ-tát đạo, bất nhiễm thế gian pháp, như liên hoa tại thủy, tùng địa nhi dũng xuất. Giai khởi cung kính tâm, trụ ư Thế-tôn tiền. Thị sự nan tư nghị, vân hà nhi khả tín? Phật đắc đạo thậm cận, sở thành tựu thậm đa, nguyện vi trừ chúng nghi, như thực phân biệt thuyết. Thí như thiểu tráng nhân, niên thủy nhị thập ngũ, thị nhân bách tuế tử, phát bạch nhi diện trứu, thị đẳng ngã sở sinh; tử diệc thuyết thị phụ. Phụ thiểu nhi tử lão, cử thế sở bất tín. Thế-tôn diệc như thị, đắc đạo lai thậm cận. Thị chư Bồ-tát đẳng, chí cố vô khiếp nhược, tùng vô lượng kiếp lai, nhi hành Bồ-tát đạo, xảo ư nan vấn đáp, kỳ tâm vô sở úy, nhẫn nhục tâm quyết định, đoan chính hữu uy đức, thập phương Phật sở tán. Thiện năng phân biệt thuyết, bất nhạo tại nhân chúng, thường hảo tại thiền định, vi cầu Phật đạo cố, ư hạ không trung trụ. Ngã đẳng tùng Phật văn, ư thử sự vô nghi, nguyện Phật vi vị lai, diễn thuyết lệnh khai giải. Nhược hữu ư thử kinh, sinh nghi bất tín giả, tức đương đọa ác đạo. Nguyện kim vi giải thuyết, thị vô lượng Bồ-tát, vân hà ư thiểu thời, giáo hóa lệnh phát tâm, nhi trụ bất thoái địa?”
Phật xưa từ dòng Thích
Xuất gia gần Già Da
Ngồi dưới cây Bồ đề
Đến nay còn chưa xa.
Các hàng Phật tử này
Số đông không thể lường
Lâu đã tu Phật Đạo
Trụ nơi sức thần thông
Khéo học đạo Bồ tát
Chẳng nhiễm pháp thế gian
Như hoa sen trong nước
Từ đất mà vọt ra
Đều sanh lòng cung kính
Đứng nơi trước Thế Tôn,
Việc đó khó nghĩ bàn
Thế nào mà tin được
Phật được đạo rất gần
Chỗ thành tựu rất nhiều
Mong vì trừ lòng nghi
Như thực phân biệt nói
Thí như người trẻ mạnh
Tuổi mới hai mươi lăm
Chỉ người trăm tuổi già
Tóc bạc và mặt nhăn:
Bọn này của ta sanh
Con cũng nói là cha
Cha trẻ mà con già
Mọi người đều chẳng tin.
Thế Tôn cũng như thế
Được đạo đến nay gần
Các chúng Bồ Tát này
Chí vững không khiếp nhược
Từ vô lượng kiếp lại
Mà tu đạo Bồ tát.
Giỏi nơi gạn hỏi đáp
Tâm kia không sợ sệt
Nhẫn nhục lòng quyết định
Đoan chánh có oai đức
Mười phương Phật khen ngợi
Khéo hay phân biệt nói
Chẳng thích ở trong chúng
Thường ưa ở thiền định,
Vì cầu Phật đạo vậy
Trụ hư không phương dưới.
Chúng con từ Phật nghe
Nơi việc này không nghi
Nguyện Phật vì người sau
Diễn nói khiến rõ hiểu,
Nếu người ở kinh này
Sanh nghi lòng chẳng tin
Liền phải đọa đường dữ
Mong nay vì giải nói:
Vô lượng Bồ tát đó
Thế nào thời gian ngắn
Giáo hóa khiến phát tâm
Mà trụ bậc bất thối?
PHẨM “NHƯ LAI THỌ LƯỢNG” THỨ MƯỜI SÁU
妙法蓮華經如來壽量品第十六
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh như-lai thọ lượng phẩm đệ thập lục
PHẨM “NHƯ LAI THỌ LƯỢNG” THỨ MƯỜI SÁU
爾時,佛告諸菩薩及一切大眾:「諸善男子!汝等當信解如來誠諦之語。」復告大眾:「汝等當信解如來誠諦之語。」又復告諸大眾:「汝等當信解如來誠諦之語。」是時菩薩大眾,彌勒為首,合掌白佛言:「世尊!唯願說之,我等當信受佛語。」如是三白已,復言:「唯願說之,我等當信受佛語。」
Nhĩ thời, Phật cáo chư Bồ-tát cập nhất thiết đại chúng: “Chư thiện nam tử! Nhữ đẳng đương tín giải Như-lai thành đế chi ngữ.” Phục cáo đại chúng: “Nhữ đẳng đương tín giải Như-lai thành đế chi ngữ.” Hựu phục cáo chư đại chúng: “Nhữ đẳng đương tín giải Như-lai thành đế chi ngữ.” Thị thời Bồ-tát đại chúng, Di-lặc vi thủ, hợp chưởng bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Duy nguyện thuyết chi, ngã đẳng đương tín thọ Phật ngữ.” Như thị tam bạch dĩ, phục ngôn: “Duy nguyện thuyết chi, ngã đẳng đương tín thọ Phật ngữ.”
Lúc bấy giờ, Phật bảo các Bồ tát và tất cả đại chúng: “Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như Lai”. Lại bảo đại chúng: “Các ông phải tin hiểu lời chắc thật của Như Lai”. Lại bảo đại chúng: “Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như Lai”. Lúc đó đại chúng Bồ tát, ngài Di Lặc làm đầu, chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật”. Ba phen bạch như thế rồi lại nói: “Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật”.
爾時世尊知諸菩薩三請不止,而告之言:「汝等諦聽,如來祕密神通之力。一切世間天、人及阿修羅,皆謂:『今釋迦牟尼佛,出釋氏宮,去伽耶城不遠,坐於道場,得阿耨多羅三藐三菩提。』然,善男子!我實成佛已來無量無邊百千萬億那由他劫。譬如五百千萬億那由他阿僧祇三千大千世界,假使有人末為微塵,過於東方五百千萬億那由他阿僧祇國乃下一塵,如是東行,盡是微塵。諸善男子!於意云何?是諸世界,可得思惟校計知其數不?」彌勒菩薩等俱白佛言:「世尊!是諸世界,無量無邊,非算數所知,亦非心力所及;一切聲聞、辟支佛,以無漏智,不能思惟知其限數;我等住阿惟越致地,於是事中亦所不達。世尊!如是諸世界,無量無邊。
Nhĩ thời Thế-tôn tri chư Bồ-tát tam thỉnh bất chỉ, nhi cáo chi ngôn: “Nhữ đẳng đế thính, Như-lai bí mật thần thông chi lực. Nhất thiết thế gian thiên, nhân cập a-tu-la, giai vị: ‘Kim Thích-ca Mâu-ni Phật, xuất thích thị cung, khứ Già-da thành bất viễn, tọa ư đạo tràng, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.’ Nhiên, thiện nam tử! Ngã thực thành Phật dĩ lai vô lượng vô biên bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp. Thí như ngũ bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới, giả sử hữu nhân mạt vi vi trần, quá ư đông phương ngũ bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ quốc nãi hạ nhất trần, như thị đông hành, tận thị vi trần. Chư thiện nam tử! Ư ý vân hà? Thị chư thế giới, khả đắc tư duy hiệu kế tri kỳ số phủ?” Di-lặc Bồ-tát đẳng câu bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Thị chư thế giới, vô lượng vô biên, phi toán số sở tri, diệc phi tâm lực sở cập; nhất thiết thanh văn, Bích-chi Phật, dĩ vô lậu trí, bất năng tư duy tri kỳ hạn số; ngã đẳng trụ a duy việt trí địa, ư thị sự trung diệc sở bất đạt. Thế-tôn! Như thị chư thế giới, vô lượng vô biên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba phen thỉnh chẳng thôi, mà bảo đó rằng: “Các ông lóng nghe! Sức bí mật thần thông của Như Lai, tất cả trong đời, trời, người và A tu la đều cho rằng nay đức Thích Ca Mâu Ni Phật ra khỏi cung họ Thích, cách thành Già Da chẳng bao xa, ngồi nơi đạo tràng được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nhưng, thiện nam tử! Thực ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha kiếp. Ví như năm trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người nghiền làm vi trần qua phương đông, cách năm trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước, bèn rơi một bụi trần, đi qua phía đông như thế cho đến hết vi trần đó. Các thiện nam tử! Ý ông nghĩ sao? Các thế giới đó có thể suy gẫm so tính biết được số đó chăng?” Di Lặc Bồ tát, thảy đều bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Các thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải tính được, đếm được, cũng chẳng phải tâm lực biết đến được. Tất cả Thanh văn, Duyên giác dùng trí vô lậu, chẳng có thể suy nghĩ biết được hạn số đó, chúng con trụ bậc bất thối, ở trong việc này cũng chẳng thông đạt. Thế Tôn! Các thế giới như thế, nhiều vô lượng vô biên”.
」爾時佛告大菩薩眾:「諸善男子!今當分明宣語汝等。是諸世界,若著微塵及不著者盡以為塵,一塵一劫,我成佛已來,復過於此百千萬億那由他阿僧祇劫。自從是來,我常在此娑婆世界說法教化,亦於餘處百千萬億那由他阿僧祇國導利眾生。「諸善男子!於是中間,我說燃燈佛等,又復言其入於涅槃,如是皆以方便分別。「諸善男子!若有眾生來至我所,我以佛眼,觀其信等諸根利鈍,隨所應度,處處自說,名字不同、年紀大小,亦復現言當入涅槃,又以種種方便說微妙法,能令眾生發歡喜心。「諸善男子!如來見諸眾生樂於小法、德薄垢重者,為是人說:『我少出家,得阿耨多羅三藐三菩提。』然我實成佛已來久遠若斯,但以方便,教化眾生,令入佛道,作如是說。
” Nhĩ thời Phật cáo đại Bồ-tát chúng: “Chư thiện nam tử! Kim đương phân minh tuyên ngữ nhữ đẳng. Thị chư thế giới, nhược trước vi trần cập bất trước giả tận dĩ vi trần, nhất trần nhất kiếp, ngã thành Phật dĩ lai, phục quá ư thử bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp. Tự tùng thị lai, ngã thường tại thử Ta-bà thế giới thuyết pháp giáo hóa, diệc ư dư xứ bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ quốc đạo lợi chúng sinh. “Chư thiện nam tử! Ư thị trung gian, ngã thuyết nhiên đăng Phật đẳng, hựu phục ngôn kỳ nhập ư Niết-bàn, như thị giai dĩ phương tiện phân biệt. “Chư thiện nam tử! Nhược hữu chúng sinh lai chí ngã sở, ngã dĩ Phật nhãn, quán kỳ tín đẳng chư căn lợi độn, tùy sở ưng độ, xứ xứ tự thuyết, danh tự bất đồng, niên kỷ đại tiểu, diệc phục hiện ngôn đương nhập Niết-bàn, hựu dĩ chủng chủng phương tiện thuyết vi diệu pháp, năng lệnh chúng sinh phát hoan hỷ tâm. “Chư thiện nam tử! Như-lai kiến chư chúng sinh lạc ư tiểu pháp, đức bạc cấu trọng giả, vi thị nhân thuyết: ‘Ngã thiểu xuất gia, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.’ Nhiên ngã thực thành Phật dĩ lai cửu viễn nhược tư, đãn dĩ phương tiện, giáo hóa chúng sinh, lệnh nhập Phật đạo, tác như thị thuyết.
Bấy giờ, Phật bảo các chúng Bồ tát: “Các Thiện nam tử! Nay ta sẽ tuyên nói rành rõ cho các ông. Các thế giới đó, hoặc dính vi trần hoặc chẳng dính, đều nghiền cả làm vi trần, cứ một trần là một kiếp, từ ta thành Phật nhẫn lại đến nay, lại lâu hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó nhẫn lại, ta thường ở cõi Ta bà này nói pháp giáo hóa, cũng ở trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước khác dắt dẫn lợi ích chúng sanh. Các thiện nam tử! Nơi chặng giữa đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và lại có các đức Phật Nhập Niết bàn, như thế đều là dùng phương tiện để phân biệt. Các Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn quan sát: Tín v.v... các căn lợi độn của chúng, tùy theo chỗ đáng độ, nơi nơi tự nói văn tự chẳng đồng, niên kỷ hoặc lớn, hoặc nhỏ, cũng lại hiện nói sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các trí phương tiện nói pháp vi diệu, có thể làm cho chúng sanh phát lòng vui mừng. Các thiện nam tử! Như Lai thấy những chúng sanh ưa nơi pháp tiểu thừa, đức mỏng tội nặng. Phật vì người đó nói: Ta lúc trẻ xuất gia được vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhưng thật, từ ta thành Phật nhẫn lại, lâu xa dường ấy, chỉ dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, khiến vào Phật đạo, nên nói như thế.
「諸善男子!如來所演經典,皆為度脫眾生,或說己身、或說他身,或示己身、或示他身,或示己事、或示他事,諸所言說,皆實不虛。所以者何?如來如實知見三界之相,無有生死、若退若出,亦無在世及滅度者,非實非虛,非如非異,不如三界見於三界,如斯之事,如來明見,無有錯謬。以諸眾生有種種性、種種欲、種種行、種種憶想分別故,欲令生諸善根,以若干因緣、譬喻、言辭種種說法,所作佛事,未曾暫廢。如是,我成佛已來,甚大久遠,壽命無量阿僧祇劫,常住不滅。「諸善男子!我本行菩薩道所成壽命,今猶未盡,復倍上數。然今非實滅度,而便唱言:『當取滅度。』如來以是方便,教化眾生。所以者何?若佛久住於世,薄德之人,不種善根,貧窮下賤,貪著五欲,入於憶想妄見網中。若見如來常在不滅,便起憍恣而懷厭怠,不能生難遭之想、恭敬之心。是故如來以方便說:『比丘當知!諸佛出世,難可值遇。』所以者何?諸薄德人,過無量百千萬億劫,或有見佛,或不見者,以此事故,我作是言:『諸比丘!如來難可得見。』斯眾生等聞如是語,必當生於難遭之想,心懷戀慕,渴仰於佛,便種善根。是故如來雖不實滅,而言滅度。「又,善男子!諸佛如來,法皆如是,為度眾生,皆實不虛。
“Chư thiện nam tử! Như-lai sở diễn kinh điển, giai vi độ thoát chúng sinh, hoặc thuyết kỷ thân, hoặc thuyết tha thân, hoặc thị kỷ thân, hoặc thị tha thân, hoặc thị kỷ sự, hoặc thị tha sự, chư sở ngôn thuyết, giai thực bất hư. Sở dĩ giả hà? Như-lai như thực tri kiến tam giới chi tướng, vô hữu sinh tử, nhược thoái nhược xuất, diệc vô tại thế cập diệt độ giả, phi thực phi hư, phi như phi dị, bất như tam giới kiến ư tam giới, như tư chi sự, Như-lai minh kiến, vô hữu thác mậu. Dĩ chư chúng sinh hữu chủng chủng tính, chủng chủng dục, chủng chủng hành, chủng chủng ức tưởng phân biệt cố, dục lệnh sinh chư thiện căn, dĩ nhược can nhân duyên, thí dụ, ngôn từ chủng chủng thuyết pháp, sở tác Phật sự, vị tằng tạm phế. Như thị, ngã thành Phật dĩ lai, thậm đại cửu viễn, thọ mệnh vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, thường trụ bất diệt. “Chư thiện nam tử! Ngã bản hành Bồ-tát đạo sở thành thọ mệnh, kim do vị tận, phục bội thượng số. Nhiên kim phi thực diệt độ, nhi tiện xướng ngôn: ‘Đương thủ diệt độ.’ Như-lai dĩ thị phương tiện, giáo hóa chúng sinh. Sở dĩ giả hà? Nhược Phật cửu trụ ư thế, bạc đức chi nhân, bất chủng thiện căn, bần cùng hạ tiện, tham trước ngũ dục, nhập ư ức tưởng vọng kiến võng trung. Nhược kiến Như-lai thường tại bất diệt, tiện khởi kiêu tứ nhi hoài yếm đãi, bất năng sinh nan tao chi tưởng, cung kính chi tâm. Thị cố Như-lai dĩ phương tiện thuyết: ‘Tỳ-kheo đương tri! Chư Phật xuất thế, nan khả trị ngộ.’ Sở dĩ giả hà? Chư bạc đức nhân, quá vô lượng bách thiên vạn ức kiếp, hoặc hữu kiến Phật, hoặc bất kiến giả, dĩ thử sự cố, ngã tác thị ngôn: ‘Chư tỳ-kheo! Như-lai nan khả đắc kiến.’ Tư chúng sinh đẳng văn như thị ngữ, tất đương sinh ư nan tao chi tưởng, tâm hoài luyến mộ, khát ngưỡng ư Phật, tiện chủng thiện căn. Thị cố Như-lai tuy bất thực diệt, nhi ngôn diệt độ. “Hựu, thiện nam tử! Chư Phật Như-lai, pháp giai như thị, vi độ chúng sinh, giai thực bất hư.
Các thiện nam tử! Kinh điển của đức Như Lai nói ra, đều vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc chỉ thân mình, hoặc chỉ thân người, hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người, các lời nói đều thật chẳng dối. Vì sao? Vì đức Như Lai đúng như thật thấy biết tướng của tam giới, không có sanh tử, hoặc thối, hoặc xuất, cũng không ở đời và diệt độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy nơi ba cõi. Các việc như thế Như Lai thấy rõ, không có sai lầm. Bởi các chúng sanh có các món tính, các món dục, các món hạnh, các món nhớ tưởng phân biệt, muốn làm cho sanh các căn lành, nên dùng bao nhiêu nhân duyên, thí dụ ngôn từ, các cách nói pháp, chỗ làm Phật sự, chưa từng tạm bỏ. Như thế, từ ta thành Phật nhẫn lại, thật là lâu xa, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp, thường còn chẳng mất. Các thiện nam tử! Ta xưa tu hành đạo Bồ tát, cảm thành thọ mạng, nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên, nhưng nay chẳng phải thật diệt độ, mà bèn xướng nói sẽ diệt độ. Đức Như Lai dùng phương tiện đó, giáo hóa chúng sanh. Vì sao? Vì nếu Phật ở lâu nơi đời, thời người đức mỏng, chẳng trồng gốc lành, nghèo cùng hèn hạ, ham ưa năm món dục, sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng kiến. Nếu thấy đức Như Lai thường còn chẳng mất, bèn sanh lòng buông lung nhàm trễ, chẳng có thể sanh ra ý tưởng khó gặp gỡ cùng lòng cung kính, cho nên đức Như Lai dùng phương tiện nói rằng: “Tỳ kheo phải biết, các đức Phật ra đời, khó có thể gặp gỡ”. Vì sao? Những người đức mỏng, trải qua trăm nghìn muôn ức kiếp, hoặc có người thấy Phật hoặc người chẳng thấy, do việc này, nên ta nói rằng: “Tỳ kheo! Đức Như Lai khó có thể được thấy”. Các chúng sanh đó nghe lời như thế, ắt sẽ sanh ý tưởng khó gặp gỡ, ôm lòng luyến mộ khát ngưỡng nơi Phật, bèn trồng gốc lành, cho nên đức Như Lai dầu chẳng diệt mà nói diệt độ. Lại thiện nam tử! Phương pháp của các đức Phật Như Lai đều như thế, vì độ chúng sanh đều thật chẳng dối.
譬如良醫,智慧聰達,明練方藥,善治眾病。其人多諸子息——若十、二十乃至百數,以有事緣,遠至餘國。諸子於後,飲他毒藥,藥發悶亂,宛轉于地。是時其父還來歸家,諸子飲毒,或失本心、或不失者,遙見其父,皆大歡喜,拜跪問訊:『善安隱歸。我等愚癡,誤服毒藥,願見救療,更賜壽命。』父見子等苦惱如是,依諸經方,求好藥草,色香美味皆悉具足,擣篩和合與子令服,而作是言:『此大良藥,色香美味皆悉具足,汝等可服,速除苦惱,無復眾患。』其諸子中不失心者,見此良藥、色香俱好,即便服之,病盡除愈。餘失心者,見其父來,雖亦歡喜問訊,求索治病,然與其藥而不肯服。所以者何?毒氣深入,失本心故,於此好色香藥而謂不美。父作是念:『此子可愍,為毒所中,心皆顛倒。雖見我喜,求索救療;如是好藥而不肯服。我今當設方便,令服此藥。』即作是言:『汝等當知!我今衰老,死時已至,是好良藥,今留在此,汝可取服,勿憂不差。』作是教已,復至他國,遣使還告:『汝父已死。』是時諸子聞父背喪,心大憂惱而作是念:『若父在者,慈愍我等,能見救護,今者捨我遠喪他國。』自惟孤露,無復恃怙,常懷悲感,心遂醒悟,乃知此藥色味香美,即取服之,毒病皆愈。其父聞子悉已得差,尋便來歸,咸使見之。「諸善男子!於意云何?頗有人能說此良醫虛妄罪不?」「不也,世尊!」佛言:「我亦如是,成佛已來、無量無邊百千萬億那由他阿僧祇劫,為眾生故,以方便力、言當滅度,亦無有能如法說我虛妄過者。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Thí như lương y, trí tuệ thông đạt, minh luyện phương dược, thiện trị chúng bệnh. Kỳ nhân đa chư tử tức——nhược thập, nhị thập nãi chí bách số, dĩ hữu sự duyên, viễn chí dư quốc. Chư tử ư hậu, ẩm tha độc dược, dược phát muộn loạn, uyển chuyển vu địa. Thị thời kỳ phụ hoàn lai quy gia, chư tử ẩm độc, hoặc thất bản tâm, hoặc bất thất giả, dao kiến kỳ phụ, giai đại hoan hỷ, bái quỵ vấn tấn: ‘Thiện an ẩn quy. Ngã đẳng ngu si, ngộ phục độc dược, nguyện kiến cứu liệu, cánh tứ thọ mệnh.’ Phụ kiến tử đẳng khổ não như thị, y chư kinh phương, cầu hảo dược thảo, sắc hương mỹ vị giai tất cụ túc, đảo si hòa hợp dữ tử lệnh phục, nhi tác thị ngôn: ‘Thử đại lương dược, sắc hương mỹ vị giai tất cụ túc, nhữ đẳng khả phục, tốc trừ khổ não, vô phục chúng hoạn.’ Kỳ chư tử trung bất thất tâm giả, kiến thử lương dược, sắc hương câu hảo, tức tiện phục chi, bệnh tận trừ dũ. Dư thất tâm giả, kiến kỳ phụ lai, tuy diệc hoan hỷ vấn tấn, cầu sách trị bệnh, nhiên dữ kỳ dược nhi bất khẳng phục. Sở dĩ giả hà? Độc khí thâm nhập, thất bản tâm cố, ư thử hảo sắc hương dược nhi vị bất mỹ. Phụ tác thị niệm: ‘Thử tử khả mẫn, vi độc sở trung, tâm giai điên đảo. Tuy kiến ngã hỷ, cầu sách cứu liệu; như thị hảo dược nhi bất khẳng phục. Ngã kim đương thiết phương tiện, lệnh phục thử dược.’ Tức tác thị ngôn: ‘Nhữ đẳng đương tri! Ngã kim suy lão, tử thời dĩ chí, thị hảo lương dược, kim lưu tại thử, nhữ khả thủ phục, vật ưu bất sai.’ Tác thị giáo dĩ, phục chí tha quốc, khiển sử hoàn cáo: ‘Nhữ phụ dĩ tử.’ Thị thời chư tử văn phụ bối táng, tâm đại ưu não nhi tác thị niệm: ‘Nhược phụ tại giả, từ mẫn ngã đẳng, năng kiến cứu hộ, kim giả xả ngã viễn táng tha quốc.’ Tự duy cô lộ, vô phục thị hỗ, thường hoài bi cảm, tâm toại tỉnh ngộ, nãi tri thử dược sắc vị hương mỹ, tức thủ phục chi, độc bệnh giai dũ. Kỳ phụ văn tử tất dĩ đắc sai, tầm tiện lai quy, hàm sử kiến chi. “Chư thiện nam tử! Ư ý vân hà? Pha hữu nhân năng thuyết thử lương y hư vọng tội phủ?” “Phất dã, Thế-tôn!” Phật ngôn: “Ngã diệc như thị, thành Phật dĩ lai, vô lượng vô biên bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp, vi chúng sinh cố, dĩ phương tiện lực, ngôn đương diệt độ, diệc vô hữu năng như pháp thuyết ngã hư vọng quá giả.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Ví như vị lương y, trí huệ sáng suốt, khéo luyện phương thuốc trị các bệnh. Người đó nhiều con cái, hoặc mười, hai mươi nhẫn đến số trăm, do có sự duyên đến nước xa khác. Sau lúc đó các người con uống thuốc độc khác, thuốc phát mê loạn lăn lộn trên đất. Bấy giờ, người cha từ nước xa trở về nhà. Các con uống thuốc độc, hoặc người mất bản tâm, hoặc chẳng mất, xa thấy cha về đều rất vui mừng, quỳ lạy hỏi thăm: “An lành về an ổn. Chúng con ngu si, lầm uống thuốc độc, xin cứu lành cho, lại ban thọ mệnh cho chúng con”. Cha thấy các con khổ não như thế, y theo các kinh phương (12) tìm cỏ thuốc tốt, mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy đủ. Đâm nghiền hòa hợp, đưa bảo các con uống mà nói rằng: “Thuốc đại lương dược này mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy đủ, các con nên uống, mau trừ khổ não, không còn lại có các bệnh hoạn”. Trong các con, những người chẳng thất tâm, thấy thuốc lương dược ấy, sắc hương đều tốt, liền bèn uống đó, bệnh trừ hết, được lành mạnh. Ngoài ra, những người thất tâm, thấy cha về dầu cũng vui mừng hỏi thăm, cầu xin trị bệnh, song trao thuốc cho mà không chịu uống. Vì sao? Vì hơi độc đã thâm nhập làm mất bản tâm, nơi thuốc tốt thơm đẹp này mà cho là không ngon. Người cha nghĩ rằng: “Người con này đáng thương, bị trúng độc, tâm đều điên đảo, dầu thấy ta về, mừng cầu xin cứu lành, nhưng thuốc tốt như thế, mà chẳng chịu uống, nay ta bày chước phương tiện, khiến chúng uống thuốc này”. Nghĩ thế rồi liền bảo rằng: “Các con phải biết, ta nay già suy, giờ chết đã đến, thuốc “lương dược” tốt này nay để ở đây, các con nên lấy uống, chớ lo không lành”. Bảo thế, rồi lại đến nước khác, sai sứ về nói: “Cha các ngươi đã chết”. Bấy giờ, các con nghe cha chết, lòng rất sầu khổ mà nghĩ rằng: “Nếu cha ta còn, thương xót chúng ta, có thể được cứu hộ, hôm nay bỏ ta xa chết ở nước khác”. Tự nghĩ mình nay côi cút, không có chỗ cậy nhờ, lòng thương bi cảm, tâm bèn tỉnh ngộ biết thuốc này, sắc hương vị ngon, liền lấy uống đó, bệnh độc đều lành. Người cha nghe các con đều đã lành mạnh, liền trở về cho các con đều thấy. Các Thiện nam tử! Ý ông nghĩ sao? Vả có người nào có thể nói ông lương y đó mắc tội hư dối chăng? - Thưa Thế Tôn! Không thể được! Phật nói: “Ta cũng như thế, từ khi thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, vì chúng sanh dùng sức phương tiện nói: “sẽ diệt độ”, cũng không ai có thể đúng như pháp mà nói ta lỗi hư dối. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「自我得佛來,所經諸劫數,無量百千萬,億載阿僧祇,常說法教化,無數億眾生,令入於佛道。爾來無量劫,為度眾生故,方便現涅槃,而實不滅度,常住此說法。我常住於此,以諸神通力,令顛倒眾生,雖近而不見。眾見我滅度,廣供養舍利,咸皆懷戀慕,而生渴仰心。眾生既信伏,質直意柔軟,一心欲見佛,不自惜身命。時我及眾僧,俱出靈鷲山,我時語眾生:『常在此不滅,以方便力故,現有滅不滅。』餘國有眾生,恭敬信樂者,我復於彼中,為說無上法。汝等不聞此,但謂我滅度。我見諸眾生,沒在於苦惱,故不為現身,令其生渴仰,因其心戀慕,乃出為說法。神通力如是,於阿僧祇劫,常在靈鷲山,及餘諸住處。眾生見劫盡,大火所燒時,我此土安隱,天人常充滿。園林諸堂閣,種種寶莊嚴,寶樹多花菓,眾生所遊樂。諸天擊天鼓,常作眾伎樂,雨曼陀羅花,散佛及大眾。我淨土不毀,而眾見燒盡,憂怖諸苦惱,如是悉充滿。是諸罪眾生,以惡業因緣,過阿僧祇劫,不聞三寶名。諸有修功德,柔和質直者,則皆見我身,在此而說法。或時為此眾,說佛壽無量,久乃見佛者,為說佛難值。我智力如是,慧光照無量,壽命無數劫,久修業所得。汝等有智者,勿於此生疑,當斷令永盡,佛語實不虛。如醫善方便,為治狂子故,實在而言死,無能說虛妄。我亦為世父,救諸苦患者,為凡夫顛倒,實在而言滅。以常見我故,而生憍恣心,放逸著五欲,墮於惡道中。我常知眾生,行道不行道,隨所應可度,為說種種法。每自作是意,以何令眾生,得入無上慧,速成就佛身。」
“Tự ngã đắc Phật lai, sở kinh chư kiếp số, vô lượng bách thiên vạn, ức tải a-tăng-kỳ, thường thuyết pháp giáo hóa, vô số ức chúng sinh, lệnh nhập ư Phật đạo. Nhĩ lai vô lượng kiếp, vi độ chúng sinh cố, phương tiện hiện Niết-bàn, nhi thực bất diệt độ, thường trụ thử thuyết pháp. Ngã thường trụ ư thử, dĩ chư thần thông lực, lệnh điên đảo chúng sinh, tuy cận nhi bất kiến. Chúng kiến ngã diệt độ, quảng cúng dường xá-lợi, hàm giai hoài luyến mộ, nhi sinh khát ngưỡng tâm. Chúng sinh ký tín phục, chất trực ý nhu nhuyễn, nhất tâm dục kiến Phật, bất tự tích thân mệnh. Thời ngã cập chúng tăng, câu xuất linh thứu sơn, ngã thời ngữ chúng sinh: ‘Thường tại thử bất diệt, dĩ phương tiện lực cố, hiện hữu diệt bất diệt.’ Dư quốc hữu chúng sinh, cung kính tín lạc giả, ngã phục ư bỉ trung, vi thuyết vô thượng pháp. Nhữ đẳng bất văn thử, đãn vị ngã diệt độ. Ngã kiến chư chúng sinh, một tại ư khổ não, cố bất vi hiện thân, lệnh kỳ sinh khát ngưỡng, nhân kỳ tâm luyến mộ, nãi xuất vi thuyết pháp. Thần thông lực như thị, ư a-tăng-kỳ kiếp, thường tại linh thứu sơn, cập dư chư trụ xứ. Chúng sinh kiến kiếp tận, đại hỏa sở thiêu thời, ngã thử thổ an ẩn, thiên nhân thường sung mãn. Viên lâm chư đường các, chủng chủng bảo trang nghiêm, bảo thụ đa hoa quả, chúng sinh sở du lạc. Chư thiên kích thiên cổ, thường tác chúng kỹ nhạc, vũ mạn-đà-la hoa, tán Phật cập đại chúng. Ngã tịnh thổ bất hủy, nhi chúng kiến thiêu tận, ưu bố chư khổ não, như thị tất sung mãn. Thị chư tội chúng sinh, dĩ ác nghiệp nhân duyên, quá a-tăng-kỳ kiếp, bất văn tam bảo danh. Chư hữu tu công đức, nhu hòa chất trực giả, tắc giai kiến ngã thân, tại thử nhi thuyết pháp. Hoặc thời vi thử chúng, thuyết Phật thọ vô lượng, cửu nãi kiến Phật giả, vi thuyết Phật nan trị. Ngã trí lực như thị, tuệ quang chiếu vô lượng, thọ mệnh vô số kiếp, cửu tu nghiệp sở đắc. Nhữ đẳng hữu trí giả, vật ư thử sinh nghi, đương đoạn lệnh vĩnh tận, Phật ngữ thực bất hư. Như y thiện phương tiện, vi trị cuồng tử cố, thực tại nhi ngôn tử, vô năng thuyết hư vọng. Ngã diệc vi thế phụ, cứu chư khổ hoạn giả, vi phàm phu điên đảo, thực tại nhi ngôn diệt. Dĩ thường kiến ngã cố, nhi sinh kiêu tứ tâm, phóng dật trước ngũ dục, đọa ư ác đạo trung. Ngã thường tri chúng sinh, hành đạo bất hành đạo, tùy sở ưng khả độ, vi thuyết chủng chủng pháp. Mỗi tự tác thị ý, dĩ hà lệnh chúng sinh, đắc nhập vô thượng tuệ, tốc thành tựu Phật thân.”
Từ ta thành Phật lại
Trải qua các kiếp số
Vô lượng trăm nghìn muôn
A tăng kỳ ức năm
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số ức chúng sanh
Khiến vào nơi Phật đạo
Đến nay vô lượng kiếp
Vì độ chúng sanh vậy
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp.
Ta thường trụ ở đây
Dùng các sức thần thông
Khiến chúng sanh điên đảo
Dầu gần mà chẳng thấy
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường Xá lợi
Thảy đều hoài luyến mộ
Mà sanh lòng khát ngưỡng,
Chúng sanh đã tín phục
Ngay thật ý diệu hòa
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tự tiếc thân mạng
Giờ ta cùng chúng tăng
Đều ra khỏi Linh Thứu
Ta nói với chúng sanh
Thường ở đây chẳng diệt
Vì dùng sức phương tiện
Hiện có diệt chẳng diệt.
Nước khác có chúng sanh
Lòng cung kính tín nhạo
Ta ở lại trong đó
Vì nói pháp vô thượng
Ông chẳng nghe việc đó
Chỉ nói ta diệt độ.
Ta thấy các chúng sanh
Chìm ở trong khổ não
Nên chẳng vì hiện thân
Cho kia sanh khát ngưỡng
Nhân tâm kia luyến mộ
Hiện ra vì nói pháp
Sức thần thông như thế
Ở trong vô số kiếp
Thường tại núi Linh Thứu
Và các trụ xứ khác.
Chúng sanh thấy tận kiếp
Lúc lửa lớn thiêu đốt
Cõi ta đây an ổn
Trời người thường đông vầy
Vườn rừng các nhà gác
Những món báu trang nghiêm
Cây báu nhiều hoa trái
Chỗ chúng sanh vui chơi
Các trời đánh trống trời
Thường trổi những kỹ nhạc
Rưới hoa mạn đà la
Cúng Phật và đại chúng.
Tịnh độ ta chẳng hư
Mà chúng thấy cháy rã
Lo sợ các khổ não
Như thế đều đầy dẫy
Các chúng sanh tội đó
Vì nhân duyên nghiệp dữ
Quá a tăng kỳ kiếp
Chẳng nghe tên Tam bảo.
Người nhu hòa ngay thật
Có tu các công đức
Thời đều thấy thân ta
Ở tại đây nói pháp.
Hoặc lúc vì chúng này
Nói Phật thọ vô lượng,
Người lâu mới thấy Phật
Vì nói Phật khó gặp.
Trí lực ta như thế
Tuệ Quang soi vô lượng
Thọ mạng vô số kiếp
Tu hành lâu cảm được
Các ông người có trí
Chớ ở đây sanh nghi
Nên dứt khiến hết hẳn
Lời Phật thật không dối
Như lương y chước khéo
Vì để trị cuồng tử
Thật còn mà nói chết
Không thể nói hư dối.
Ta là cha trong đời
Cứu các người đau khổ
Vì phàm phu điên đảo
Thật còn mà nói diệt,
Vì cớ thường thấy ta
Mà sanh lòng kiêu tứ
Buông lung ham ngũ dục
Sa vào trong đường dữ.
Ta thường biết chúng sanh
Hành bạo chẳng hành đạo
Tùy chỗ đáng độ được
Vì nói các pháp môn
Hằng tự nghĩ thế này:
Lấy gì cho chúng sanh
Được vào huệ vô thượng
Mau thành tựu thân Phật.
PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI BẢY
妙法蓮華經分別功德品第十七
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh phân biệt công đức phẩm đệ thập thất
PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI BẢY
爾時大會,聞佛說壽命劫數長遠如是,無量無邊阿僧祇眾生得大饒益。於時世尊告彌勒菩薩摩訶薩:「阿逸多!我說是如來壽命長遠時,六百八十萬億那由他恒河沙眾生,得無生法忍;復有千倍菩薩摩訶薩,得聞持陀羅尼門;復有一世界微塵數菩薩摩訶薩,得樂說無礙辯才;復有一世界微塵數菩薩摩訶薩,得百千萬億無量旋陀羅尼;復有三千大千世界微塵數菩薩摩訶薩,能轉不退法輪;復有二千中國土微塵數菩薩摩訶薩,能轉清淨法輪;復有小千國土微塵數菩薩摩訶薩,八生當得阿耨多羅三藐三菩提;復有四四天下微塵數菩薩摩訶薩,四生當得阿耨多羅三藐三菩提;復有三四天下微塵數菩薩摩訶薩,三生當得阿耨多羅三藐三菩提;復有二四天下微塵數菩薩摩訶薩,二生當得阿耨多羅三藐三菩提;復有一四天下微塵數菩薩摩訶薩,一生當得阿耨多羅三藐三菩提;復有八世界微塵數眾生,皆發阿耨多羅三藐三菩提心。」
Nhĩ thời đại hội, văn Phật thuyết thọ mệnh kiếp số trường viễn như thị, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh đắc đại nhiêu ích. Ư thời Thế-tôn cáo Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát: “A-dật-đa! Ngã thuyết thị Như-lai thọ mệnh trường viễn thời, lục bách bát thập vạn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sinh, đắc vô sinh pháp nhẫn; phục hữu thiên bội Bồ-tát Ma-ha tát, đắc văn trì đà-la-ni môn; phục hữu nhất thế giới vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, đắc nhạo thuyết vô ngại biện tài; phục hữu nhất thế giới vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, đắc bách thiên vạn ức vô lượng toàn đà-la-ni; phục hữu tam thiên đại thiên thế giới vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, năng chuyển bất thoái pháp luân; phục hữu nhị thiên trung quốc độ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, năng chuyển thanh tịnh pháp luân; phục hữu tiểu thiên quốc độ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, bát sinh đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; phục hữu tứ tứ thiên hạ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, tứ sinh đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; phục hữu tam tứ thiên hạ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, tam sinh đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; phục hữu nhị tứ thiên hạ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, nhị sinh đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; phục hữu nhất tứ thiên hạ vi trần số Bồ-tát Ma-ha tát, nhất sinh đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề; phục hữu bát thế giới vi trần số chúng sinh, giai phát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm.”
Lúc bấy giờ, trong đại hội nghe Phật nói thọ mạng, kiếp số dài lâu như thế, vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh được lợi ích lớn. Khi đó, đức Thế Tôn bảo ngài Di Lặc đại Bồ tát: “A Dật Đa! Lúc ta nói đức Như Lai thọ mạng dài lâu như thế, có sáu trăm tám muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được “Vô sanh pháp nhẫn”. (13) Lại có đại Bồ tát nghìn lần gấp bội được môn “văn trì đà la ni” (14). Lại có một thế giới vi trần số đại Bồ tát được “Nhạo thuyết vô ngại biện tài” (15). Lại có một thế giới vi trần số đại Bồ tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng môn “Triền đà la ni”. Lại có tam thiên đại thiên thế giới vi trần số đại Bồ tát chuyển được “Pháp luân bất thối”. Lại có nhị thiên trung quốc độ vi trần số đại Bồ tát chuyển được “Pháp luân thanh tịnh”. Lại có tiểu thiên quốc độ vi trần số đại Bồ tát tám đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại có bốn Tứ thiên hạ (16) vi trần số đại Bồ tát bốn đời sẽ được chánh đẳng chánh giác. Lại có ba tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát ba đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại có hai tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát hai đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại có một tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát một đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại có tám thế giới vi trần số chúng sanh đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác”.
佛說是諸菩薩摩訶薩得大法利時,於虛空中,雨曼陀羅華、摩訶曼陀羅華,以散無量百千萬億眾寶樹下、師子座上諸佛,并散七寶塔中師子座上釋迦牟尼佛及久滅度多寶如來,亦散一切諸大菩薩及四部眾。又雨細末栴檀、沈水香等。於虛空中,天鼓自鳴,妙聲深遠。又雨千種天衣,垂諸瓔珞、真珠瓔珞、摩尼珠瓔珞、如意珠瓔珞,遍於九方。眾寶香爐燒無價香,自然周至,供養大會。一一佛上,有諸菩薩,執持幡蓋,次第而上,至于梵天。是諸菩薩,以妙音聲,歌無量頌,讚歎諸佛。爾時彌勒菩薩從座而起,偏袒右肩,合掌向佛,而說偈言:
Phật thuyết thị chư Bồ-tát Ma-ha tát đắc đại pháp lợi thời, ư hư không trung, vũ mạn-đà-la hoa, Ma-ha mạn-đà-la hoa, dĩ tán vô lượng bách thiên vạn ức chúng bảo thụ hạ, sư tử tòa thượng chư Phật, tinh tán thất bảo tháp trung sư tử tòa thượng Thích-ca Mâu-ni Phật cập cửu diệt độ đa bảo Như-lai, diệc tán nhất thiết chư đại Bồ-tát cập tứ bộ chúng. Hựu vũ tế mạt chiên-đàn, trầm thủy hương đẳng. Ư hư không trung, thiên cổ tự minh, diệu thanh thâm viễn. Hựu vũ thiên chủng thiên y, thùy chư anh lạc, chân châu anh lạc, ma ni châu anh lạc, như ý châu anh lạc, biến ư cửu phương. Chúng bảo hương lò thiêu vô giá hương, tự nhiên chu chí, cúng dường đại hội. Nhất nhất Phật thượng, hữu chư Bồ-tát, chấp trì phướn cái, thứ đệ nhi thượng, chí vu phạm thiên. Thị chư Bồ-tát, dĩ Diệu Âm thanh, ca vô lượng tụng, tán thán chư Phật. Nhĩ thời Di-lặc Bồ-tát tùng tòa nhi khởi, thiên đản hữu kiên, hợp chưởng hướng Phật, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc đức Phật nói các vị đại Bồ tát đó được pháp lợi (17), trên giữa hư không, rưới hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la để rải vô lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới gốc cây báu, và rải đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng đức Đa Bảo Phật ngồi trên tòa sư tử trong tháp bảy báu: cùng rải tất cả các đại Bồ tát và bốn bộ chúng. Lại rưới bột gỗ chiên đàn, trầm thủy hương v.v... trong hư không, trống trời tự kêu tiếng hay sâu xa. Lại rải nghìn thứ thiên y, thòng các chuỗi ngọc, chuỗi ngọc trân châu, chuỗi châu ma ni, chuỗi châu như ý khắp cả chín phương, các lò hương báu đốt hương vô giá, tự nhiên khắp đến cúng dường đại chúng. Trên mỗi đức Phật có các vị Bồ tát nắm cầm phan lọng, thứ đệ mà lên đến trời Phạm thiên. Các vị Bồ tát đó dùng tiếng tăm hay, ca vô lượng bài tụng ngợi khen các đức Phật. Khi ấy ngài Di Lặc Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng về phía Phật mà nói kệ rằng:
「佛說希有法,昔所未曾聞,世尊有大力,壽命不可量。無數諸佛子,聞世尊分別,說得法利者,歡喜充遍身。或住不退地,或得陀羅尼,或無礙樂說,萬億旋總持。或有大千界,微塵數菩薩,各各皆能轉,不退之法輪。復有中千界,微塵數菩薩,各各皆能轉,清淨之法輪。復有小千界,微塵數菩薩,餘各八生在,當得成佛道。復有四三二,如此四天下,微塵諸菩薩,隨數生成佛。或一四天下,微塵數菩薩,餘有一生在,當成一切智。如是等眾生,聞佛壽長遠,得無量無漏,清淨之果報。復有八世界,微塵數眾生,聞佛說壽命,皆發無上心。
“Phật thuyết hy hữu pháp, tích sở vị tằng văn, Thế-tôn hữu đại lực, thọ mệnh bất khả lượng. Vô số chư Phật tử, văn Thế-tôn phân biệt, thuyết đắc pháp lợi giả, hoan hỷ sung biến thân. Hoặc trụ bất thoái địa, hoặc đắc đà-la-ni, hoặc vô ngại nhạo thuyết, vạn ức toàn tổng trì. Hoặc hữu đại thiên giới, vi trần số Bồ-tát, các các giai năng chuyển, bất thoái chi pháp luân. Phục hữu trung thiên giới, vi trần số Bồ-tát, các các giai năng chuyển, thanh tịnh chi pháp luân. Phục hữu tiểu thiên giới, vi trần số Bồ-tát, dư các bát sinh tại, đương đắc thành Phật đạo. Phục hữu tứ tam nhị, như thử tứ thiên hạ, vi trần chư Bồ-tát, tùy số sinh thành Phật. Hoặc nhất tứ thiên hạ, vi trần số Bồ-tát, dư hữu nhất sinh tại, đương thành nhất thiết trí. Như thị đẳng chúng sinh, văn Phật thọ trường viễn, đắc vô lượng vô lậu, thanh tịnh chi quả báo. Phục hữu bát thế giới, vi trần số chúng sinh, văn Phật thuyết thọ mệnh, giai phát vô thượng tâm.
Phật nói pháp ít có
Từ xưa chưa từng nghe
Thế Tôn có sức lớn
Thọ mạng chẳng thể lường.
Vô số các Phật tử
Nghe Thế Tôn phân biệt
Nói được pháp lợi đó
Vui mừng đầy khắp thân
Hoặc trụ bậc bất thối
Hoặc được đà la ni
Hoặc vô ngại nhạo thuyết
Muôn ức triền tổng trì.
Hoặc có cõi đại thiên
Số vi trần Bồ tát
Mỗi vị đều nói được
Pháp luân bất thối chuyển.
Hoặc có trung thiên giới
Số vi trần Bồ tát
Mỗi vị đều có thể
Chuyển pháp luân thanh tịnh.
Lại có tiểu thiên giới
Số vi trần Bồ tát
Còn dư lại tám đời
Sẽ được thành Phật đạo.
Lại có bốn, ba, hai
Tứ thiên hạ như thế
Số vi trần Bồ tát
Theo số đời thành Phật.
Hoặc một tứ thiên hạ
Số vi trần Bồ tát
Còn dư có một đời
Sẽ thành nhất thiết trí.
Hàng chúng sanh như thế
Nghe Phật thọ dài lâu
Được vô lượng quả báo
Vô lậu rất thanh tịnh.
Lại có tám thế giới
Số vi trần chúng sanh
Nghe Phật nói thọ mạng
Đều phát tâm vô thượng.
世尊說無量,不可思議法,多有所饒益,如虛空無邊。雨天曼陀羅、摩訶曼陀羅,釋梵如恒沙,無數佛土來。雨栴檀沈水,繽紛而亂墜,如鳥飛空下,供散於諸佛。天鼓虛空中,自然出妙聲,天衣千萬種,旋轉而來下。眾寶妙香爐,燒無價之香,自然悉周遍、供養諸世尊。其大菩薩眾,執七寶幡蓋,高妙萬億種,次第至梵天。一一諸佛前,寶幢懸勝幡,亦以千萬偈、歌詠諸如來。如是種種事,昔所未曾有,聞佛壽無量,一切皆歡喜。佛名聞十方,廣饒益眾生,一切具善根,以助無上心。」
Thế-tôn thuyết vô lượng, bất khả tư nghị pháp, đa hữu sở nhiêu ích, như hư không vô biên. Vũ thiên mạn-đà-la, Ma-ha mạn-đà-la, thích phạm như hằng sa, vô số Phật thổ lai. Vũ chiên-đàn trầm thủy, tân phân nhi loạn trụy, như điểu phi không hạ, cúng tán ư chư Phật. Thiên cổ hư không trung, tự nhiên xuất diệu thanh, thiên y thiên vạn chủng, toàn chuyển nhi lai hạ. Chúng bảo diệu hương lò, thiêu vô giá chi hương, tự nhiên tất chu biến, cúng dường chư Thế-tôn. Kỳ đại Bồ-tát chúng, chấp thất bảo phướn cái, cao diệu vạn ức chủng, thứ đệ chí phạm thiên. Nhất nhất chư Phật tiền, bảo tràng huyền thắng phướn, diệc dĩ thiên vạn kệ, ca vịnh chư Như-lai. Như thị chủng chủng sự, tích sở vị tằng hữu, văn Phật thọ vô lượng, nhất thiết giai hoan hỷ. Phật danh văn thập phương, quảng nhiêu ích chúng sinh, nhất thiết cụ thiện căn, dĩ trợ vô thượng tâm.”
Thế Tôn nói vô lượng
Bất khả tư nghì pháp
Nhiều được có lợi ích
Như hư không vô biên
Rưới hoa thiên mạn đà
Hoa ma ha mạn đà
Thích, Phạm như hằng sa
Vô số cõi Phật đến
Rưới chiên đàn trầm thủy
Lăng xăng loạn sa xuống
Như chim bay liệng xuống
Rải cúng các đức Phật.
Trống trời trong hư không
Tự nhiên vang tiếng mầu,
Áo trời nghìn muôn thứ
Xoay chuyển mà rơi xuống
Các lò hương đẹp báu
Đốt hương quý vô giá
Tự nhiên đều cùng khắp
Cúng dường các Thế Tôn.
Chúng đại Bồ tát kia
Cầm phan lọng bảy báu
Cao đẹp muôn ức thứ
Thứ lớp đến Phạm Thiên.
Trước mỗi mỗi đức Phật
Tràng báu treo phan tốt
Cũng dùng nghìn muôn kệ
Ca vịnh các Như Lai
Như thế các món việc
Từ xưa chưa từng có
Nghe Phật thọ vô lượng
Tất cả đều vui mừng
Phật tiếng đồn mười phương
Rộng lợi ích chúng sanh
Tất cả đủ căn lành
Để trợ tâm vô thượng.
爾時佛告彌勒菩薩摩訶薩:「阿逸多!其有眾生,聞佛壽命長遠如是,乃至能生一念信解,所得功德,無有限量。若有善男子、善女人,為阿耨多羅三藐三菩提故,於八十萬億那由他劫,行五波羅蜜——檀波羅蜜、尸羅波羅蜜、羼提波羅蜜、毘梨耶波羅蜜、禪波羅蜜——除般若波羅蜜,以是功德比前功德,百分、千分、百千萬億分、不及其一,乃至算數譬喻所不能知。若善男子、善女人,有如是功德,於阿耨多羅三藐三菩提退者,無有是處。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Phật cáo Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát: “A-dật-đa! Kỳ hữu chúng sinh, văn Phật thọ mệnh trường viễn như thị, nãi chí năng sinh nhất niệm tín giải, sở đắc công đức, vô hữu hạn lượng. Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, vi a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cố, ư bát thập vạn ức na-do-tha kiếp, hành ngũ ba-la-mật——đàn ba-la-mật, thi-la ba-la-mật, sằn-đề ba-la-mật, tỳ-lê-da ba-la-mật, thiền ba-la-mật——trừ Bát-nhã ba-la-mật, dĩ thị công đức tỷ tiền công đức, bách phân, thiên phân, bách thiên vạn ức phân, bất cập kỳ nhất, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng tri. Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, hữu như thị công đức, ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thoái giả, vô hữu thị xứ.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Di Lặc đại Bồ tát: “A Dật Đa! Có chúng sanh nào nghe đức Phật thọ mạng dài lâu như thế, nhẫn đến có thể sanh một niệm tín giải, được công đức không thể hạn lượng được. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn, vì đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, trong tám mươi muôn ức na do tha kiếp tu năm pháp ba la mật: bố thí ba la mật, trì giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la mật, trừ trí huệ ba la mật, đem công đức này sánh với công đức tín giải trước, trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng kịp một, nhẫn đến tính đếm, thí dụ, không thể biết được. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn có công đức như thế mà thối thất nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác, thời quyết không có lẽ đó”. Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若人求佛慧,於八十萬億,那由他劫數,行五波羅蜜。於是諸劫中,布施供養佛,及緣覺弟子,并諸菩薩眾。珍異之飲食、上服與臥具,栴檀立精舍,以園林莊嚴。如是等布施,種種皆微妙,盡此諸劫數,以迴向佛道。若復持禁戒,清淨無缺漏,求於無上道,諸佛之所歎。若復行忍辱,住於調柔地,設眾惡來加,其心不傾動。諸有得法者,懷於增上慢,為此所輕惱,如是亦能忍。若復懃精進,志念常堅固,於無量億劫,一心不懈息。又於無數劫,住於空閑處,若坐若經行,除睡常攝心。以是因緣故,能生諸禪定,八十億萬劫、安住心不亂。持此一心福,願求無上道,我得一切智,盡諸禪定際。是人於百千,萬億劫數中,行此諸功德,如上之所說。有善男女等,聞我說壽命,乃至一念信,其福過於彼。若人悉無有,一切諸疑悔,深心須臾信,其福為如此。其有諸菩薩,無量劫行道,聞我說壽命,是則能信受。如是諸人等,頂受此經典,願我於未來,長壽度眾生。如今日世尊、諸釋中之王,道場師子吼,說法無所畏。我等未來世,一切所尊敬,坐於道場時,說壽亦如是。若有深心者,清淨而質直,多聞能總持,隨義解佛語,如是諸人等,於此無有疑。
“Nhược nhân cầu Phật tuệ, ư bát thập vạn ức, na-do-tha kiếp số, hành ngũ ba-la-mật. Ư thị chư kiếp trung, bố thi cúng dường Phật, cập duyên giác đệ tử, tinh chư Bồ-tát chúng. Trân dị chi ẩm thực, thượng phục dữ ngọa cụ, chiên-đàn lập tinh xá, dĩ viên lâm trang nghiêm. Như thị đẳng bố thi, chủng chủng giai vi diệu, tận thử chư kiếp số, dĩ hồi hướng Phật đạo. Nhược phục trì cấm giới, thanh tịnh vô khuyết lậu, cầu ư vô thượng đạo, chư Phật chi sở thán. Nhược phục hành nhẫn nhục, trụ ư điều nhu địa, thiết chúng ác lai gia, kỳ tâm bất khuynh động. Chư hữu đắc pháp giả, hoài ư tăng thượng mạn, vi thử sở khinh não, như thị diệc năng nhẫn. Nhược phục cần tinh tiến, chí niệm thường kiên cố, ư vô lượng ức kiếp, nhất tâm bất giải tức. Hựu ư vô số kiếp, trụ ư không nhàn xứ, nhược tọa nhược kinh hành, trừ thụy thường nhiếp tâm. Dĩ thị nhân duyên cố, năng sinh chư thiền định, bát thập ức vạn kiếp, an trụ tâm bất loạn. Trì thử nhất tâm phúc, nguyện cầu vô thượng đạo, ngã đắc nhất thiết trí, tận chư thiền định tế. Thị nhân ư bách thiên, vạn ức kiếp số trung, hành thử chư công đức, như thượng chi sở thuyết. Hữu thiện nam nữ đẳng, văn ngã thuyết thọ mệnh, nãi chí nhất niệm tín, kỳ phúc quá ư bỉ. Nhược nhân tất vô hữu, nhất thiết chư nghi hối, thâm tâm tu du tín, kỳ phúc vi như thử. Kỳ hữu chư Bồ-tát, vô lượng kiếp hành đạo, văn ngã thuyết thọ mệnh, thị tắc năng tín thọ. Như thị chư nhân đẳng, đỉnh thọ thử kinh điển, nguyện ngã ư vị lai, trường thọ độ chúng sinh. Như kim nhật Thế-tôn, chư thích trung chi vương, đạo tràng sư tử hống, thuyết pháp vô sở úy. Ngã đẳng vị lai thế, nhất thiết sở tôn kính, tọa ư đạo tràng thời, thuyết thọ diệc như thị. Nhược hữu thâm tâm giả, thanh tịnh nhi chất trực, đa văn năng tổng trì, tùy nghĩa giải Phật ngữ, như thị chư nhân đẳng, ư thử vô hữu nghi.
Nếu người cầu huệ Phật.
Trong tám mươi muôn ức
Na do tha kiếp số
Tu năm ba la mật
Ở trong các kiếp đó
Bố thí cúng dường Phật
Và Duyên giác đệ tử
Cùng các chúng Bồ tát,
Đồ uống ăn báu lạ
Thượng phục và đồ nằm
Chiên đàn dựng tinh xá
Dùng vườn rừng trang nghiêm
Bố thí như thế thảy
Các món đều vi diệu
Hết các kiếp số này
Để hồi hướng Phật đạo
Nếu lại gìn cấm giới
Thanh tịnh không thiếu sót
Cầu nơi đạo vô thượng
Được các Phật ngợi khen
Nếu lại tu nhẫn nhục
Trụ nơi chỗ điều nhu
Dầu các ác đến hại
Tâm đó chẳng khuynh động
Các người có được pháp
Cưu lòng tăng thượng mạn
Bị bọn này khinh não
Như thế đều nhẫn được.
Hoặc lại siêng tinh tấn
Chí niệm thường bền vững
Trong vô lượng ức kiếp
Một lòng chẳng trễ thôi.
Lại trong vô số kiếp
Trụ nơi chỗ vắng vẻ
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Trừ ngủ thường nhiếp tâm
Do các nhân duyên đó
Hay sanh các thiền định,
Tám mươi ức muôn kiếp
An trụ tâm chẳng loạn
Đem phước thiền định đó
Nguyện cầu đạo vô thượng
Ta được nhất thiết trí
Tận ngằn các thiền định
Người đó trong trăm nghìn
Muôn ức kiếp số lâu
Tu các công đức này
Như trên đã nói rõ.
Có thiện nam, tín nữ
Nghe ta nói thọ mạng
Nhẫn đến một niệm tin
Phước đây hơn phước kia
Nếu người trọn không có
Tất cả các nghi hối
Thân tâm giây lát tin
Phước đó nhiều như thế.
Nếu có các Bồ tát
Vô lượng kiếp hành đạo
Nghe ta nói thọ mạng
Đây thời tin nhận được
Các hàng người như thế
Đảnh thọ kinh điển này
Nguyện ta thuở vị lai
Sống lâu độ chúng sanh
Như Thế Tôn ngày nay
Vua trong các họ Thích
Đạo tràng rền tiếng lớn
Nói pháp không sợ sệt
Chúng ta đời vị lai
Được mọi người tôn kính
Lúc ngồi nơi đạo tràng
Nói thọ mạng cũng thế.
Nếu có người thâm tâm
Trong sạch mà ngay thật
Học rộng hay tổng trì
Tùy nghĩa giải lời Phật
Những người như thế đó
Nơi đây không có nghi.
「又,阿逸多!若有聞佛壽命長遠,解其言趣,是人所得功德無有限量,能起如來無上之慧。何況廣聞是經、若教人聞,若自持、若教人持,若自書、若教人書,若以華、香、瓔珞、幢幡、繒蓋、香油、酥燈,供養經卷,是人功德無量無邊,能生一切種智。「阿逸多!若善男子、善女人,聞我說壽命長遠,深心信解,則為見佛常在耆闍崛山,共大菩薩、諸聲聞眾圍繞說法。又見此娑婆世界,其地琉璃,坦然平正,閻浮檀金以界八道,寶樹行列,諸臺樓觀皆悉寶成,其菩薩眾咸處其中。若有能如是觀者,當知是為深信解相。「又復如來滅後,若聞是經而不毀呰,起隨喜心,當知已為深信解相,何況讀誦、受持之者,斯人則為頂戴如來。「阿逸多!是善男子、善女人,不須為我復起塔寺,及作僧坊、以四事供養眾僧。所以者何?是善男子、善女人,受持讀誦是經典者,為已起塔、造立僧坊、供養眾僧。則為以佛舍利起七寶塔,高廣漸小至于梵天,懸諸幡蓋及眾寶鈴,華、香、瓔珞,末香、塗香、燒香,眾鼓、伎樂,簫、笛、箜篌,種種舞戲,以妙音聲歌唄讚頌,則為於無量千萬億劫作是供養已。「阿逸多!若我滅後,聞是經典,有能受持,若自書、若教人書,則為起立僧坊,以赤栴檀作諸殿堂三十有二,高八多羅樹,高廣嚴好,百千比丘於其中止,園林、浴池、經行、禪窟,衣服、飲食、床褥、湯藥,一切樂具充滿其中。如是僧坊、堂閣,若干百千萬億,其數無量,以此現前供養於我及比丘僧。是故我說:『如來滅後,若有受持、讀誦、為他人說,若自書、若教人書,供養經卷,不須復起塔寺,及造僧坊、供養眾僧。』況復有人能持是經,兼行布施、持戒、忍辱、精進、一心、智慧,其德最勝,無量無邊。譬如虛空,東西南北、四維上下無量無邊;是人功德,亦復如是無量無邊,疾至一切種智。若人讀誦受持是經,為他人說,若自書、若教人書,復能起塔,及造僧坊、供養讚歎聲聞眾僧,亦以百千萬億讚歎之法讚歎菩薩功德,又為他人,種種因緣隨義解說此法華經,復能清淨持戒,與柔和者而共同止,忍辱無瞋,志念堅固,常貴坐禪得諸深定,精進勇猛攝諸善法,利根智慧善答問難。「阿逸多!若我滅後,諸善男子、善女人,受持讀誦是經典者,復有如是諸善功德,當知是人已趣道場,近阿耨多羅三藐三菩提,坐道樹下。「阿逸多!是善男子、善女人,若坐、若立、若行處,此中便應起塔,一切天人皆應供養如佛之塔。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Hựu, A-dật-đa! Nhược hữu văn Phật thọ mệnh trường viễn, giải kỳ ngôn thú, thị nhân sở đắc công đức vô hữu hạn lượng, năng khởi Như-lai vô thượng chi tuệ. Hà huống quảng văn thị kinh, nhược giáo nhân văn, nhược tự trì, nhược giáo nhân trì, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, nhược dĩ hoa, hương, anh lạc, tràng phướn, tăng cái, hương dầu, tô đăng, cúng dường kinh quyển, thị nhân công đức vô lượng vô biên, năng sinh nhất thiết chủng trí. “A-dật-đa! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn ngã thuyết thọ mệnh trường viễn, thâm tâm tín giải, tắc vi kiến Phật thường tại kỳ xà quật sơn, cộng đại Bồ-tát, chư thanh văn chúng vi nhiễu thuyết pháp. Hựu kiến thử Ta-bà thế giới, kỳ địa lưu-ly, thản nhiên bình chính, Diêm-phù-đàn kim dĩ giới bát đạo, bảo thụ hành liệt, chư đài lâu quán giai tất bảo thành, kỳ Bồ-tát chúng hàm xứ kỳ trung. Nhược hữu năng như thị quán giả, đương tri thị vi thâm tín giải tướng. “Hựu phục Như-lai diệt hậu, nhược văn thị kinh nhi bất hủy tử, khởi tùy hỷ tâm, đương tri dĩ vi thâm tín giải tướng, hà huống độc tụng, thọ trì chi giả, tư nhân tắc vi đỉnh đội Như-lai. “A-dật-đa! Thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, bất tu vi ngã phục khởi tháp tự, cập tác Tăng phường, dĩ tứ sự cúng dường chúng tăng. Sở dĩ giả hà? Thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì độc tụng thị kinh điển giả, vi dĩ khởi tháp, tạo lập Tăng phường, cúng dường chúng tăng. Tắc vi dĩ Phật xá-lợi khởi thất bảo tháp, cao quảng tiệm tiểu chí vu phạm thiên, huyền chư phướn cái cập chúng bảo linh, hoa, hương, anh lạc, mạt hương, đồ hương, thiêu hương, chúng cổ, kỹ nhạc, tiêu, địch, không-hầu, chủng chủng vũ hí, dĩ Diệu Âm thanh ca bái tán tụng, tắc vi ư vô lượng thiên vạn ức kiếp tác thị cúng dường dĩ. “A-dật-đa! Nhược ngã diệt hậu, văn thị kinh điển, hữu năng thọ trì, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, tắc vi khởi lập Tăng phường, dĩ xích chiên-đàn tác chư điện đường tam thập hữu nhị, cao bát đa la thụ, cao quảng nghiêm hảo, bách thiên tỳ-kheo ư kỳ trung chỉ, viên lâm, dục trì, kinh hành, thiền quật, y phục, ẩm thực, sàng nhục, thang dược, nhất thiết lạc cụ sung mãn kỳ trung. Như thị Tăng phường, đường các, nhược can bách thiên vạn ức, kỳ số vô lượng, dĩ thử hiện tiền cúng dường ư ngã cập tỳ-kheo tăng. Thị cố ngã thuyết: ‘Như-lai diệt hậu, nhược hữu thọ trì, độc tụng, vi tha nhân thuyết, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, cúng dường kinh quyển, bất tu phục khởi tháp tự, cập tạo Tăng phường, cúng dường chúng tăng.’ Huống phục hữu nhân năng trì thị kinh, kiêm hành bố thi, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, nhất tâm, trí tuệ, kỳ đức tối thắng, vô lượng vô biên. Thí như hư không, đông tây nam bắc, tứ duy thượng hạ vô lượng vô biên; thị nhân công đức, diệc phục như thị vô lượng vô biên, tật chí nhất thiết chủng trí. Nhược nhân độc tụng thọ trì thị kinh, vi tha nhân thuyết, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, phục năng khởi tháp, cập tạo Tăng phường, cúng dường tán thán thanh văn chúng tăng, diệc dĩ bách thiên vạn ức tán thán chi pháp tán thán Bồ-tát công đức, hựu vi tha nhân, chủng chủng nhân duyên tùy nghĩa giải thuyết thử pháp hoa kinh, phục năng thanh tịnh trì giới, dữ nhu hòa giả nhi cộng đồng chỉ, nhẫn nhục vô sân, chí niệm kiên cố, thường quý tọa thiền đắc chư thâm định, tinh tiến dũng mãnh nhiếp chư thiện pháp, lợi căn trí tuệ thiện đáp vấn nan. “A-dật-đa! Nhược ngã diệt hậu, chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì độc tụng thị kinh điển giả, phục hữu như thị chư thiện công đức, đương tri thị nhân dĩ thú đạo tràng, cận a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tọa đạo thụ hạ. “A-dật-đa! Thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược tọa, nhược lập, nhược hành xứ, thử trung tiện ưng khởi tháp, nhất thiết thiên nhân giai ưng cúng dường như Phật chi tháp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại A Dật Đa! Nếu có người nghe nói đức Phật thọ mạng dài lâu, hiểu ý thú của lời nói đó, người này được công đức không có hạn lượng, có thể sanh huệ vô thượng của Như Lai. Huống là người rộng nghe kinh này, hoặc bảo người nghe, hoặc tự thọ trì hoặc bảo người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, hoặc đem hoa hương, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng nhiễu, dầu thơm, đèn nến cúng dường quyển kinh, công đức của người này vô lượng vô biên có thể sanh nhất thiết chủng trí. A Dật Đa! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe ta nói thọ mạng dài lâu sanh lòng tin hiểu chắc, thời chính là thấy đức Phật thường ở núi Kỳ Xà Quật, cùng chúng Bồ Tát lớn và hàng Thanh văn vây quanh nói pháp. Lại thấy cõi Ta bà này đất bằng lưu ly ngang liền bằng thẳng, dây vàng Diêm phù đàn để ngăn tám nẻo đường, cây báu bày hàng, các đài lầu nhà thảy đều các thứ báu hợp thành, chúng Bồ Tát đều ở trong đó. Nếu có người tưởng quán được như thế, phải biết đó là tướng tin hiểu sâu chắc. Và lại sau đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh này mà không chê bai, sanh lòng tùy hỷ phải biết đó đã là tướng tin hiểu sâu chắc, huống là người đọc, tụng, thọ trì kinh này, người này thì là kẻ đầu đội đức Như Lai. A Dật Đa! Thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn đó chẳng cần lại vì ta mà dựng chùa tháp, và cất Tăng phường dùng bốn sự cúng dường để cúng dường chúng Tăng. Vì sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn đó thọ trì, đọc tụng kinh điển này thì là đã dựng tháp tạo lập Tăng phường cúng dường chúng Tăng, thời là đem xá lợi của Phật dựng tháp bảy báu cao rộng nhỏ lần lên đến trời Phạm Thiên, treo các phan lọng và các linh báu, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, các trống, kỹ nhạc, ống tiêu, ống địch, không hầu các thứ múa chơi, dùng tiếng giọng tốt ca ngâm khen ngợi, thời là ở trong vô lượng nghìn muôn ức kiếp đã làm việc cúng dường đó rồi. A Dật Đa! Nếu sau khi ta diệt độ, nghe kinh điển này, có người hay thọ trì, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, đó là dựng lập Tăng phường, dùng gỗ chiên đàn đỏ làm các cung điện nhà cửa ba mươi hai sở, cao bằng tám cây đa la, cao rộng nghiêm đẹp, trăm nghìn Tỳ kheo ở nơi trong đó. Vườn, rừng, ao tắm, chỗ kinh hành, hang ngồi thiền, y phục đồ uống ăn, giường nệm, thuốc thang tất cả đồ vui dẫy đầy trong đó, Tăng phường có ngần ấy trăm nghìn muôn ức nhà gác như thế, số đó nhiều vô lượng, dùng để hiện tiền cúng dường nơi ta và Tỳ kheo tăng. Cho nên ta nói: Sau khi Như Lai diệt độ nếu có người thọ trì, đọc tụng, vì người khác nói. Hoặc mình chép hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển thì chẳng cần lại dựng chùa tháp và tạo lập Tăng phường cúng dường chúng Tăng. Huống lại có người hay thọ trì kinh này mà gồm tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm, trí huệ, công đức của người đây rất thù thắng vô lượng vô biên. Thí như hư không, đông, tây, nam, bắc, bốn phía trên, dưới vô lượng vô biên, công đức của người đó cũng lại như thế vô lượng vô biên mau đến bậc nhất thiết chủng trí. Nếu có người đọc tụng thọ trì kinh này vì người khác nói, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, lại có thể dựng tháp cùng tạo lập Tăng phường cúng dường khen ngợi chúng Thanh văn tăng, cũng dùng trăm nghìn muôn pháp ngợi khen mà ngợi khen công đức của Bồ tát. Lại vì người khác dùng các món nhân duyên theo nghĩa giải nói kinh Pháp Hoa này, lại có thể thanh tịnh trì giới cùng người nhu hòa mà chung cùng ở, nhẫn nhục không sân, chí niệm bền vững, thường quý ngồi thiền được các món định sâu, tinh tấn mạnh mẽ nhiếp các pháp lành, căn lành trí sáng, giỏi gạn hỏi đáp. A Dật Đa! Nếu sau khi ta diệt độ các thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì, đọc tụng kinh điển này lại có các công đức lành như thế, phải biết người đó đã đến đạo tràng gần vô thượng chánh đẳng chánh giác ngồi dưới gốc đạo thọ. A Dật Đa! Chỗ của thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn đó hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, trong đó bèn nên xây tháp, tất cả trời người đều phải cúng dường như tháp của Phật. Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若我滅度後,能奉持此經,斯人福無量,如上之所說,是則為具足,一切諸供養。以舍利起塔,七寶而莊嚴,表剎甚高廣,漸小至梵天,寶鈴千萬億,風動出妙音。又於無量劫,而供養此塔,華香諸瓔珞,天衣眾伎樂,燃香油酥燈,周匝常照明。惡世法末時,能持是經者,則為已如上,具足諸供養。若能持此經,則如佛現在,以牛頭栴檀,起僧坊供養。堂有三十二,高八多羅樹,上饌妙衣服,床臥皆具足,百千眾住處,園林諸浴池,經行及禪窟,種種皆嚴好。若有信解心,受持讀誦書,若復教人書,及供養經卷,散華香末香,以須曼瞻蔔、阿提目多伽,薰油常燃之。如是供養者,得無量功德,如虛空無邊,其福亦如是。況復持此經,兼布施持戒,忍辱樂禪定,不瞋不惡口,恭敬於塔廟,謙下諸比丘,遠離自高心,常思惟智慧,有問難不瞋,隨順為解說,若能行是行,功德不可量。若見此法師,成就如是德,應以天華散,天衣覆其身,頭面接足禮,生心如佛想。又應作是念:『不久詣道樹,得無漏無為,廣利諸人天。』其所住止處,經行若坐臥,乃至說一偈,是中應起塔,莊嚴令妙好,種種以供養。佛子住此地,則是佛受用,常在於其中,經行及坐臥。」
“Nhược ngã diệt độ hậu, năng phụng trì thử kinh, tư nhân phúc vô lượng, như thượng chi sở thuyết, thị tắc vi cụ túc, nhất thiết chư cúng dường. Dĩ xá-lợi khởi tháp, thất bảo nhi trang nghiêm, biểu sát thậm cao quảng, tiệm tiểu chí phạm thiên, bảo linh thiên vạn ức, phong động xuất Diệu Âm. Hựu ư vô lượng kiếp, nhi cúng dường thử tháp, hoa hương chư anh lạc, thiên y chúng kỹ nhạc, nhiên hương dầu tô đăng, chu táp thường chiếu minh. Ác thế pháp mạt thời, năng trì thị kinh giả, tắc vi dĩ như thượng, cụ túc chư cúng dường. Nhược năng trì thử kinh, tắc như Phật hiện tại, dĩ ngưu đầu chiên-đàn, khởi Tăng phường cúng dường. Đường hữu tam thập nhị, cao bát đa la thụ, thượng soạn diệu y phục, sàng ngọa giai cụ túc, bách thiên chúng trụ xứ, viên lâm chư dục trì, kinh hành cập thiền quật, chủng chủng giai nghiêm hảo. Nhược hữu tín giải tâm, thọ trì độc tụng thư, nhược phục giáo nhân thư, cập cúng dường kinh quyển, tán hoa hương mạt hương, dĩ tu mạn chiêm bặc, a đề mục đa già, huân dầu thường nhiên chi. Như thị cúng dường giả, đắc vô lượng công đức, như hư không vô biên, kỳ phúc diệc như thị. Huống phục trì thử kinh, kiêm bố thi trì giới, nhẫn nhục lạc thiền định, bất sân bất ác khẩu, cung kính ư tháp miếu, khiêm hạ chư tỳ-kheo, viễn ly tự cao tâm, thường tư duy trí tuệ, hữu vấn nan bất sân, tùy thuận vi giải thuyết, nhược năng hành thị hành, công đức bất khả lượng. Nhược kiến thử pháp sư, thành tựu như thị đức, ưng dĩ thiên hoa tán, thiên y phúc kỳ thân, đầu diện tiếp túc lễ, sinh tâm như Phật tưởng. Hựu ưng tác thị niệm: ‘Bất cửu nghệ đạo thụ, đắc vô lậu vô vi, quảng lợi chư nhân thiên.’ Kỳ sở trụ chỉ xứ, kinh hành nhược tọa ngọa, nãi chí thuyết nhất kệ, thị trung ưng khởi tháp, trang nghiêm lệnh diệu hảo, chủng chủng dĩ cúng dường. Phật tử trụ thử địa, tắc thị Phật thọ dụng, thường tại ư kỳ trung, kinh hành cập tọa ngọa.”
Sau khi ta diệt độ
Hay phụng trì kinh này
Người đó phước vô lượng
Như trên đã nói rõ.
Đó thời là đầy đủ
Tất cả các cúng dường
Dùng xá lợi xây tháp
Bảy báu để trang nghiêm
Chùa chiền rất cao rộng
Nhỏ lần đến Phạm thiên
Linh báu nghìn muôn ức
Gió động vang tiếng mầu,
Lại trong vô lượng kiếp
Mà cúng dường tháp đó
Hoa hương, các chuỗi ngọc
Thiên y, các kỹ nhạc
Thắp đèn dầu nến thơm
Quanh khắp thường soi sáng,
Lúc đời ác mạt pháp
Người hay trì kinh này
Thì là đã đầy đủ
Các cúng dường như trên.
Nếu hay trì kinh này
Thì như Phật hiện tại
Dùng ngưu đầu chiên đàn
Dựng Tăng phường cúng dường
Nhà ba mươi hai sở
Cao tám cây Đa la
Đồ ngon y phục tốt
Giường nằm đều đầy đủ.
Trăm nghìn chúng nương ở
Vườn rừng các ao tắm
Chỗ kinh hành, ngồi thiền
Các món đều nghiêm tốt.
Nếu có lòng tín hiểu
Thọ trì, đọc tụng biên
Nếu lại bảo người biên
Và cúng dường kinh quyển
Rải hoa hương, hương bột
Dùng tu mạn, chiêm bặc
A đề, mục đa dà
Ướp dầu thường đốt đó
Người cúng dường như thế
Được công đức vô lượng
Như hư không vô biên
Phước đó cũng như thế.
Huống lại trì kinh này
Gồm bố thí trì giới,
Nhẫn nhục ưa thiền định
Chẳng sân, chẳng ác khẩu
Cung kính nơi tháp miếu
Khiêm hạ các Tỳ kheo
Xa lìa tâm tự cao
Thường nghĩ suy trí huệ,
Có gạn hỏi chẳng sân
Tùy thuận vì giải nói
Nếu làm được hạnh đó
Công đức chẳng lường được.
Nếu thấy Pháp sư này
Nên công đức như thế
Phải dùng hoa trời rải
Áo trời trùm thân kia
Đầu mặt tiếp chân lạy
Sanh lòng tưởng như Phật,
Lại nên nghĩ thế này:
Chẳng lâu đến đạo thọ
Được vô lậu vô vi
Rộng lợi các người trời
Chỗ trụ chỉ của kia
Kinh hành hoặc ngồi nằm
Nhẫn đến nói một kệ
Trong đây nên xây tháp
Trang nghiêm cho tốt đẹp
Các món đem cúng dường,
Phật tử ở chỗ này
Thì là Phật thọ dụng
Thường ở nơi trong đó
Kinh hành và ngồi nằm.
妙法蓮華經卷第五
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ ngũ
(Hết Quyển Thứ Năm — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Năm”)
THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ năm)
- (1) Thật tướng các pháp: Rời tất cả tướng có, không v.v... gọi là “thật tướng” (tướng chân thật), vì tất cả tướng: có, không v.v... đều là hư dối cả.
- (2) Ni kiền tử: Lõa hình ngoại đạo (đạo ở trần truồng) cũng gọi là: “ Vô tàm ngoại đạo” (đạo không biết hổ thẹn).
- (3) Lộ già da đà: Phái thuận thế ngoại đạo (đạo thuận theo thế tục). Nghịch lộ già da đà: Phái trái nghịch với phái thuận thế ngoại đạo (đạo chống trái với thuận thế ngoại đạo).
- (4) Na la: Kẻ múa hát.
- (5) Bất nam: Chẳng phải thật đàn ông, như người lại cái, kẻ không nam căn v.v... (có chỗ gọi là huỳnh môn).
- (6) Chiên đà la: Kẻ đồ tể, quân đao phủ.
- (7) Phiền não ma: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm hay làm khổ hại nên gọi là ma. Các lòng tham, sân, dục, nghi v.v... thường làm rối rắm, phiền muộn rất khổ hại nên gọi là ma.
- (8) Sau khi giáo pháp của đức Thích Ca diệt, mãn tiểu kiếp thứ 9, qua tiểu kiếp thứ 10, thời kỳ kiếp giảm người thọ 80.000 tuổi, đức Di Lặc Bồ Tát hiện thân thành Phật ở cõi này hiệu là “Di Lặc Phật”.
- (9) A Dật Đa: Tên của Di Lặc Bồ Tát, Tàu dịch là “ Vô năng thắng”, còn Di Lặc là họ, dịch là “Từ Thị”.
- (10) Chuyển luân thánh vương: Có bốn: 1. Thiết luân vương (cai trị 1 châu thiên hạ) 2. Đồng luân vương (cai trị 2 châu thiên hạ) 3. Ngân luân vương (cai trị 3 châu thiên hạ) 4. Kim luân vương (cai trị 4 châu thiên hạ) Vì phước nghiệp đời trước nên khi lên ngôi vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra. Vua dùng xe đó mà đi tuần hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là “Chuyển luân thánh vương”.
- (11) Tam muội: Tiếng Phạm, dịch là “chánh định”. Mới vào cõi định gọi là “nhập”, ở trong cõi định gọi là “trụ”, từ cõi định dậy gọi là “xuất” (ra).
- (12) Kinh phương: Những sách nói về phương pháp trị bệnh.
- (13) Vô sanh pháp nhẫn: Sức trí nhận chắc nơi thể vô sanh của các pháp.
- (14) văn trì đà la ni: “Đà la ni” tiếng Phạm dịch là “tổng trì”, được môn văn trì đà la ni này thì nghe pháp đều có thể hiểu nhớ tất cả.
- (15) Vô ngại biện tài: Được môn này thì ưa thích nói pháp không nhàm, không trệ ngại, tài biện luận vô tận.
- (16) Tứ thiên hạ: Ngoài bốn phía núi Tu Di, trong biển “đại hàm hải” có 4 châu: 1. Đông Thắng Thần Châu 2. Tây Ngưu Hóa Châu 3. Bắc Câu Lư Châu 4. Nam Thiệm Bộ Châu cũng gọi Nam Diêm Phù Đề chính là cõi đất chúng ta hiện ở.
- (17) Pháp lợi: V ì nhân duyên nghe pháp mà được lợi ích.
Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)
Toan cầu an lạc, bốn pháp bền tu, thân được “kế châu” nổi tiếng nhà, ba cõi bãi đao binh, bản và tích đều rõ, sa giới chúng ngộ vô sanh. NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)
Đức Văn Thù khải cáo, vừa giúp chân thuyên, bền giữ bốn pháp được an nhiên, từ đất vọt lên chúng nhiều nghìn, ngài A Dật Đa trùng tuyên, thọ lượng rộng vô biên. NAM MÔ A DẬT ĐA BỒ TÁT. (3 lần)
Hết Quyển 5