Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinhkinh dieu phap lien hoa妙法蓮華經卷第三
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ tam
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ BA
後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯
Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch
(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)
PHẨM “DƯỢC THẢO DỤ” THỨ NĂM
藥草喻品第五
Dược thảo dụ phẩm đệ ngũ
PHẨM “DƯỢC THẢO DỤ” THỨ NĂM
爾時世尊告摩訶迦葉及諸大弟子:「善哉,善哉!迦葉善說如來真實功德。誠如所言,如來復有無量無邊阿僧祇功德,汝等若於無量億劫說不能盡。迦葉!當知如來是諸法之王,若有所說皆不虛也。於一切法,以智方便而演說之,其所說法,皆悉到於一切智地。如來觀知一切諸法之所歸趣,亦知一切眾生深心所行,通達無礙;又於諸法究盡明了,示諸眾生一切智慧。
Nhĩ thời Thế-tôn cáo Ma-ha Ca-diếp cập chư đại đệ tử: “Thiện tai, thiện tai! Ca-diếp thiện thuyết Như-lai chân thực công đức. Thành như sở ngôn, Như-lai phục hữu vô lượng vô biên a-tăng-kỳ công đức, nhữ đẳng nhược ư vô lượng ức kiếp thuyết bất năng tận. Ca-diếp! Đương tri Như-lai thị chư pháp chi vương, nhược hữu sở thuyết giai bất hư dã. Ư nhất thiết pháp, dĩ trí phương tiện nhi diễn thuyết chi, kỳ sở thuyết pháp, giai tất đáo ư nhất thiết trí địa. Như-lai quán tri nhất thiết chư pháp chi sở quy thú, diệc tri nhất thiết chúng sinh thâm tâm sở hành, thông đạt vô ngại; hựu ư chư pháp cứu tận minh liễu, thị chư chúng sinh nhất thiết trí tuệ.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Ma ha Ca Diếp các vị đại đệ tử: “Hay thay! Hay thay! Ca Diếp. Khéo nói được công đức chơn thật của đức Như Lai. Đúng như lời các ông vừa nói; đức Như Lai lại còn có vô lượng vô biên a tăng kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được”. Ca Diếp nên biết! Đức Như Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng sức trí huệ phương tiện mà diễn nói đó, pháp của Phật nói thảy đều đến bậc nhứt thiết trí (1). Đức Như Lai xem biết chỗ quy thú (2) của tất cả pháp; cũng rõ biết chỗ tâm sở hành (3) của tất cả chúng sanh thông thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí huệ cho các chúng sanh.
「迦葉!譬如三千大千世界,山川谿谷土地所生卉木叢林及諸藥草,種類若干,名色各異。密雲彌布,遍覆三千大千世界,一時等澍,其澤普洽。卉木叢林及諸藥草,小根小莖、小枝小葉,中根中莖、中枝中葉,大根大莖、大枝大葉,諸樹大小,隨上中下各有所受。一雲所雨,稱其種性而得生長華菓敷實。雖一地所生,一雨所潤,而諸草木,各有差別。
“Ca-diếp! Thí như tam thiên đại thiên thế giới, sơn xuyên khê cốc thổ địa sở sinh hủy mộc tùng lâm cập chư dược thảo, chủng loại nhược can, danh sắc các dị. Mật vân di bố, biến phúc tam thiên đại thiên thế giới, nhất thời đẳng thụ, kỳ trạch phổ hiệp. Hủy mộc tùng lâm cập chư dược thảo, tiểu căn tiểu hành, tiểu chi tiểu diệp, trung căn trung hành, trung chi trung diệp, đại căn đại hành, đại chi đại diệp, chư thụ đại tiểu, tùy thượng trung hạ các hữu sở thọ. Nhất vân sở vũ, xưng kỳ chủng tính nhi đắc sinh trường hoa quả phu thực. Tuy nhất địa sở sinh, nhất vũ sở nhuận, nhi chư thảo mộc, các hữu sai biệt.
Ca Diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên (4) đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm, cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ gốc chỉ vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây nhỏ lớn, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm hoa kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.
「迦葉!當知如來亦復如是,出現於世,如大雲起,以大音聲普遍世界天、人、阿修羅,如彼大雲遍覆三千大千國土。於大眾中、而唱是言:『我是如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊,未度者令度,未解者令解,未安者令安,未涅槃者令得涅槃,今世後世,如實知之。我是一切知者、一切見者、知道者、開道者、說道者,汝等天、人、阿修羅眾,皆應到此,為聽法故。』爾時無數千萬億種眾生,來至佛所而聽法。如來于時,觀是眾生諸根利鈍、精進懈怠,隨其所堪而為說法,種種無量,皆令歡喜,快得善利。是諸眾生聞是法已,現世安隱,後生善處,以道受樂,亦得聞法。既聞法已,離諸障礙,於諸法中,任力所能,漸得入道。如彼大雲,雨於一切卉木叢林及諸藥草,如其種性,具足蒙潤,各得生長。「如來說法,一相一味——所謂:解脫相、離相、滅相,究竟至於一切種智。其有眾生聞如來法,若持讀誦,如說修行,所得功德,不自覺知。所以者何?唯有如來知此眾生種相體性,念何事、思何事、修何事,云何念、云何思、云何修,以何法念、以何法思、以何法修,以何法得何法。眾生住於種種之地,唯有如來如實見之,明了無礙。如彼卉木叢林諸藥草等,而不自知上中下性。如來知是一相一味之法——所謂:解脫相、離相、滅相——究竟涅槃常寂滅相,終歸於空。佛知是已,觀眾生心欲而將護之,是故不即為說一切種智。「汝等,迦葉!甚為希有,能知如來隨宜說法,能信能受。所以者何?諸佛世尊隨宜說法,難解難知。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Ca-diếp! Đương tri Như-lai diệc phục như thị, xuất hiện ư thế, như đại vân khởi, dĩ đại âm thanh phổ biến thế giới thiên, nhân, a-tu-la, như bỉ đại vân biến phúc tam thiên đại thiên quốc độ. Ư đại chúng trung, nhi xướng thị ngôn: ‘Ngã thị Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn, vị độ giả lệnh độ, vị giải giả lệnh giải, vị an giả lệnh an, vị Niết-bàn giả lệnh đắc Niết-bàn, kim thế hậu thế, như thực tri chi. Ngã thị nhất thiết tri giả, nhất thiết kiến giả, tri đạo giả, khai đạo giả, thuyết đạo giả, nhữ đẳng thiên, nhân, a-tu-la chúng, giai ưng đáo thử, vi thính pháp cố.’ Nhĩ thời vô số thiên vạn ức chủng chúng sinh, lai chí Phật sở nhi thính pháp. Như-lai vu thời, quán thị chúng sinh chư căn lợi độn, tinh tiến giải đãi, tùy kỳ sở kham nhi vi thuyết pháp, chủng chủng vô lượng, giai lệnh hoan hỷ, khoái đắc thiện lợi. Thị chư chúng sinh văn thị pháp dĩ, hiện thế an ẩn, hậu sinh thiện xứ, dĩ đạo thọ lạc, diệc đắc văn pháp. Ký văn pháp dĩ, ly chư chướng ngại, ư chư pháp trung, nhiệm lực sở năng, tiệm đắc nhập đạo. Như bỉ đại vân, vũ ư nhất thiết hủy mộc tùng lâm cập chư dược thảo, như kỳ chủng tính, cụ túc mông nhuận, các đắc sinh trường. “Như-lai thuyết pháp, nhất tướng nhất vị——sở vị: Giải thoát tướng, ly tướng, diệt tướng, cứu cánh chí ư nhất thiết chủng trí. Kỳ hữu chúng sinh văn Như-lai pháp, nhược trì độc tụng, như thuyết tu hành, sở đắc công đức, bất tự giác tri. Sở dĩ giả hà? Duy hữu Như-lai tri thử chúng sinh chủng tướng thể tính, niệm hà sự, tư hà sự, tu hà sự, vân hà niệm, vân hà tư, vân hà tu, dĩ hà pháp niệm, dĩ hà pháp tư, dĩ hà pháp tu, dĩ hà pháp đắc hà pháp. Chúng sinh trụ ư chủng chủng chi địa, duy hữu Như-lai như thực kiến chi, minh liễu vô ngại. Như bỉ hủy mộc tùng lâm chư dược thảo đẳng, nhi bất tự tri thượng trung hạ tính. Như-lai tri thị nhất tướng nhất vị chi pháp——sở vị: Giải thoát tướng, ly tướng, diệt tướng——cứu cánh Niết-bàn thường tịch diệt tướng, chung quy ư không. Phật tri thị dĩ, quán chúng sinh tâm dục nhi tương hộ chi, thị cố bất tức vi thuyết nhất thiết chủng trí. “Nhữ đẳng, Ca-diếp! Thậm vi hy hữu, năng tri Như-lai tùy nghi thuyết pháp, năng tín năng thọ. Sở dĩ giả hà? Chư Phật Thế-tôn tùy nghi thuyết pháp, nan giải nan tri.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Ca Diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, A tu la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam thiên đại thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời này: “Ta là đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết bàn thời làm cho chứng Niết bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc nhứt thiết trí, bậc nhứt thiết kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, A tu la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy”. Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Phật mà nghe pháp. Lúc đó, đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui mà cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo. Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng. Đức Như Lai nói pháp một tướng một vị, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “nhứt thiết chủng trí”. Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì để được pháp gì? Chúng sanh ở nơi các bậc, chỉ có đức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó. Đức Như Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo, Niết bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “nhứt thiết chủng trí”. Ca Diếp! Các ông rất là hy hữu, có thể rõ biết đức Như Lai tùy cơ nghi nói pháp, hay tin hay nhận. Vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết. Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「破有法王,出現世間,隨眾生欲,種種說法。如來尊重,智慧深遠,久默斯要,不務速說。有智若聞,則能信解;無智疑悔,則為永失。是故迦葉!隨力為說,以種種緣,令得正見。迦葉當知!譬如大雲,起於世間,遍覆一切;慧雲含潤,電光晃曜,雷聲遠震,令眾悅豫。日光掩蔽,地上清涼,靉靆垂布、如可承攬。其雨普等,四方俱下,流澍無量,率土充洽。山川險谷、幽邃所生,卉木藥草,大小諸樹,百穀苗稼,甘蔗蒲萄,雨之所潤,無不豐足,乾地普洽,藥木竝茂。其雲所出,一味之水,草木叢林,隨分受潤。一切諸樹,上中下等,稱其大小,各得生長,根莖枝葉,華菓光色,一雨所及,皆得鮮澤。如其體相,性分大小,所潤是一,而各滋茂。
“Phá hữu pháp vương, xuất hiện thế gian, tùy chúng sinh dục, chủng chủng thuyết pháp. Như-lai tôn trọng, trí tuệ thâm viễn, cửu mặc tư yếu, bất vụ tốc thuyết. Hữu trí nhược văn, tắc năng tín giải; vô trí nghi hối, tắc vi vĩnh thất. Thị cố Ca-diếp! Tùy lực vi thuyết, dĩ chủng chủng duyên, lệnh đắc chính kiến. Ca-diếp đương tri! Thí như đại vân, khởi ư thế gian, biến phúc nhất thiết; tuệ vân hàm nhuận, điện quang hoảng diệu, lôi thanh viễn chấn, lệnh chúng duyệt dự. Nhật quang yểm tế, địa thượng thanh lương, ái đãi thùy bố, như khả thừa lãm. Kỳ vũ phổ đẳng, tứ phương câu hạ, lưu thụ vô lượng, suất thổ sung hiệp. Sơn xuyên hiểm cốc, u thúy sở sinh, hủy mộc dược thảo, đại tiểu chư thụ, bách cốc miêu giá, cam giá bồ-đào, vũ chi sở nhuận, vô bất phong túc, can địa phổ hiệp, dược mộc tịnh mậu. Kỳ vân sở xuất, nhất vị chi thủy, thảo mộc tùng lâm, tùy phân thọ nhuận. Nhất thiết chư thụ, thượng trung hạ đẳng, xưng kỳ đại tiểu, các đắc sinh trường, căn hành chi diệp, hoa quả quang sắc, nhất vũ sở cập, giai đắc tiên trạch. Như kỳ thể tướng, tính phân đại tiểu, sở nhuận thị nhất, nhi các tư mậu.
Pháp Vương phá các cõi
Hiện ra trong thế gian
Theo tánh của chúng sanh
Dùng các cách nói pháp
Đức Như Lai tôn trọng
Trí huệ rất sâu xa
Lâu giữ pháp yếu này
Chẳng vội liền nói ra
Người trí nếu được nghe
Thời có thể tin hiểu,
Kẻ không trí nghi hối
Thời bèn là mất hẳn.
Ca Diếp! Vì cớ đó
Theo sức chúng nói pháp
Dùng các món nhân duyên
Cho chúng được chánh kiến
Ca Diếp! Ông nên biết
Thí như vừng mây lớn
Nổi lên trong thế gian
Che trùm khắp tất cả
Mây trí huệ chứa nhuần
Chớp nhoáng sáng chói lòa
Tiếng sấm xa vang động
Khiến mọi loài vui đẹp
Nhật quang bị che khuất
Trên mặt đất mát mẻ
Mây mù sa bủa gần
Dường có thể nắm tới.
Trận mưa đó khắp cùng
Bốn phương đều xối xuống
Dòng nước tuôn vô lượng
Cõi đất đều rút đầy
Nơi núi sông hang hiểm
Chỗ rậm rợp sanh ra
Những cây cối cỏ thuốc
Các thứ cây lớn nhỏ
Trăm giống lúa mộng mạ
Các thứ mía cùng nho
Nhờ nước mưa đượm nhuần
Thảy đều tươi tốt cả.
Đất khô khắp được rưới
Thuốc cây đều sum sê
Vầng mây kia mưa xuống
Nước mưa thuần một vị
Mà cỏ cây lùm rừng
Theo mỗi thứ đượm nhuần
Tất cả các giống cây
Hạng thượng, trung cùng hạ
Xứng theo tánh lớn nhỏ
Đều được sanh trưởng cả.
Gốc thân nhánh và lá
Trổ hoa trái sắc vàng
Một trận mưa rưới đến
Cây cỏ đều thấm mướt
Theo thể tướng của nó
Tính loại chia lớn nhỏ
Nước đượm nhuần vẫn một
Mà đều được sum sê.
佛亦如是,出現於世,譬如大雲,普覆一切。既出于世,為諸眾生,分別演說,諸法之實。大聖世尊,於諸天人、一切眾中,而宣是言:『我為如來,兩足之尊,出于世間,猶如大雲,充潤一切。枯槁眾生,皆令離苦,得安隱樂——世間之樂,及涅槃樂。諸天人眾,一心善聽,皆應到此,覲無上尊。』我為世尊,無能及者,安隱眾生,故現於世。為大眾說,甘露淨法,其法一味,解脫涅槃。以一妙音、演暢斯義,常為大乘,而作因緣。我觀一切,普皆平等,無有彼此,愛憎之心。我無貪著,亦無限礙,恒為一切,平等說法。如為一人,眾多亦然,常演說法,曾無他事。去來坐立,終不疲厭,充足世間,如雨普潤。貴賤上下,持戒毀戒,威儀具足,及不具足,正見邪見,利根鈍根,等雨法雨,而無懈倦。一切眾生,聞我法者,隨力所受,住於諸地。或處人天,轉輪聖王,釋梵諸王,是小藥草。知無漏法,能得涅槃,起六神通,及得三明,獨處山林,常行禪定,得緣覺證,是中藥草。求世尊處,我當作佛,行精進定,是上藥草。又諸佛子,專心佛道,常行慈悲,自知作佛,決定無疑,是名小樹。安住神通,轉不退輪,度無量億、百千眾生,如是菩薩,名為大樹。佛平等說,如一味雨;隨眾生性,所受不同,如彼草木,所稟各異。
Phật diệc như thị, xuất hiện ư thế, thí như đại vân, phổ phúc nhất thiết. Ký xuất vu thế, vi chư chúng sinh, phân biệt diễn thuyết, chư pháp chi thực. Đại thánh Thế-tôn, ư chư thiên nhân, nhất thiết chúng trung, nhi tuyên thị ngôn: ‘Ngã vi Như-lai, lưỡng túc chi tôn, xuất vu thế gian, do như đại vân, sung nhuận nhất thiết. Khô cảo chúng sinh, giai lệnh ly khổ, đắc an ẩn lạc——thế gian chi lạc, cập Niết-bàn lạc. Chư thiên nhân chúng, nhất tâm thiện thính, giai ưng đáo thử, cận vô thượng tôn.’ Ngã vi Thế-tôn, vô năng cập giả, an ẩn chúng sinh, cố hiện ư thế. Vi đại chúng thuyết, cam lộ tịnh pháp, kỳ pháp nhất vị, giải thoát Niết-bàn. Dĩ nhất Diệu Âm, diễn sướng tư nghĩa, thường vi đại thừa, nhi tác nhân duyên. Ngã quán nhất thiết, phổ giai bình đẳng, vô hữu bỉ thử, ái tăng chi tâm. Ngã vô tham trước, diệc vô hạn ngại, hằng vi nhất thiết, bình đẳng thuyết pháp. Như vi nhất nhân, chúng đa diệc nhiên, thường diễn thuyết pháp, tằng vô tha sự. Khứ lai tọa lập, chung bất bì yếm, sung túc thế gian, như vũ phổ nhuận. Quý tiện thượng hạ, trì giới hủy giới, uy nghi cụ túc, cập bất cụ túc, chính kiến tà kiến, lợi căn độn căn, đẳng vũ pháp vũ, nhi vô giải quyện. Nhất thiết chúng sinh, văn ngã pháp giả, tùy lực sở thọ, trụ ư chư địa. Hoặc xứ nhân thiên, chuyển luân thánh vương, thích phạm chư vương, thị tiểu dược thảo. Tri vô lậu pháp, năng đắc Niết-bàn, khởi lục thần thông, cập đắc tam minh, độc xứ sơn lâm, thường hành thiền định, đắc duyên giác chứng, thị trung dược thảo. Cầu Thế-tôn xứ, ngã đương tác Phật, hành tinh tiến định, thị thượng dược thảo. Hựu chư Phật tử, chuyên tâm Phật đạo, thường hành từ bi, tự tri tác Phật, quyết định vô nghi, thị danh tiểu thụ. An trụ thần thông, chuyển bất thoái luân, độ vô lượng ức, bách thiên chúng sinh, như thị Bồ-tát, danh vi đại thụ. Phật bình đẳng thuyết, như nhất vị vũ; tùy chúng sinh tính, sở thọ bất đồng, như bỉ thảo mộc, sở bẩm các dị.
Đức Phật cũng như thế
Hiện ra nơi trong đời
Ví như vầng mây lớn
Che trùm khắp tất cả.
Đã hiện ra trong đời
Bèn vì các chúng sanh
Phân biệt diễn nói bày
Nghĩa thật của các pháp
Đấng Đại Thánh Thế Tôn
Ở trong hàng trời người
Nơi tất cả chúng hội
Mà tuyên nói lời này:
Ta là bậc Như Lai
Là đấng Lưỡng Túc Tôn
(5) Hiện ra nơi trong đời
Dường như vầng mây lớn
Thấm nhuần khắp tất cả
Những chúng sanh khô khao
Đều làm cho lìa khổ
Được an ổn vui sướng
Hưởng sự vui thế gian
Cùng sự vui Niết bàn.
Các chúng trời người này
Một lòng khéo lắng nghe
Đều nên đến cả đây
Ra mắt đấng vô thượng
Ta là đấng Thế Tôn
Không có ai bằng được
Muốn an ổn chúng sanh
Nên hiện ra trong đời
Vì các đại chúng nói
Pháp cam lồ trong sạch
Pháp đó thuần một vị
Giải thoát Niết bàn thôi.
Dùng một giọng tiếng mầu
Diễn xướng nghĩa nhiệm này
Đều thường vì Đại thừa
Mà kết làm nhân duyên.
Ta xem tất cả chúng
Khắp đều bình đẳng cả
Không có lòng bỉ thử
Cùng với tâm yêu ghét
Ta không chút tham đắm
Cũng không có hạn ngại
Hằng vì tất cả chúng
Mà bình đẳng nói pháp
Như khi vì một người
Lúc chúng đông cũng vậy.
Thường diễn nói pháp luôn
Từng không việc gì khác
Ngồi, đứng, hoặc đến, đi
Trọn không hề nhàm mỏi
Đầy đủ cho thế gian
Như mưa khắp thấm nhuần
Sang, hèn cùng thượng, hạ
Giữ giới hay phá giới
Oai nghi được đầy đủ
Và chẳng được đầy đủ
Người chánh kiến tà kiến
Kẻ độn căn lợi căn
Khắp rưới cho mưa pháp
Mà không chút nhàm mỏi.
Tất cả hàng chúng sanh
Được nghe pháp của ta
Tùy sức mình lãnh lấy
Trụ ở nơi các bậc
Hoặc là ở trời, người
Làm Chuyển luân thánh vương
Trời Thích, Phạm, các vua
Đó là cỏ thuốc nhỏ
Hoặc rõ pháp vô lậu
Hay chứng được Niết bàn
Khởi sáu pháp thần thông
Và được ba món minh
Ở riêng trong núi rừng
Thường hành môn thiền định
Chứng được bậc Duyên giác
Là cỏ thuốc bậc trung
Hoặc cầu bậc Thế Tôn
Ta sẽ được thành Phật
Tu hành tinh tấn, định
Là cỏ thuốc bậc thượng
Lại có hàng Phật tử
Chuyên tâm nơi Phật đạo
Thường thực hành từ bi
Tự biết mình là Phật
Quyết định không còn nghi
Gọi đó là cây nhỏ.
Hoặc an trụ thần thông
Chuyển bất thối pháp luân
Độ vô lượng muôn ức
Trăm nghìn loài chúng sanh
Bồ Tát hạng như thế
Gọi đó là cây lớn.
Phật chỉ bình đẳng nói
Như nước mưa một vị
Theo căn tánh chúng sanh
Mà hưởng thọ không đồng
Như những cỏ cây kia
Được đượm nhuần đều khác
佛以此喻,方便開示,種種言辭,演說一法,於佛智慧,如海一渧。我雨法雨,充滿世間,一味之法,隨力修行。如彼叢林,藥草諸樹,隨其大小,漸增茂好。諸佛之法,常以一味,令諸世間,普得具足,漸次修行,皆得道果。聲聞緣覺,處於山林,住最後身,聞法得果,是名藥草,各得增長。若諸菩薩,智慧堅固,了達三界,求最上乘,是名小樹,而得增長。復有住禪,得神通力,聞諸法空,心大歡喜,放無數光,度諸眾生,是名大樹,而得增長。如是迦葉!佛所說法,譬如大雲,以一味雨,潤於人華,各得成實。迦葉當知!以諸因緣、種種譬喻,開示佛道,是我方便,諸佛亦然。今為汝等,說最實事:『諸聲聞眾,皆非滅度。汝等所行,是菩薩道,漸漸修學,悉當成佛。』」
Phật dĩ thử dụ, phương tiện khai thị, chủng chủng ngôn từ, diễn thuyết nhất pháp, ư Phật trí tuệ, như hải nhất đế. Ngã vũ pháp vũ, sung mãn thế gian, nhất vị chi pháp, tùy lực tu hành. Như bỉ tùng lâm, dược thảo chư thụ, tùy kỳ đại tiểu, tiệm tăng mậu hảo. Chư Phật chi pháp, thường dĩ nhất vị, lệnh chư thế gian, phổ đắc cụ túc, tiệm thứ tu hành, giai đắc đạo quả. Thanh văn duyên giác, xử ư sơn lâm, trụ tối hậu thân, văn pháp đắc quả, thị danh dược thảo, các đắc tăng trường. Nhược chư Bồ-tát, trí tuệ kiên cố, liễu đạt tam giới, cầu tối thượng thừa, thị danh tiểu thụ, nhi đắc tăng trường. Phục hữu trụ thiền, đắc thần thông lực, văn chư pháp không, tâm đại hoan hỷ, phóng vô số quang, độ chư chúng sinh, thị danh đại thụ, nhi đắc tăng trường. Như thị Ca-diếp! Phật sở thuyết pháp, thí như đại vân, dĩ nhất vị vũ, nhuận ư nhân hoa, các đắc thành thực. Ca-diếp đương tri! Dĩ chư nhân duyên, chủng chủng thí dụ, khai thị Phật đạo, thị ngã phương tiện, chư Phật diệc nhiên. Kim vi nhữ đẳng, thuyết tối thực sự: ‘Chư thanh văn chúng, giai phi diệt độ. Nhữ đẳng sở hành, thị Bồ-tát đạo, tiệm tiệm tu học, tất đương thành Phật.’”
Phật dùng món dụ này
Để phương tiện chỉ bày
Các thứ lời lẽ hay
Đều diễn nói một pháp
Ở nơi trí huệ Phật
Như một giọt trong biển.
Ta rưới trận mưa pháp
Đầy đủ khắp thế gian
Pháp mầu thuần một vị
Tùy sức riêng tu hành,
Như thể lùm rừng kia
Và cỏ thuốc những cây
Tùy giống lớn hay nhỏ
Lần lần thêm sum sê
Pháp của các đức Phật
Thường dùng thuần một vị
Khiến cho các thế gian
Đều khắp được đầy đủ
Lần lựa siêng tu hành
Rồi đều được đạo quả.
Hàng Thanh văn, Duyên giác,
Ở nơi chốn núi rừng
Trụ thân hình rốt sau
Nghe Phật Pháp được quả
Đó gọi là cỏ thuốc
Đều được thêm lớn tốt.
Nếu các vị Bồ Tát
Trí huệ rất vững bền
Rõ suốt cả ba cõi
Cầu được thừa tối thượng
Đó gọi là cây nhỏ
Mà được thêm lớn tốt.
Lại có vị trụ thiền
Được sức thần thông lớn
Nghe nói các pháp không
Lòng rất sanh vui mừng
Phóng vô số hào quang
Độ các loài chúng sanh
Đó gọi là cây lớn
Mà được thêm lớn tốt
Như thế, Ca Diếp này!
Đức Phật nói pháp ra
Thí như vầng mây lớn
Dùng nước mưa một vị
Đượm nhuần nơi hoa người
Đều được kết trái cả.
Ca Diếp ông phải biết
Ta dùng các nhân duyên
Các món thí dụ thảy
Để chỉ bày đạo Phật
Đó là ta phương tiện
Các đức Phật cũng thế
Nay ta vì các ông
Nói việc rất chân thật
Các chúng thuộc Thanh văn
Đều chẳng phải diệt độ
Chỗ các ông tu hành
Là đạo của Bồ Tát
Lần lần tu học xong
Thảy đều sẽ thành Phật.
PHẨM “THỌ KÝ” THỨ SÁU
妙法蓮華經授記品第六
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thụ ký phẩm đệ lục
PHẨM “THỌ KÝ” THỨ SÁU
爾時世尊說是偈已,告諸大眾,唱如是言:「我此弟子摩訶迦葉,於未來世,當得奉覲三百萬億諸佛世尊,供養恭敬,尊重讚歎,廣宣諸佛無量大法。於最後身,得成為佛,名曰光明如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。國名光德,劫名大莊嚴。佛壽十二小劫,正法住世二十小劫,像法亦住二十小劫。國界嚴飾,無諸穢惡、瓦礫荊棘、便利不淨。其土平正,無有高下、坑坎堆阜。琉璃為地,寶樹行列,黃金為繩,以界道側,散諸寶華,周遍清淨。其國菩薩無量千億,諸聲聞眾亦復無數,無有魔事,雖有魔及魔民,皆護佛法。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Thế-tôn thuyết thị kệ dĩ, cáo chư đại chúng, xướng như thị ngôn: “Ngã thử đệ tử Ma-ha Ca-diếp, ư vị lai thế, đương đắc phụng cận tam bách vạn ức chư Phật Thế-tôn, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán, quảng tuyên chư Phật vô lượng đại pháp. Ư tối hậu thân, đắc thành vi Phật, danh viết quang minh Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Quốc danh quang đức, kiếp danh đại trang nghiêm. Phật thọ thập nhị tiểu kiếp, chính pháp trụ thế nhị thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc trụ nhị thập tiểu kiếp. Quốc giới nghiêm sức, vô chư uế ác, ngõa lịch kinh cức, tiện lợi bất tịnh. Kỳ thổ bình chính, vô hữu cao hạ, khanh khảm đồi phụ. Lưu-ly vi địa, bảo thụ hành liệt, hoàng kim vi thằng, dĩ giới đạo trắc, tán chư bảo hoa, chu biến thanh tịnh. Kỳ quốc Bồ-tát vô lượng thiên ức, chư thanh văn chúng diệc phục vô số, vô hữu ma sự, tuy hữu ma cập ma dân, giai hộ Phật pháp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế này: “Ông Ma Ha Ca Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm. Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ. Bồ Tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật Pháp”. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「告諸比丘:『我以佛眼,見是迦葉,於未來世,過無數劫,當得作佛。而於來世,供養奉覲,三百萬億,諸佛世尊。為佛智慧,淨修梵行。供養最上,二足尊已,修習一切,無上之慧。於最後身,得成為佛。其土清淨,琉璃為地,多諸寶樹,行列道側,金繩界道,見者歡喜。常出好香,散眾名華,種種奇妙,以為莊嚴。其地平正,無有丘坑。諸菩薩眾,不可稱計,其心調柔,逮大神通,奉持諸佛,大乘經典。諸聲聞眾,無漏後身,法王之子,亦不可計,乃以天眼,不能數知。其佛當壽,十二小劫;正法住世,二十小劫;像法亦住,二十小劫。光明世尊,其事如是。』」
“Cáo chư tỳ-kheo: ‘Ngã dĩ Phật nhãn, kiến thị Ca-diếp, ư vị lai thế, quá vô số kiếp, đương đắc tác Phật. Nhi ư lai thế, cúng dường phụng cận, tam bách vạn ức, chư Phật Thế-tôn. Vi Phật trí tuệ, tịnh tu phạm hành. Cúng dường tối thượng, nhị túc tôn dĩ, tu tập nhất thiết, vô thượng chi tuệ. Ư tối hậu thân, đắc thành vi Phật. Kỳ thổ thanh tịnh, lưu-ly vi địa, đa chư bảo thụ, hành liệt đạo trắc, kim thằng giới đạo, kiến giả hoan hỷ. Thường xuất hảo hương, tán chúng danh hoa, chủng chủng kỳ diệu, dĩ vi trang nghiêm. Kỳ địa bình chính, vô hữu khâu khanh. Chư Bồ-tát chúng, bất khả xưng kế, kỳ tâm điều nhu, đãi đại thần thông, phụng trì chư Phật, đại thừa kinh điển. Chư thanh văn chúng, vô lậu hậu thân, pháp vương chi tử, diệc bất khả kế, nãi dĩ thiên nhãn, bất năng số tri. Kỳ Phật đương thọ, thập nhị tiểu kiếp; chính pháp trụ thế, nhị thập tiểu kiếp; tượng pháp diệc trụ, nhị thập tiểu kiếp. Quang minh Thế-tôn, kỳ sự như thị.’”
Bảo các Tỳ kheo rằng:
Ta dùng mắt của Phật
Thấy ông Ca Diếp này
Ở nơi đời vị lai
Quá vô số kiếp sau
Sẽ được thành quả Phật,
Mà ở đời vị lai
Cúng dường và kính thờ
Đủ ba trăm muôn ức
Các đức Phật Thế Tôn
Vì cầu trí huệ Phật
Mà tịnh tu phạm hạnh
Cúng dường đấng tối thượng
Nhị Túc Tôn xong rồi
Tu tập trọn tất cả
Trí huệ bậc vô thượng
Ở nơi thân rốt sau
Được chứng thành làm Phật
Cõi đó rất thanh tịnh
Chất lưu ly làm đất
Nhiều thứ cây bằng báu
Thẳng hàng ở bên đường
Dây vàng giăng ngăn đường
Người ngó thấy vui mừng
Thường thoảng ra hương thơm
Rải các thứ hoa đẹp
Các món báu kỳ diệu
Dùng để làm trang nghiêm
Cõi đó đất bằng thẳng
Không có những gò hầm,
Các hàng chúng Bồ Tát
Đông không thể xưng kể
Tâm các vị hòa dịu
Đến được thần thông lớn
Phụng trì các kinh điển
Đại thừa của các Phật
Các hàng chúng Thanh văn
Bậc vô lậu rốt sau
Là con của Pháp vương
Cũng chẳng thể đếm biết
Nhẫn đến dùng thiên nhãn
Cũng chẳng thể đếm biết.
Phật đó sẽ sống lâu
Tuổi mười hai tiểu kiếp
Chánh pháp trụ ở đời
Đủ hai mươi tiểu kiếp
Tượng pháp trụ ở đời
Cũng hai mươi tiểu kiếp
Đức Quang Minh Thế Tôn
Việc của ngài như thế.
爾時大目犍連、須菩提、摩訶迦栴延等,皆悉悚慄,一心合掌,瞻仰尊顏,目不暫捨,即共同聲而說偈言:「大雄猛世尊,諸釋之法王,哀愍我等故,而賜佛音聲。若知我深心,見為授記者,如以甘露灑,除熱得清涼。如從饑國來,忽遇大王饍,心猶懷疑懼,未敢即便食;若復得王教,然後乃敢食。我等亦如是,每惟小乘過,不知當云何,得佛無上慧。雖聞佛音聲,言我等作佛,心尚懷憂懼,如未敢便食;若蒙佛授記,爾乃快安樂。大雄猛世尊,常欲安世間,願賜我等記,如飢須教食。」
Nhĩ thời đại Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên đẳng, giai tất tủng lật, nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng tôn nhan, mục bất tạm xả, tức cộng đồng thanh nhi thuyết kệ ngôn: “Đại hùng mãnh Thế-tôn, chư thích chi pháp vương, ai mẫn ngã đẳng cố, nhi tứ Phật âm thanh. Nhược tri ngã thâm tâm, kiến vi thụ ký giả, như dĩ cam lộ sái, trừ nhiệt đắc thanh lương. Như tùng cơ quốc lai, hốt ngộ đại vương thiện, tâm do hoài nghi cụ, vị cảm tức tiện thực; nhược phục đắc vương giáo, nhiên hậu nãi cảm thực. Ngã đẳng diệc như thị, mỗi duy tiểu thừa quá, bất tri đương vân hà, đắc Phật vô thượng tuệ. Tuy văn Phật âm thanh, ngôn ngã đẳng tác Phật, tâm thượng hoài ưu cụ, như vị cảm tiện thực; nhược mông Phật thụ ký, nhĩ nãi khoái an lạc. Đại hùng mãnh Thế-tôn, thường dục an thế gian, nguyện tứ ngã đẳng ký, như cơ tu giáo thực.”
Lúc bấy giờ, ngài đại Mục Kiền Liên, ngài Tu Bồ Đề, ngài đại Ca Chiên Diên v.v... thảy đều run sợ một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền cùng nhau đồng nói kệ rằng: Thế Tôn rất hùng mãnh
Pháp vương trong dòng Thích
Vì thương xót chúng con
Mà ban giọng tiếng Phật.
Nếu rõ thâm tâm con
Được Phật thọ ký cho
Như dùng cam lộ rưới
Từ nóng được mát mẻ.
Như từ nước đói đến
Bỗng gặp cỗ tiệc vua
Còn ôm lòng nghi sợ
Chưa dám tự ăn liền
Nếu lại được vua bảo
Vậy sau mới dám ăn,
Chúng con cũng như vậy
Hằng nghĩ lỗi tiểu thừa
Chẳng biết làm thế nào
Được huệ vô thượng Phật,
Dầu nghe giọng tiếng Phật
Nói chúng con thành Phật
Còn ôm lòng lo sợ
Như chưa dám tự ăn
Nếu được Phật thọ ký
Mới là khoái an vui
Thế Tôn rất hùng mãnh
Thường muốn an thế gian
Xin thọ ký chúng con
Như đói cần bảo ăn.
爾時世尊知諸大弟子心之所念,告諸比丘:「是須菩提,於當來世,奉覲三百萬億那由他佛,供養恭敬,尊重讚歎,常修梵行,具菩薩道。於最後身、得成為佛,號曰名相如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。劫名有寶。國名寶生。其土平正,頗梨為地,寶樹莊嚴,無諸丘坑、沙礫、荊棘、便利之穢,寶華覆地,周遍清淨。其土人民,皆處寶臺、珍妙樓閣。聲聞弟子,無量無邊,算數譬喻所不能知。諸菩薩眾,無數千萬億那由他。佛壽十二小劫,正法住世二十小劫,像法亦住二十小劫。其佛常處虛空為眾說法,度脫無量菩薩及聲聞眾。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Thế-tôn tri chư đại đệ tử tâm chi sở niệm, cáo chư tỳ-kheo: “Thị Tu-bồ-đề, ư đương lai thế, phụng cận tam bách vạn ức na-do-tha Phật, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán, thường tu phạm hành, cụ Bồ-tát đạo. Ư tối hậu thân, đắc thành vi Phật, hiệu viết danh tướng Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kiếp danh hữu bảo. Quốc danh bảo sinh. Kỳ thổ bình chính, pha-lê vi địa, bảo thụ trang nghiêm, vô chư khâu khanh, sa lịch, kinh cức, tiện lợi chi uế, bảo hoa phúc địa, chu biến thanh tịnh. Kỳ thổ nhân dân, giai xứ bảo đài, trân diệu lâu các. Thanh văn đệ tử, vô lượng vô biên, toán số thí dụ sở bất năng tri. Chư Bồ-tát chúng, vô số thiên vạn ức na-do-tha. Phật thọ thập nhị tiểu kiếp, chính pháp trụ thế nhị thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc trụ nhị thập tiểu kiếp. Kỳ Phật thường xứ hư không vi chúng thuyết pháp, độ thoát vô lượng Bồ-tát cập thanh văn chúng.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các thầy Tỳ kheo rằng: “Ông Tu Bồ Đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm năm muôn ức na do tha đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ Tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh Tướng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên Hữu Bảo, nước đó tên Bảo Sanh. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai, chông cùng tiện lợi dơ bẩn; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quý đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ Tát đông vô số nghìn muôn ức na do tha. Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, Đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ Tát cùng chúng Thanh văn”. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「諸比丘眾,今告汝等,皆當一心,聽我所說:我大弟子,須菩提者,當得作佛,號曰名相。當供無數,萬億諸佛,隨佛所行,漸具大道。最後身得,三十二相,端正姝妙,猶如寶山。其佛國土,嚴淨第一,眾生見者,無不愛樂,佛於其中,度無量眾。其佛法中,多諸菩薩,皆悉利根,轉不退輪,彼國常以,菩薩莊嚴。諸聲聞眾,不可稱數,皆得三明,具六神通,住八解脫,有大威德。其佛說法,現於無量,神通變化,不可思議。諸天人民,數如恒沙,皆共合掌,聽受佛語。其佛當壽,十二小劫,正法住世,二十小劫,像法亦住,二十小劫。」
“Chư tỳ-kheo chúng, kim cáo nhữ đẳng, giai đương nhất tâm, thính ngã sở thuyết: Ngã đại đệ tử, Tu-bồ-đề giả, đương đắc tác Phật, hiệu viết danh tướng. Đương cúng vô số, vạn ức chư Phật, tùy Phật sở hành, tiệm cụ đại đạo. Tối hậu thân đắc, tam thập nhị tướng, đoan chính xu diệu, do như bảo sơn. Kỳ Phật quốc độ, nghiêm tịnh đệ nhất, chúng sinh kiến giả, vô bất ái nhạo, Phật ư kỳ trung, độ vô lượng chúng. Kỳ Phật pháp trung, đa chư Bồ-tát, giai tất lợi căn, chuyển bất thoái luân, bỉ quốc thường dĩ, Bồ-tát trang nghiêm. Chư thanh văn chúng, bất khả xưng số, giai đắc tam minh, cụ lục thần thông, trụ bát giải thoát, hữu đại uy đức. Kỳ Phật thuyết pháp, hiện ư vô lượng, thần thông biến hóa, bất khả tư nghị. Chư thiên nhân dân, số như hằng sa, giai cộng hợp chưởng, thính thọ Phật ngữ. Kỳ Phật đương thọ, thập nhị tiểu kiếp, chính pháp trụ thế, nhị thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc trụ, nhị thập tiểu kiếp.”
Các chúng Tỳ kheo này!
Nay ta bảo các ông
Đều nên phải một lòng
Lóng nghe lời ta nói.
Đệ tử lớn của ta
Là ông Tu Bồ Đề
Rồi sẽ được làm Phật
Hiệu gọi là Danh Tướng
Sẽ phải cúng vô số
Muôn ức các đức Phật
Theo hạnh của Phật làm
Lần lần đủ đạo lớn.
Thân rốt sau sẽ được
Ba mươi hai tướng tốt
Xinh lịch đẹp đẽ lắm
Dường như núi báu lớn
Cõi nước của Phật đó
Trang nghiêm sạch thứ nhất
Chúng sanh nào được thấy
Không ai chẳng ưa mến
Phật ở trong cõi đó
Độ thoát vô lượng chúng.
Trong pháp hội của Phật
Các Bồ Tát đông nhiều
Thảy đều bậc lợi căn
Chuyển pháp luân bất thối.
Cõi nước đó thường dùng
Bồ Tát để trang nghiêm
Các chúng Thanh văn lớn
Chẳng có thể đếm kể
Đều được ba món minh
Đủ sáu thứ thần thông
Trụ tám pháp giải thoát
Có oai đức rất lớn.
Đức Phật đó nói pháp
Hiện ra vô lượng món
Pháp thần thông biến hóa
Chẳng thể nghĩ bàn được.
Các hàng trời, nhân dân
Số đông như hằng sa
Đều cùng nhau chắp tay
Lóng nghe lời Phật dạy.
Đức Phật đó sẽ thọ
Tuổi mười hai tiểu kiếp
Chánh pháp trụ lại đời
Đủ hai mươi tiểu kiếp
Tượng pháp trụ ở đời
Cũng hai mươi tiểu kiếp.
爾時世尊復告諸比丘眾:「我今語汝,是大迦旃延,於當來世,以諸供具,供養奉事八千億佛,恭敬尊重。諸佛滅後,各起塔廟,高千由旬,縱廣正等五百由旬,皆以金、銀、琉璃、車𤦲,馬瑙、真珠、玫瑰七寶合成,眾華、瓔珞、塗香、末香、燒香、繒蓋、幢幡,供養塔廟。過是已後,當復供養二萬億佛,亦復如是。供養是諸佛已,具菩薩道,當得作佛。號曰閻浮那提金光如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。其土平正,頗梨為地,寶樹莊嚴,黃金為繩以界道側,妙華覆地,周遍清淨,見者歡喜。無四惡道——地獄、餓鬼、畜生、阿修羅道,多有天、人、諸聲聞眾及諸菩薩,無量萬億莊嚴其國。佛壽十二小劫,正法住世二十小劫,像法亦住二十小劫。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Thế-tôn phục cáo chư tỳ-kheo chúng: “Ngã kim ngữ nhữ, thị đại Ca-chiên-diên, ư đương lai thế, dĩ chư cúng cụ, cúng dường phụng sự bát thiên ức Phật, cung kính tôn trọng. Chư Phật diệt hậu, các khởi tháp miếu, cao thiên do-tuần, túng quảng chính đẳng ngũ bách do-tuần, giai dĩ kim, ngân, lưu-ly, xa cừ, mã não, chân châu, mai khôi thất bảo hợp thành, chúng hoa, anh lạc, đồ hương, mạt hương, thiêu hương, tăng cái, tràng phướn, cúng dường tháp miếu. Quá thị dĩ hậu, đương phục cúng dường nhị vạn ức Phật, diệc phục như thị. Cúng dường thị chư Phật dĩ, cụ Bồ-tát đạo, đương đắc tác Phật. Hiệu viết Diêm-phù Na-đề kim quang Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kỳ thổ bình chính, pha-lê vi địa, bảo thụ trang nghiêm, hoàng kim vi thằng dĩ giới đạo trắc, diệu hoa phúc địa, chu biến thanh tịnh, kiến giả hoan hỷ. Vô tứ ác đạo——địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la đạo, đa hữu thiên, nhân, chư thanh văn chúng cập chư Bồ-tát, vô lượng vạn ức trang nghiêm kỳ quốc. Phật thọ thập nhị tiểu kiếp, chính pháp trụ thế nhị thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc trụ nhị thập tiểu kiếp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ kheo: “Ta nay nói với các ông, ông đại Ca Chiên Diên này ở đời vị lai, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ: hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan... Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai mươi muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ Tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ Tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp”. Lúc đó Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「諸比丘眾、皆一心聽,如我所說,真實無異。是迦栴延,當以種種,妙好供具,供養諸佛。諸佛滅後,起七寶塔,亦以華香,供養舍利。其最後身,得佛智慧,成等正覺。國土清淨,度脫無量,萬億眾生,皆為十方,之所供養。佛之光明,無能勝者。其佛號曰,閻浮金光。菩薩聲聞,斷一切有,無量無數,莊嚴其國。」
“Chư tỳ-kheo chúng, giai nhất tâm thính, như ngã sở thuyết, chân thực vô dị. Thị Ca-chiên-diên, đương dĩ chủng chủng, diệu hảo cúng cụ, cúng dường chư Phật. Chư Phật diệt hậu, khởi thất bảo tháp, diệc dĩ hoa hương, cúng dường xá-lợi. Kỳ tối hậu thân, đắc Phật trí tuệ, thành đẳng chính giác. Quốc độ thanh tịnh, độ thoát vô lượng, vạn ức chúng sinh, giai vi thập phương, chi sở cúng dường. Phật chi quang minh, vô năng thắng giả. Kỳ Phật hiệu viết, Diêm-phù kim quang. Bồ-tát thanh văn, đoạn nhất thiết hữu, vô lượng vô số, trang nghiêm kỳ quốc.”
Các chúng Tỳ kheo này!
Đều nên một lòng nghe
Như lời của ta nói
Chơn thật không khác lạ.
Ông Ca Chiên Diên này
Sau sẽ dùng các món
Đồ cúng dường tốt đẹp
Mà cúng dường các Phật
Các đức Phật diệt rồi
Dựng tháp bằng bảy báu
Cũng dùng hoa và hương
Để cúng dường xá lợi.
Thân rốt sau của ông
Được trí huệ của Phật
Thành bậc Đẳng chánh giác
Cõi nước rất thanh tịnh
Độ thoát được vô lượng
Muôn ức hàng chúng sanh
Đều được mười phương khác
Thường đến kính cúng dường,
Ánh sáng của Phật đó
Không ai có thể hơn
Đức Phật đó hiệu là:
Diêm Phù Kim Quang Phật
Bồ Tát và Thanh văn
Dứt tất cả hữu lậu
Đông vô lượng vô số
Trang nghiêm cõi nước đó.
爾時世尊復告大眾:「我今語汝,是大目犍連,當以種種供具供養八千諸佛,恭敬尊重。諸佛滅後,各起塔廟,高千由旬,縱廣正等五百由旬,皆以金、銀、琉璃、車𤦲、馬瑙、真珠、玫瑰、七寶合成,眾華、瓔珞、塗香、末香、燒香、繒蓋、幢幡,以用供養。過是已後,當復供養二百萬億諸佛,亦復如是。當得成佛,號曰多摩羅跋栴檀香如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。劫名喜滿,國名意樂。其土平正,頗梨為地,寶樹莊嚴,散真珠華,周遍清淨,見者歡喜。多諸天、人、菩薩、聲聞,其數無量。佛壽二十四小劫,正法住世四十小劫,像法亦住四十小劫。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Thế-tôn phục cáo đại chúng: “Ngã kim ngữ nhữ, thị đại Mục-kiền-liên, đương dĩ chủng chủng cúng cụ cúng dường bát thiên chư Phật, cung kính tôn trọng. Chư Phật diệt hậu, các khởi tháp miếu, cao thiên do-tuần, túng quảng chính đẳng ngũ bách do-tuần, giai dĩ kim, ngân, lưu-ly, xa cừ, mã não, chân châu, mai khôi, thất bảo hợp thành, chúng hoa, anh lạc, đồ hương, mạt hương, thiêu hương, tăng cái, tràng phướn, dĩ dụng cúng dường. Quá thị dĩ hậu, đương phục cúng dường nhị bách vạn ức chư Phật, diệc phục như thị. Đương đắc thành Phật, hiệu viết đa-ma-la-bạt chiên-đàn hương Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kiếp danh hỷ mãn, quốc danh ý lạc. Kỳ thổ bình chính, pha-lê vi địa, bảo thụ trang nghiêm, tán chân châu hoa, chu biến thanh tịnh, kiến giả hoan hỷ. Đa chư thiên, nhân, Bồ-tát, thanh văn, kỳ số vô lượng. Phật thọ nhị thập tứ tiểu kiếp, chính pháp trụ thế tứ thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc trụ tứ thập tiểu kiếp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo trong đại chúng: “Ta nay nói với các ông, ông đại Mục Kiền Liên đây sẽ dùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao, một nghìn do tuần, ngang rộng thẳng bằng năm trăm do tuần, dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành. Đem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phan để cúng dường tháp. Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường hai trăm muôn ức các đức Phật cũng như trước rồi sẽ được thành Phật hiệu: Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên là Hỷ Mãn, nước tên Ý Lạc, cõi đó bằng thẳng, chất pha lê làm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người được thấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ Tát và Thanh văn số nhiều vô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp trụ lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi tiểu kiếp”. Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「我此弟子、大目犍連,捨是身已,得見八千,二百萬億,諸佛世尊。為佛道故,供養恭敬,於諸佛所,常修梵行,於無量劫,奉持佛法。諸佛滅後,起七寶塔,長表金剎,華香伎樂,而以供養,諸佛塔廟。漸漸具足,菩薩道已,於意樂國,而得作佛。號多摩羅,栴檀之香。其佛壽命,二十四劫,常為天人,演說佛道。聲聞無量,如恒河沙,三明六通,有大威德。菩薩無數,志固精進,於佛智慧,皆不退轉。佛滅度後,正法當住,四十小劫,像法亦爾。
“Ngã thử đệ tử, đại Mục-kiền-liên, xả thị thân dĩ, đắc kiến bát thiên, nhị bách vạn ức, chư Phật Thế-tôn. Vi Phật đạo cố, cúng dường cung kính, ư chư Phật sở, thường tu phạm hành, ư vô lượng kiếp, phụng trì Phật pháp. Chư Phật diệt hậu, khởi thất bảo tháp, trường biểu kim sát, hoa hương kỹ nhạc, nhi dĩ cúng dường, chư Phật tháp miếu. Tiệm tiệm cụ túc, Bồ-tát đạo dĩ, ư ý lạc quốc, nhi đắc tác Phật. Hiệu đa ma la, chiên-đàn chi hương. Kỳ Phật thọ mệnh, nhị thập tứ kiếp, thường vi thiên nhân, diễn thuyết Phật đạo. Thanh văn vô lượng, như hằng hà sa, tam minh lục thông, hữu đại uy đức. Bồ-tát vô số, chí cố tinh tiến, ư Phật trí tuệ, giai bất thoái chuyển. Phật diệt độ hậu, chính pháp đương trụ, tứ thập tiểu kiếp, tượng pháp diệc nhĩ.
Đệ tử của ta đây
Là đại Mục Kiền Liên
Bỏ thân người này rồi
Sẽ được gặp tám nghìn
Hai trăm muôn ức vị
Các đức Phật Thế Tôn
Ông vì cầu Phật đạo
Nên cúng dường cung kính
Ở nơi các đức Phật
Thường tu trì phạm hạnh
Ở trong vô lượng kiếp
Phụng trì pháp của Phật
Các đức Phật diệt rồi
Xây tháp bằng bảy báu
Tháp vàng rất cao rộng
Dùng hoa hương kỹ nhạc
Để dùng dâng cúng dường
Tháp miếu các đức Phật
Lần lần được đầy đủ
Đạo hạnh Bồ Tát rồi
Ở nơi nước Ý Lạc
Mà được thành quả Phật
Hiệu là Đa Ma La
Bạt Chiên Đàn Hương Phật
Đức Phật đó thọ mạng
Hai mươi bốn tiểu kiếp
Thường vì hàng trời người
Mà diễn nói đạo Phật
Chúng Thanh văn vô lượng
Như số cát sông Hằng
Đủ ba minh, sáu thông
Đều có oai đức lớn.
Bồ Tát đông vô số
Chí bền lòng tinh tấn
Ở nơi trí huệ Phật
Đều không hề thối chuyển
Sau khi Phật diệt độ
Chánh pháp sẽ trụ đời
Đủ bốn mươi tiểu kiếp
Tượng pháp cũng như thế.
我諸弟子,威德具足,其數五百,皆當授記。於未來世、咸得成佛。我及汝等,宿世因緣,吾今當說,汝等善聽。」
Ngã chư đệ tử, uy đức cụ túc, kỳ số ngũ bách, giai đương thụ ký. Ư vị lai thế, hàm đắc thành Phật. Ngã cập nhữ đẳng, túc thế nhân duyên, ngô kim đương thuyết, nhữ đẳng thiện thính.”
Các đệ tử của ta
Bậc oai đức đầy đủ
Số đó năm trăm người
Ta đều sẽ thọ ký
Ở nơi đời vị lai
Đều được chứng thành Phật
Ta cùng với các ông
Đời trước kết nhân duyên
Ta nay sẽ thuật nói
Các ông khéo lóng nghe.
PHẨM “HÓA THÀNH DỤ” (6) THỨ BẢY
妙法蓮華經化城喻品第七
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh hóa thành dụ phẩm đệ thất
PHẨM “HÓA THÀNH DỤ” (6) THỨ BẢY
佛告諸比丘:「乃往過去無量無邊不可思議阿僧祇劫,爾時有佛,名大通智勝如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。其國名好成,劫名大相。諸比丘!彼佛滅度已來,甚大久遠,譬如三千大千世界所有地種,假使有人磨以為墨,過於東方千國土乃下一點,大如微塵,又過千國土復下一點,如是展轉盡地種墨。於汝等意云何?是諸國土,若算師,若算師弟子,能得邊際,知其數不?」「不也,世尊!」「諸比丘!是人所經國土,若點不點,盡末為塵,一塵一劫;彼佛滅度已來,復過是數無量無邊百千萬億阿僧祇劫。我以如來知見力故,觀彼久遠,猶若今日。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Phật cáo chư tỳ-kheo: “Nãi vãng quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp, nhĩ thời hữu Phật, danh đại thông trí thắng Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kỳ quốc danh hảo thành, kiếp danh đại tướng. Chư tỳ-kheo! Bỉ Phật diệt độ dĩ lai, thậm đại cửu viễn, thí như tam thiên đại thiên thế giới sở hữu địa chủng, giả sử hữu nhân ma dĩ vi mặc, quá ư đông phương thiên quốc độ nãi hạ nhất điểm, đại như vi trần, hựu quá thiên quốc độ phục hạ nhất điểm, như thị triển chuyển tận địa chủng mặc. Ư nhữ đẳng ý vân hà? Thị chư quốc độ, nhược toán sư, nhược toán sư đệ tử, năng đắc biên tế, tri kỳ số phủ?” “Phất dã, Thế-tôn!” “Chư tỳ-kheo! Thị nhân sở kinh quốc độ, nhược điểm bất điểm, tận mạt vi trần, nhất trần nhất kiếp; bỉ Phật diệt độ dĩ lai, phục quá thị số vô lượng vô biên bách thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ngã dĩ Như-lai tri kiến lực cố, quán bỉ cửu viễn, do nhược kim nhật.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Đức Phật bảo các thầy Tỳ kheo: “Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Nước đó tên Hảo Thành, kiếp tên Đại Tướng. Các Tỳ kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực, rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lượt chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng?” - Thưa Thế Tôn! Không thể biết! - Các Tỳ kheo! Những cõi nước của người đi qua đó hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay. Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「我念過去世,無量無邊劫,有佛兩足尊,名大通智勝。如人以力磨,三千大千土,盡此諸地種,皆悉以為墨。過於千國土,乃下一塵點,如是展轉點,盡此諸塵墨。如是諸國土,點與不點等,復盡末為塵,一塵為一劫。此諸微塵數,其劫復過是,彼佛滅度來,如是無量劫。如來無礙智,知彼佛滅度,及聲聞菩薩,如見今滅度。諸比丘當知!佛智淨微妙,無漏無所礙,通達無量劫。」
“Ngã niệm quá khứ thế, vô lượng vô biên kiếp, hữu Phật lưỡng túc tôn, danh đại thông trí thắng. Như nhân dĩ lực ma, tam thiên đại thiên thổ, tận thử chư địa chủng, giai tất dĩ vi mặc. Quá ư thiên quốc độ, nãi hạ nhất trần điểm, như thị triển chuyển điểm, tận thử chư trần mặc. Như thị chư quốc độ, điểm dữ bất điểm đẳng, phục tận mạt vi trần, nhất trần vi nhất kiếp. Thử chư vi trần số, kỳ kiếp phục quá thị, bỉ Phật diệt độ lai, như thị vô lượng kiếp. Như-lai vô ngại trí, tri bỉ Phật diệt độ, cập thanh văn Bồ-tát, như kiến kim diệt độ. Chư tỳ-kheo đương tri! Phật trí tịnh vi diệu, vô lậu vô sở ngại, thông đạt vô lượng kiếp.”
Ta nhớ đời quá khứ
Vô lượng vô biên kiếp
Có Phật Lưỡng Túc Tôn
Hiệu Đại Thông Trí Thắng
Như người dùng sức mài
Cõi tam thiên đại thiên
Hết tất cả địa chủng
Thảy đều làm thành mực
Quá hơn nghìn cõi nước
Bèn chấm một điểm trần
Như thế lần lượt chấm
Hết các mực trần này.
Bao nhiêu cõi nước đó
Điểm cùng chẳng điểm thảy
Lại đều nghiền làm bụi
Một bụi làm một kiếp
Kiếp số lâu xa kia
Lại nhiều hơn số bụi
Phật đó diệt đến nay
Vô lượng kiếp như thế
Trí vô ngại của Phật
Biết Phật đó diệt độ
Và Thanh văn Bồ Tát
Như hiện nay thấy diệt.
Các Tỳ kheo nên biết
Trí Phật tịnh vi diệu
Vô lậu và vô ngại
Suốt thấu vô lượng kiếp.
佛告諸比丘:「大通智勝佛壽五百四十萬億那由他劫。其佛本坐道場,破魔軍已,垂得阿耨多羅三藐三菩提,而諸佛法不現在前。如是一小劫乃至十小劫,結加趺坐,身心不動,而諸佛法猶不在前。爾時忉利諸天,先為彼佛於菩提樹下敷師子座,高一由旬,佛於此座當得阿耨多羅三藐三菩提。適坐此座,時諸梵天王雨眾天華,面百由旬,香風時來,吹去萎華,更雨新者。如是不絕,滿十小劫,供養於佛,乃至滅度常雨此華。四王諸天為供養佛,常擊天鼓,其餘諸天作天伎樂,滿十小劫,至于滅度亦復如是。「諸比丘!大通智勝佛過十小劫,諸佛之法乃現在前,成阿耨多羅三藐三菩提。其佛未出家時,有十六子,其第一者名曰智積。諸子各有種種珍異玩好之具,聞父得成阿耨多羅三藐三菩提,皆捨所珍,往詣佛所。諸母涕泣而隨送之。其祖轉輪聖王,與一百大臣及餘百千萬億人民,皆共圍繞,隨至道場。咸欲親近大通智勝如來,供養恭敬,尊重讚歎。到已,頭面禮足,繞佛畢已,一心合掌,瞻仰世尊,以偈頌曰:
Phật cáo chư tỳ-kheo: “Đại thông trí thắng Phật thọ ngũ bách tứ thập vạn ức na-do-tha kiếp. Kỳ Phật bản tọa đạo tràng, phá ma quân dĩ, thùy đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nhi chư Phật pháp bất hiện tại tiền. Như thị nhất tiểu kiếp nãi chí thập tiểu kiếp, kết gia phu tọa, thân tâm bất động, nhi chư Phật pháp do bất tại tiền. Nhĩ thời đao lợi chư thiên, tiên vi bỉ Phật ư Bồ-đề thụ hạ phu sư tử tòa, cao nhất do-tuần, Phật ư thử tòa đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thích tọa thử tòa, thời chư phạm thiên vương vũ chúng thiên hoa, diện bách do-tuần, hương phong thời lai, xuy khứ ủy hoa, cánh vũ tân giả. Như thị bất tuyệt, mãn thập tiểu kiếp, cúng dường ư Phật, nãi chí diệt độ thường vũ thử hoa. Tứ vương chư thiên vi cúng dường Phật, thường kích thiên cổ, kỳ dư chư thiên tác thiên kỹ nhạc, mãn thập tiểu kiếp, chí vu diệt độ diệc phục như thị. “Chư tỳ-kheo! Đại thông trí thắng Phật quá thập tiểu kiếp, chư Phật chi pháp nãi hiện tại tiền, thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Kỳ Phật vị xuất gia thời, hữu thập lục tử, kỳ đệ nhất giả danh viết trí tích. Chư tử các hữu chủng chủng trân dị ngoạn hảo chi cụ, văn phụ đắc thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, giai xả sở trân, vãng nghệ Phật sở. Chư mẫu thế khấp nhi tùy tống chi. Kỳ tổ chuyển luân thánh vương, dữ nhất bách đại thần cập dư bách thiên vạn ức nhân dân, giai cộng vi nhiễu, tùy chí đạo tràng. Hàm dục thân cận đại thông trí thắng Như-lai, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán. Đáo dĩ, đầu diện lễ túc, nhiễu Phật tất dĩ, nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng Thế-tôn, dĩ kệ tụng viết:
Đức Phật bảo các Tỳ kheo: “Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na do tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước. Thuở đó, các vị trời Đao Lợi ở dưới gốc cây Bồ đề đã trước vì đức Phật đó mà trải tòa sư tử cao một do tuần (7), Phật ngồi nơi tòa này sẽ được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm Thiên Vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời, mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. Các Tỳ kheo! Đức Đại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa. Ông nội là vua Chuyển luân thánh vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Khi đã đến nơi tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật:
「『大威德世尊,為度眾生故,於無量億劫,爾乃得成佛,諸願已具足,善哉吉無上。世尊甚希有,一坐十小劫,身體及手足,靜然安不動。其心常惔怕,未曾有散亂,究竟永寂滅,安住無漏法。今者見世尊,安隱成佛道,我等得善利,稱慶大歡喜。眾生常苦惱,盲瞑無導師,不識苦盡道,不知求解脫。長夜增惡趣,減損諸天眾,從冥入於冥,永不聞佛名。今佛得最上、安隱無漏道,我等及天人,為得最大利,是故咸稽首、歸命無上尊。』
“ ‘Đại uy đức Thế-tôn, vi độ chúng sinh cố, ư vô lượng ức kiếp, nhĩ nãi đắc thành Phật, chư nguyện dĩ cụ túc, thiện tai cát vô thượng. Thế-tôn thậm hy hữu, nhất tọa thập tiểu kiếp, thân thể cập thủ túc, tĩnh nhiên an bất động. Kỳ tâm thường đàm phạ, vị tằng hữu tán loạn, cứu cánh vĩnh tịch diệt, an trụ vô lậu pháp. Kim giả kiến Thế-tôn, an ẩn thành Phật đạo, ngã đẳng đắc thiện lợi, xưng khánh đại hoan hỷ. Chúng sinh thường khổ não, manh minh vô đạo sư, bất thức khổ tận đạo, bất tri cầu giải thoát. Trường dạ tăng ác thú, giảm tổn chư thiên chúng, tùng minh nhập ư minh, vĩnh bất văn Phật danh. Kim Phật đắc tối thượng, an ẩn vô lậu đạo, ngã đẳng cập thiên nhân, vi đắc tối đại lợi, thị cố hàm khể thủ, quy mệnh vô thượng tôn.’
Thế Tôn oai đức lớn
Vì muốn độ chúng sanh
Trong vô lượng ức năm
Bèn mới được thành Phật
Các nguyện đã đầy đủ
Hay thay lành vô thượng
Thế Tôn rất ít có
Một phen ngồi mười kiếp
Thân thể và tay chân
Yên tịnh không hề động
Tâm Phật thường lặng lẽ
Chưa từng có tán loạn
Trọn rốt ráo vắng bặt
An trụ pháp vô lậu
Ngày nay thấy Thế Tôn
An ổn thành Phật đạo
Chúng ta được lợi lành
Mừng rỡ rất vui đẹp.
Chúng sanh thường đau khổ
Đui mù không Đạo Sư
Chẳng biết đạo dứt khổ
Chẳng biết cầu giải thoát
Lâu ngày thêm nẻo ác
Giảm tổn các chúng trời
Từ tối vào nơi tối
Trọn chẳng nghe danh Phật
Nay Phật được vô thượng
Đạo an ổn vô lậu
Chúng ta và trời người
Vì được lợi lớn tột
Cho nên đều cúi đầu
Quy mạng (8) đấng vô thượng.
「爾時十六王子偈讚佛已,勸請世尊轉於法輪,咸作是言:『世尊說法,多所安隱、憐愍、饒益諸天人民。』重說偈言:「『世雄無等倫,百福自莊嚴,得無上智慧,願為世間說。度脫於我等、及諸眾生類,為分別顯示,令得是智慧。若我等得佛,眾生亦復然。世尊知眾生,深心之所念,亦知所行道,又知智慧力,欲樂及修福,宿命所行業。世尊悉知已,當轉無上輪。』」
“Nhĩ thời thập lục vương tử kệ tán Phật dĩ, khuyến thỉnh Thế-tôn chuyển ư pháp luân, hàm tác thị ngôn: ‘Thế-tôn thuyết pháp, đa sở an ẩn, liên mẫn, nhiêu ích chư thiên nhân dân.’ Trùng thuyết kệ ngôn: “ ‘Thế hùng vô đẳng luân, bách phúc tự trang nghiêm, đắc vô thượng trí tuệ, nguyện vi thế gian thuyết. Độ thoát ư ngã đẳng, cập chư chúng sinh loại, vi phân biệt hiển thị, lệnh đắc thị trí tuệ. Nhược ngã đẳng đắc Phật, chúng sinh diệc phục nhiên. Thế-tôn tri chúng sinh, thâm tâm chi sở niệm, diệc tri sở hành đạo, hựu tri trí tuệ lực, dục lạc cập tu phúc, túc mệnh sở hành nghiệp. Thế-tôn tất tri dĩ, đương chuyển vô thượng luân.’”
Bấy giờ mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng: “Đức Thế Tôn nói pháp
được an ổn, thương xót
làm lợi ích cho các
trời và nhân dân”. Lại
nói kệ rằng: Đức Phật
không ai bằng Trăm phước
tự trang nghiêm Được trí
huệ vô thượng Nguyện vì
đời nói pháp Độ thoát
cho chúng con Và các
loài chúng sanh Xin phân
biệt chỉ bày Cho được
trí huệ Phật Nếu chúng
con thành Phật Chúng sanh
cũng được thế Thế Tôn
biết chúng sanh Thâm tâm
nghĩ tưởng gì Cũng biết
đạo chúng làm Lại biết sức trí huệ Muốn ưa và tu phước Nghiệp gây tạo đời trước Thế Tôn biết cả rồi Nên chuyển pháp vô thượng.
佛告諸比丘:「大通智勝佛得阿耨多羅三藐三菩提時,十方各五百萬億諸佛世界六種震動,其國中間幽冥之處,日月威光所不能照,而皆大明。其中眾生,各得相見,咸作是言:『此中云何忽生眾生,又其國界、諸天宮殿乃至梵宮,六種震動,大光普照,遍滿世界,勝諸天光?』
Phật cáo chư tỳ-kheo: “Đại thông trí thắng Phật đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thời, thập phương các ngũ bách vạn ức chư Phật thế giới lục chủng chấn động, kỳ quốc trung gian u minh chi xứ, nhật nguyệt uy quang sở bất năng chiếu, nhi giai đại minh. Kỳ trung chúng sinh, các đắc tướng kiến, hàm tác thị ngôn: ‘Thử trung vân hà hốt sinh chúng sinh, hựu kỳ quốc giới, chư thiên cung điện nãi chí phạm cung, lục chủng chấn động, đại quang phổ chiếu, biến mãn thế giới, thắng chư thiên quang?’
Phật bảo các Tỳ kheo: “Lúc đức Đại Thông Trí Thắng Phật được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?” Lại trong các cõi đó cung điện của chư Thiên cho đến Phạm Cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời.
「爾時東方五百萬億諸國土中,梵天宮殿光明照曜,倍於常明。諸梵天王各作是念:『今者宮殿光明,昔所未有。以何因緣而現此相?』是時諸梵天王,即各相詣,共議此事。時彼眾中,有一大梵天王,名救一切,為諸梵眾而說偈言:「『我等諸宮殿,光明昔未有,此是何因緣,宜各共求之。為大德天生,為佛出世間,而此大光明,遍照於十方。』「爾時五百萬億國土諸梵天王,與宮殿俱,各以衣裓,盛諸天華,共詣西方推尋是相。見大通智勝如來處于道場菩提樹下,坐師子座,諸天、龍王、乾闥婆、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等恭敬圍繞,及見十六王子請佛轉法輪。即時諸梵天王頭面禮佛,繞百千匝,即以天華而散佛上——其所散華如須彌山;并以供養佛菩提樹——其菩提樹高十由旬。華供養已,各以宮殿奉上彼佛,而作是言:『唯見哀愍,饒益我等。所獻宮殿,願垂納受。』時諸梵天王,即於佛前,一心同聲以偈頌曰:「『世尊甚希有,難可得值遇,具無量功德,能救護一切。天人之大師,哀愍於世間,十方諸眾生,普皆蒙饒益。我等所從來,五百萬億國,捨深禪定樂,為供養佛故。我等先世福,宮殿甚嚴飾,今以奉世尊,唯願哀納受。』「爾時諸梵天王偈讚佛已,各作是言:『唯願世尊轉於法輪,度脫眾生,開涅槃道。』時諸梵天王,一心同聲而說偈言:「『世雄兩足尊,唯願演說法,以大慈悲力,度苦惱眾生。』「爾時大通智勝如來默然許之。
“Nhĩ thời đông phương ngũ bách vạn ức chư quốc độ trung, phạm thiên cung điện quang minh chiếu diệu, bội ư thường minh. Chư phạm thiên vương các tác thị niệm: ‘Kim giả cung điện quang minh, tích sở vị hữu. Dĩ hà nhân duyên nhi hiện thử tướng?’ Thị thời chư phạm thiên vương, tức các tướng nghệ, cộng nghị thử sự. Thời bỉ chúng trung, hữu nhất đại phạm thiên vương, danh cứu nhất thiết, vi chư phạm chúng nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Ngã đẳng chư cung điện, quang minh tích vị hữu, thử thị hà nhân duyên, nghi các cộng cầu chi. Vi đại đức thiên sinh, vi Phật xuất thế gian, nhi thử đại quang minh, biến chiếu ư thập phương.’ “Nhĩ thời ngũ bách vạn ức quốc độ chư phạm thiên vương, dữ cung điện câu, các dĩ y kích, thịnh chư thiên hoa, cộng nghệ tây phương suy tầm thị tướng. Kiến đại thông trí thắng Như-lai xứ vu đạo tràng Bồ-đề thụ hạ, tọa sư tử tòa, chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng cung kính vi nhiễu, cập kiến thập lục vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Tức thời chư phạm thiên vương đầu diện lễ Phật, nhiễu bách thiên táp, tức dĩ thiên hoa nhi tán Phật thượng——kỳ sở tán hoa như Tu-di sơn; tinh dĩ cúng dường Phật Bồ-đề thụ——kỳ Bồ-đề thụ cao thập do-tuần. Hoa cúng dường dĩ, các dĩ cung điện phụng thượng bỉ Phật, nhi tác thị ngôn: ‘Duy kiến ai mẫn, nhiêu ích ngã đẳng. Sở hiến cung điện, nguyện thùy nạp thọ.’ Thời chư phạm thiên vương, tức ư Phật tiền, nhất tâm đồng thanh dĩ kệ tụng viết: “ ‘Thế-tôn thậm hy hữu, nan khả đắc trị ngộ, cụ vô lượng công đức, năng cứu hộ nhất thiết. Thiên nhân chi đại sư, ai mẫn ư thế gian, thập phương chư chúng sinh, phổ giai mông nhiêu ích. Ngã đẳng sở tùng lai, ngũ bách vạn ức quốc, xả thâm thiền định lạc, vi cúng dường Phật cố. Ngã đẳng tiên thế phúc, cung điện thậm nghiêm sức, kim dĩ phụng Thế-tôn, duy nguyện ai nạp thọ.’ “Nhĩ thời chư phạm thiên vương kệ tán Phật dĩ, các tác thị ngôn: ‘Duy nguyện Thế-tôn chuyển ư pháp luân, độ thoát chúng sinh, khai Niết-bàn đạo.’ Thời chư phạm thiên vương, nhất tâm đồng thanh nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Thế hùng lưỡng túc tôn, duy nguyện diễn thuyết pháp, dĩ đại từ bi lực, độ khổ não chúng sinh.’ “Nhĩ thời đại thông trí thắng Như-lai mặc nhiên hứa chi.
Bấy giờ, phương Đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm Thiên (9) ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm Thiên Vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng
suốt từ xưa chưa từng
có, vì nhân duyên gì
mà hiện điềm tốt này?”
Lúc đó các vị Phạm
Thiên Vương liền đi đến
nhau để chung bàn việc
đó. Trong chúng có một vị Phạm Thiên Vương lớn tên Cứu Nhứt Thiết vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta
Sáng suốt xưa chưa có
Đây là nhân duyên gì
Phải nên chung nhau tìm
Là trời đại đức sanh
Hay là Phật ra đời
Mà ánh sáng lớn này
Khắp soi cả mười phương.
Bấy giờ, năm trăm muôn
ức cõi nước, các vị
Phạm Thiên Vương cùng chung
với cung điện (10) mỗi vị
đều lấy đãy đựng các
thứ hoa trời, đồng đi
đến phương Tây suy tìm
tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới gốc Bồ đề, hàng chư Thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn v.v... cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật, cây Bồ đề đó cao mười do tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương
lợi ích cho chúng con,
cung điện dâng cúng đây
xin nhận ở”. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: Thế Tôn rất ít có Khó thể gặp gỡ được Đủ vô lượng công đức Hay cứu hộ tất cả Thầy lớn của trời người Thương xót ở trong đời Mười phương các chúng sanh Khắp đều nhờ lợi ích. Chúng con từng theo đến Năm trăm muôn ức nước Bỏ vui thiền định sâu Vì để cúng dường Phật Chúng con phước đời trước Cung điện rất tốt đẹp Nay đem dâng Thế Tôn Cúi xin, thương nạp thọ. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: “Cúi xin đức Thế Tôn chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết bàn”. Khi ấy, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng: Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn Cúi xin diễn nói pháp Dùng sức từ bi lớn Độ chúng sanh khổ não. Lúc đó đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lặng yên nhận lời đó (11).
「又,諸比丘!東南方五百萬億國土諸大梵王,各自見宮殿光明照曜,昔所未有,歡喜踊躍,生希有心,即各相詣,共議此事。時彼眾中有一大梵天王,名曰大悲,為諸梵眾而說偈言:「『是事何因緣,而現如此相?我等諸宮殿,光明昔未有。為大德天生?為佛出世間?未曾見此相,當共一心求。過千萬億土,尋光共推之,多是佛出世,度脫苦眾生。』「爾時五百萬億諸梵天王與宮殿俱,各以衣裓盛諸天華,共詣西北方推尋是相。見大通智勝如來處于道場菩提樹下,坐師子座,諸天、龍王、乾闥婆、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等恭敬圍繞,及見十六王子請佛轉法輪。時諸梵天王頭面禮佛,繞百千匝,即以天華而散佛上——所散之華如須彌山,并以供養佛菩提樹。華供養已,各以宮殿奉上彼佛,而作是言:『唯見哀愍,饒益我等。所獻宮殿,願垂納受。』爾時諸梵天王即於佛前,一心同聲以偈頌曰:「『聖主天中王,迦陵頻伽聲,哀愍眾生者,我等今敬禮。世尊甚希有,久遠乃一現,一百八十劫,空過無有佛。三惡道充滿,諸天眾減少,今佛出於世,為眾生作眼。世間所歸趣,救護於一切,為眾生之父,哀愍饒益者。我等宿福慶,今得值世尊。』「爾時諸梵天王偈讚佛已,各作是言:『唯願世尊哀愍一切,轉於法輪,度脫眾生。』時諸梵天王一心同聲而說偈言:「『大聖轉法輪,顯示諸法相,度苦惱眾生,令得大歡喜。眾生聞此法,得道若生天,諸惡道減少,忍善者增益。』「爾時大通智勝如來默然許之。
“Hựu, chư tỳ-kheo! Đông nam phương ngũ bách vạn ức quốc độ chư đại phạm vương, các tự kiến cung điện quang minh chiếu diệu, tích sở vị hữu, hoan hỷ dũng dược, sinh hy hữu tâm, tức các tướng nghệ, cộng nghị thử sự. Thời bỉ chúng trung hữu nhất đại phạm thiên vương, danh viết đại bi, vi chư phạm chúng nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Thị sự hà nhân duyên, nhi hiện như thử tướng? Ngã đẳng chư cung điện, quang minh tích vị hữu. Vi đại đức thiên sinh? Vi Phật xuất thế gian? Vị tằng kiến thử tướng, đương cộng nhất tâm cầu. Quá thiên vạn ức thổ, tầm quang cộng suy chi, đa thị Phật xuất thế, độ thoát khổ chúng sinh.’ “Nhĩ thời ngũ bách vạn ức chư phạm thiên vương dữ cung điện câu, các dĩ y kích thịnh chư thiên hoa, cộng nghệ tây bắc phương suy tầm thị tướng. Kiến đại thông trí thắng Như-lai xứ vu đạo tràng Bồ-đề thụ hạ, tọa sư tử tòa, chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng cung kính vi nhiễu, cập kiến thập lục vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Thời chư phạm thiên vương đầu diện lễ Phật, nhiễu bách thiên táp, tức dĩ thiên hoa nhi tán Phật thượng——sở tán chi hoa như Tu-di sơn, tinh dĩ cúng dường Phật Bồ-đề thụ. Hoa cúng dường dĩ, các dĩ cung điện phụng thượng bỉ Phật, nhi tác thị ngôn: ‘Duy kiến ai mẫn, nhiêu ích ngã đẳng. Sở hiến cung điện, nguyện thùy nạp thọ.’ Nhĩ thời chư phạm thiên vương tức ư Phật tiền, nhất tâm đồng thanh dĩ kệ tụng viết: “ ‘Thánh chủ thiên trung vương, ca-lăng-tần-già thanh, ai mẫn chúng sinh giả, ngã đẳng kim kính lễ. Thế-tôn thậm hy hữu, cửu viễn nãi nhất hiện, nhất bách bát thập kiếp, không quá vô hữu Phật. Tam ác đạo sung mãn, chư thiên chúng giảm thiểu, kim Phật xuất ư thế, vi chúng sinh tác nhãn. Thế gian sở quy thú, cứu hộ ư nhất thiết, vi chúng sinh chi phụ, ai mẫn nhiêu ích giả. Ngã đẳng túc phúc khánh, kim đắc trị Thế-tôn.’ “Nhĩ thời chư phạm thiên vương kệ tán Phật dĩ, các tác thị ngôn: ‘Duy nguyện Thế-tôn ai mẫn nhất thiết, chuyển ư pháp luân, độ thoát chúng sinh.’ Thời chư phạm thiên vương nhất tâm đồng thanh nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Đại thánh chuyển pháp luân, hiển thị chư pháp tướng, độ khổ não chúng sinh, lệnh đắc đại hoan hỷ. Chúng sinh văn thử pháp, đắc đạo nhược sinh thiên, chư ác đạo giảm thiểu, nhẫn thiện giả tăng ích.’ “Nhĩ thời đại thông trí thắng Như-lai mặc nhiên hứa chi.
Lại nữa các Tỳ kheo! Phương Đông Nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm Thiên Vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm Thiên Vương tên là Đại Bi, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: Việc đó nhân duyên gì
Mà hiện tướng như thế?
Các cung điện chúng ta
Sáng suốt xưa chưa có
Là trời Đại đức sanh
Hay là Phật ra đời?
Chưa từng thấy tướng này
Nên chung một lòng cầu
Quá nghìn muôn ức cõi
Theo luồng sáng tìm đến
Phần nhiều Phật ra đời
Độ thoát khổ chúng sanh. Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên Vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ đề, các hàng chư Thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Khi ấy các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin Phật thương xót lợi
ích cho chúng con, những
cung điện dâng đây cúi
xin nhận ở”. Lúc đó,
các vị Phạm Thiên Vương
liền ở trước Phật một
lòng đồng tiếng nói kệ
khen rằng: Thánh Chúa vua
trong trời Tiếng Ca lăng
tần già Thương xót hàng
chúng sanh Chúng con nay
kính lễ. Thế Tôn rất
ít có Lâu xa một
lần hiện Một trăm tám
mươi kiếp Luống qua không
có Phật Ba đường dữ
dẫy đầy Các chúng trời
giảm ít Nay Phật hiện ra đời Làm mắt cho chúng sanh Chỗ quy thú của đời Cứu hộ cho tất cả Là cha của chúng sanh Thương xót làm lợi ích Nhờ phước lành đời trước Nay được gặp Thế Tôn. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: “Cúi xin đức Thế Tôn
thương xót tất cả chuyển
pháp luân cho, để độ
thoát chúng sanh”. Lúc ấy,
các vị Phạm Thiên Vương
một lòng đồng tiếng mà
nói kệ khen rằng: Đại
Thánh chuyển pháp luân Chỉ bày các pháp tướng Độ chúng sanh đau khổ Khiến được rất vui mừng Chúng sanh nghe pháp này Được đạo hoặc sanh thiên Các đường dữ giảm ít Bậc nhẫn thiện thêm nhiều. Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật yên lặng nhận lời.
「又,諸比丘!南方五百萬億國土諸大梵王,各自見宮殿光明照曜,昔所未有,歡喜踊躍,生希有心,即各相詣,共議此事:『以何因緣,我等宮殿有此光曜?』時彼眾中有一大梵天王,名曰妙法,為諸梵眾而說偈言:「『我等諸宮殿,光明甚威曜,此非無因緣,是相宜求之。過於百千劫,未曾見是相,為大德天生?為佛出世間?』「爾時五百萬億諸梵天王與宮殿俱,各以衣裓盛諸天華,共詣北方推尋是相。見大通智勝如來處于道場菩提樹下,坐師子座,諸天、龍王、乾闥婆、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等恭敬圍繞,及見十六王子請佛轉法輪。時諸梵天王頭面禮佛,繞百千匝,即以天華而散佛上——所散之華如須彌山,并以供養佛菩提樹。華供養已,各以宮殿奉上彼佛,而作是言:『唯見哀愍,饒益我等。所獻宮殿,願垂納受。』爾時諸梵天王,即於佛前,一心同聲以偈頌曰:「『世尊甚難見,破諸煩惱者,過百三十劫,今乃得一見。諸飢渴眾生,以法雨充滿,昔所未曾見,無量智慧者,如優曇鉢花,今日乃值遇。我等諸宮殿,蒙光故嚴飾,世尊大慈悲,唯願垂納受。』「爾時諸梵天王偈讚佛已,各作是言:『唯願世尊轉於法輪,令一切世間諸天、魔、梵、沙門、婆羅門,皆獲安隱而得度脫。』時諸梵天王一心同聲以偈頌曰:「『唯願天人尊,轉無上法輪,擊于大法鼓,而吹大法螺,普雨大法雨,度無量眾生。我等咸歸請,當演深遠音。』「爾時大通智勝如來默然許之。
“Hựu, chư tỳ-kheo! Nam phương ngũ bách vạn ức quốc độ chư đại phạm vương, các tự kiến cung điện quang minh chiếu diệu, tích sở vị hữu, hoan hỷ dũng dược, sinh hy hữu tâm, tức các tướng nghệ, cộng nghị thử sự: ‘Dĩ hà nhân duyên, ngã đẳng cung điện hữu thử quang diệu?’ Thời bỉ chúng trung hữu nhất đại phạm thiên vương, danh viết diệu pháp, vi chư phạm chúng nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Ngã đẳng chư cung điện, quang minh thậm uy diệu, thử phi vô nhân duyên, thị tướng nghi cầu chi. Quá ư bách thiên kiếp, vị tằng kiến thị tướng, vi đại đức thiên sinh? Vi Phật xuất thế gian?’ “Nhĩ thời ngũ bách vạn ức chư phạm thiên vương dữ cung điện câu, các dĩ y kích thịnh chư thiên hoa, cộng nghệ bắc phương suy tầm thị tướng. Kiến đại thông trí thắng Như-lai xứ vu đạo tràng Bồ-đề thụ hạ, tọa sư tử tòa, chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng cung kính vi nhiễu, cập kiến thập lục vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Thời chư phạm thiên vương đầu diện lễ Phật, nhiễu bách thiên táp, tức dĩ thiên hoa nhi tán Phật thượng——sở tán chi hoa như Tu-di sơn, tinh dĩ cúng dường Phật Bồ-đề thụ. Hoa cúng dường dĩ, các dĩ cung điện phụng thượng bỉ Phật, nhi tác thị ngôn: ‘Duy kiến ai mẫn, nhiêu ích ngã đẳng. Sở hiến cung điện, nguyện thùy nạp thọ.’ Nhĩ thời chư phạm thiên vương, tức ư Phật tiền, nhất tâm đồng thanh dĩ kệ tụng viết: “ ‘Thế-tôn thậm nan kiến, phá chư phiền não giả, quá bách tam thập kiếp, kim nãi đắc nhất kiến. Chư cơ khát chúng sinh, dĩ pháp vũ sung mãn, tích sở vị tằng kiến, vô lượng trí tuệ giả, như ưu-đàm bát hoa, kim nhật nãi trị ngộ. Ngã đẳng chư cung điện, mông quang cố nghiêm sức, Thế-tôn đại từ bi, duy nguyện thùy nạp thọ.’ “Nhĩ thời chư phạm thiên vương kệ tán Phật dĩ, các tác thị ngôn: ‘Duy nguyện Thế-tôn chuyển ư pháp luân, lệnh nhất thiết thế gian chư thiên, ma, phạm, sa môn, bà-la-môn, giai hoạch an ẩn nhi đắc độ thoát.’ Thời chư phạm thiên vương nhất tâm đồng thanh dĩ kệ tụng viết: “ ‘Duy nguyện thiên nhân tôn, chuyển vô thượng pháp luân, kích vu đại pháp cổ, nhi xuy đại pháp loa, phổ vũ đại pháp vũ, độ vô lượng chúng sinh. Ngã đẳng hàm quy thỉnh, đương diễn thâm viễn âm.’ “Nhĩ thời đại thông trí thắng Như-lai mặc nhiên hứa chi.
Lại nữa các Tỳ kheo! năm trăm muôn ức cõi nước ở phương Nam các vị đại Phạm vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này? Trong chúng đó có một vị Phạm Thiên Vương lớn tên là Diệu Pháp, vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta
Quang minh rất oai diệu
Đây không phải không nhân
Tướng này phải tìm đó
Quá hơn trăm nghìn kiếp
Chưa từng thấy tướng này
Là trời đại đức sanh
Hay đức Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm Thiên Vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới gốc cây Bồ đề, hàng chư Thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương
lợi ích chúng con, cung
điện của chúng con dâng
đây cúi xin nạp xử”.
Bấy giờ, các vị đại
Phạm Thiên Vương liền ở
trước Phật một lòng đồng
tiếng nói kệ khen rằng:
Thế Tôn rất khó thấy
Bậc phá các phiền não
Hơn trăm ba mươi kiếp
Nay mới thấy một lần
Hàng chúng sanh đói khát
Nhờ mưa pháp đầy đủ Xưa chỗ chưa từng thấy Đấng vô lượng trí huệ Như hoa Ưu đàm bát Ngày nay mới gặp gỡ Cung điện của chúng con Nhờ hào quang được đẹp Thế Tôn đại từ mẫn Cúi xin thương nhận ở. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều bạch rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn
chuyển pháp luân làm cho
tất cả thế gian các
hàng Trời, Ma, Phạm, Sa
môn, Bà la môn đều
được an ổn mà được
độ thoát”. Lúc ấy các
vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng: Cúi mong Thiên Nhân Tôn Chuyển pháp luân vô thượng Đánh vang pháp cổ lớn Mà thổi pháp loa lớn Độ vô lượng chúng sanh Chúng con đều quy thỉnh Nên nói tiếng sâu xa. Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng lặng yên nhận lời đó.
西南方乃至下方,亦復如是。「爾時上方五百萬億國土諸大梵王,皆悉自覩所止宮殿光明威曜,昔所未有,歡喜踊躍,生希有心,即各相詣,共議此事:『以何因緣,我等宮殿,有斯光明?』時彼眾中有一大梵天王,名曰尸棄,為諸梵眾而說偈言:「『今以何因緣,我等諸宮殿,威德光明曜,嚴飾未曾有。如是之妙相,昔所未聞見,為大德天生?為佛出世間?』「爾時五百萬億諸梵天王與宮殿俱,各以衣裓盛諸天華,共詣下方推尋是相。見大通智勝如來處于道場菩提樹下,坐師子座,諸天、龍王、乾闥婆、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等恭敬圍繞,及見十六王子請佛轉法輪。時諸梵天王頭面禮佛,繞百千匝,即以天華而散佛上——所散之花如須彌山,并以供養佛菩提樹。花供養已,各以宮殿奉上彼佛,而作是言:『唯見哀愍,饒益我等。所獻宮殿,願垂納受。』時諸梵天王,即於佛前,一心同聲以偈頌曰:「『善哉見諸佛,救世之聖尊,能於三界獄,勉出諸眾生。普智天人尊,哀愍群萌類,能開甘露門,廣度於一切。於昔無量劫,空過無有佛,世尊未出時,十方常暗冥,三惡道增長,阿修羅亦盛,諸天眾轉減,死多墮惡道。不從佛聞法,常行不善事,色力及智慧,斯等皆減少。罪業因緣故,失樂及樂想,住於邪見法,不識善儀則,不蒙佛所化,常墮於惡道。佛為世間眼,久遠時乃出,哀愍諸眾生,故現於世間。超出成正覺,我等甚欣慶,及餘一切眾,喜歎未曾有。我等諸宮殿,蒙光故嚴飾,今以奉世尊,唯垂哀納受。願以此功德,普及於一切,我等與眾生,皆共成佛道。』「爾時五百萬億諸梵天王偈讚佛已,各白佛言:『唯願世尊轉於法輪,多所安隱,多所度脫。』時諸梵天王而說偈言:「『世尊轉法輪,擊甘露法鼓,度苦惱眾生,開示涅槃道。唯願受我請,以大微妙音,哀愍而敷演,無量劫習法。』
Tây nam phương nãi chí hạ phương, diệc phục như thị. “Nhĩ thời thượng phương ngũ bách vạn ức quốc độ chư đại phạm vương, giai tất tự đổ sở chỉ cung điện quang minh uy diệu, tích sở vị hữu, hoan hỷ dũng dược, sinh hy hữu tâm, tức các tướng nghệ, cộng nghị thử sự: ‘Dĩ hà nhân duyên, ngã đẳng cung điện, hữu tư quang minh?’ Thời bỉ chúng trung hữu nhất đại phạm thiên vương, danh viết Thi-khí, vi chư phạm chúng nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Kim dĩ hà nhân duyên, ngã đẳng chư cung điện, uy đức quang minh diệu, nghiêm sức vị tằng hữu. Như thị chi diệu tướng, tích sở vị văn kiến, vi đại đức thiên sinh? Vi Phật xuất thế gian?’ “Nhĩ thời ngũ bách vạn ức chư phạm thiên vương dữ cung điện câu, các dĩ y kích thịnh chư thiên hoa, cộng nghệ hạ phương suy tầm thị tướng. Kiến đại thông trí thắng Như-lai xứ vu đạo tràng Bồ-đề thụ hạ, tọa sư tử tòa, chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng cung kính vi nhiễu, cập kiến thập lục vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Thời chư phạm thiên vương đầu diện lễ Phật, nhiễu bách thiên táp, tức dĩ thiên hoa nhi tán Phật thượng——sở tán chi hoa như Tu-di sơn, tinh dĩ cúng dường Phật Bồ-đề thụ. Hoa cúng dường dĩ, các dĩ cung điện phụng thượng bỉ Phật, nhi tác thị ngôn: ‘Duy kiến ai mẫn, nhiêu ích ngã đẳng. Sở hiến cung điện, nguyện thùy nạp thọ.’ Thời chư phạm thiên vương, tức ư Phật tiền, nhất tâm đồng thanh dĩ kệ tụng viết: “ ‘Thiện tai kiến chư Phật, cứu thế chi thánh tôn, năng ư tam giới ngục, miễn xuất chư chúng sinh. Phổ trí thiên nhân tôn, ai mẫn quần manh loại, năng khai cam lộ môn, quảng độ ư nhất thiết. Ư tích vô lượng kiếp, không quá vô hữu Phật, Thế-tôn vị xuất thời, thập phương thường ám minh, tam ác đạo tăng trường, a-tu-la diệc thịnh, chư thiên chúng chuyển giảm, tử đa đọa ác đạo. Bất tùng Phật văn pháp, thường hành bất thiện sự, sắc lực cập trí tuệ, tư đẳng giai giảm thiểu. Tội nghiệp nhân duyên cố, thất lạc cập lạc tưởng, trụ ư tà kiến pháp, bất thức thiện nghi tắc, bất mông Phật sở hóa, thường đọa ư ác đạo. Phật vi thế gian nhãn, cửu viễn thời nãi xuất, ai mẫn chư chúng sinh, cố hiện ư thế gian. Siêu xuất thành chính giác, ngã đẳng thậm hân khánh, cập dư nhất thiết chúng, hỷ thán vị tằng hữu. Ngã đẳng chư cung điện, mông quang cố nghiêm sức, kim dĩ phụng Thế-tôn, duy thùy ai nạp thọ. Nguyện dĩ thử công đức, phổ cập ư nhất thiết, ngã đẳng dữ chúng sinh, giai cộng thành Phật đạo.’ “Nhĩ thời ngũ bách vạn ức chư phạm thiên vương kệ tán Phật dĩ, các bạch Phật ngôn: ‘Duy nguyện Thế-tôn chuyển ư pháp luân, đa sở an ẩn, đa sở độ thoát.’ Thời chư phạm thiên vương nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Thế-tôn chuyển pháp luân, kích cam lộ pháp cổ, độ khổ não chúng sinh, khai thị Niết-bàn đạo. Duy nguyện thọ ngã thỉnh, dĩ đại vi Diệu Âm, ai mẫn nhi phu diễn, vô lượng kiếp tập pháp.’
Phương Tây Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị đại Phạm Thiên Vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng này? Lúc đó trong chúng có một vị đại Phạm Thiên Vương tên là Thi Khí vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: Nay vì nhân duyên gì?
Cung điện của chúng ta
Ánh sáng oai đức chói
Đẹp đẽ chưa từng có?
Tướng tốt như thế đó
Xưa chưa từng nghe thấy
Là trời Đại đức sanh
Hay là Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên Vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ đề, hàng chư Thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển pháp luân. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lạy Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải lên đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: “Xin đoái thương lợi ích
chúng con. Cung điện dâng
đây cúi mong Phật nạp
ở”. Lúc đó, các vị
Phạm Thiên Vương liền ở
trước Phật một lòng đồng
thanh dùng kệ khen rằng:
Hay thay! Thấy các Phật
Đấng Thánh Tôn cứu thế
Hay ở ngục tam giới
Cứu khỏi các chúng sanh
Thiên Nhân Tôn trí khắp
Thương xót loài quần manh
Hay khai môn cam lộ
Rộng độ cho tất cả.
Lúc xưa vô lượng kiếp
Luống qua không có Phật
Khi Phật chưa ra đời
Mười phương thường mờ tối
Ba đường dữ thêm đông
A tu la cũng thịnh
Các chúng trời càng bớt
Chết nhiều đọa ác đạo
Chẳng theo Phật nghe pháp
Thường làm việc chẳng lành
Sắc, lực, cùng trí huệ
Các việc đều giảm ít
Vì tội nghiệp nhân duyên
Mất vui cùng tưởng vui
Trụ trong pháp tà kiến
Chẳng biết nghi tắc lành
Chẳng nhờ Phật hóa độ
Thường đọa trong ác đạo.
Phật là mắt của đời
Lâu xa mới hiện ra
Vì thương các chúng sanh
Nên hiện ở trong đời
Siêu việt thành chánh giác
Chúng con rất mừng vui
Và tất cả chúng khác
Mừng khen chưa từng có
Cung điện của chúng con Nhờ hào quang nên đẹp Nay đem dâng Thế Tôn Cúi mong thương nhận ở Nguyện đem công đức này Khắp đến cho tất cả Chúng con cùng chúng sanh Đều đồng thành Phật đạo. Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn
chuyển pháp luân, nhiều chỗ
an ổn, nhiều chỗ độ
thoát”. Lúc ấy các vị
Phạm thiên vương đồng nói
kệ rằng: Thế Tôn chuyển
pháp luân Đánh trống pháp
cam lộ Độ chúng sanh khổ não Mở bày đường Niết bàn Cúi mong nhận lời con Dùng tiếng vi diệu lớn Thương xót mà nói bày Pháp tu vô lượng kiếp.
「爾時大通智勝如來受十方諸梵天王及十六王子請,即時三轉十二行法輪——若沙門、婆羅門,若天、魔、梵及餘世間所不能轉——謂是苦,是苦集,是苦滅,是苦滅道;及廣說十二因緣法——無明緣行,行緣識,識緣名色,名色緣六入,六入緣觸,觸緣受,受緣愛,愛緣取,取緣有,有緣生,生緣老死憂悲苦惱。無明滅則行滅,行滅則識滅,識滅則名色滅,名色滅則六入滅,六入滅則觸滅,觸滅則受滅,受滅則愛滅,愛滅則取滅,取滅則有滅,有滅則生滅,生滅則老死憂悲苦惱滅。「佛於天人大眾之中說是法時,六百萬億那由他人,以不受一切法故,而於諸漏心得解脫,皆得深妙禪定,三明、六通,具八解脫。第二、第三、第四說法時,千萬億恒河沙那由他等眾生,亦以不受一切法故,而於諸漏心得解脫。從是已後,諸聲聞眾無量無邊不可稱數。
“Nhĩ thời đại thông trí thắng Như-lai thọ thập phương chư phạm thiên vương cập thập lục vương tử thỉnh, tức thời tam chuyển thập nhị hành pháp luân——nhược sa môn, bà-la-môn, nhược thiên, ma, phạm cập dư thế gian sở bất năng chuyển——vị thị khổ, thị khổ tập, thị khổ diệt, thị khổ diệt đạo; cập quảng thuyết thập nhị nhân duyên pháp——vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử ưu bi khổ não. Vô minh diệt tắc hành diệt, hành diệt tắc thức diệt, thức diệt tắc danh sắc diệt, danh sắc diệt tắc lục nhập diệt, lục nhập diệt tắc xúc diệt, xúc diệt tắc thọ diệt, thọ diệt tắc ái diệt, ái diệt tắc thủ diệt, thủ diệt tắc hữu diệt, hữu diệt tắc sinh diệt, sinh diệt tắc lão tử ưu bi khổ não diệt. “Phật ư thiên nhân đại chúng chi trung thuyết thị pháp thời, lục bách vạn ức na-do-tha nhân, dĩ bất thọ nhất thiết pháp cố, nhi ư chư lậu tâm đắc giải thoát, giai đắc thâm diệu thiền định, tam minh, lục thông, cụ bát giải thoát. Đệ nhị, đệ tam, đệ tứ thuyết pháp thời, thiên vạn ức hằng hà sa na-do-tha đẳng chúng sinh, diệc dĩ bất thọ nhất thiết pháp cố, nhi ư chư lậu tâm đắc giải thoát. Tùng thị dĩ hậu, chư thanh văn chúng vô lượng vô biên bất khả xưng số.
Lúc bấy giờ, Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen chuyển pháp luân mười hai hành (12) hoặc là Sa môn, Bà la môn, hoặc là Trời, Ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: Đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Và rộng nói pháp mười hai nhân duyên: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não. Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão, tử, ưu bi, khổ não diệt. Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na do tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na do tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được.
「爾時十六王子——皆以童子出家而為沙彌,諸根通利,智慧明了,已曾供養百千萬億諸佛,淨修梵行,求阿耨多羅三藐三菩提——俱白佛言:『世尊!是諸無量千萬億大德聲聞皆已成就。世尊亦當為我等說阿耨多羅三藐三菩提法,我等聞已,皆共修學。世尊!我等志願如來知見,深心所念,佛自證知。』爾時轉輪聖王所將眾中八萬億人,見十六王子出家,亦求出家。王即聽許。「爾時彼佛受沙彌請,過二萬劫已,乃於四眾之中說是大乘經,名『妙法蓮華』,教菩薩法,佛所護念。說是經已,十六沙彌為阿耨多羅三藐三菩提故,皆共受持,諷誦通利。說是經時,十六菩薩沙彌皆悉信受;聲聞眾中,亦有信解;其餘眾生千萬億種,皆生疑惑。佛說是經,於八千劫未曾休廢。說此經已,即入靜室,住於禪定八萬四千劫。
“Nhĩ thời thập lục vương tử——giai dĩ đồng tử xuất gia nhi vi sa-di, chư căn thông lợi, trí tuệ minh liễu, dĩ tằng cúng dường bách thiên vạn ức chư Phật, tịnh tu phạm hành, cầu a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề——câu bạch Phật ngôn: ‘Thế-tôn! Thị chư vô lượng thiên vạn ức đại đức thanh văn giai dĩ thành tựu. Thế-tôn diệc đương vi ngã đẳng thuyết a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề pháp, ngã đẳng văn dĩ, giai cộng tu học. Thế-tôn! Ngã đẳng chí nguyện Như-lai tri kiến, thâm tâm sở niệm, Phật tự chứng tri.’ Nhĩ thời chuyển luân thánh vương sở tương chúng trung bát vạn ức nhân, kiến thập lục vương tử xuất gia, diệc cầu xuất gia. Vương tức thính hứa. “Nhĩ thời bỉ Phật thọ sa-di thỉnh, quá nhị vạn kiếp dĩ, nãi ư tứ chúng chi trung thuyết thị đại thừa kinh, danh ‘diệu pháp liên hoa’, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm. Thuyết thị kinh dĩ, thập lục sa-di vi a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cố, giai cộng thọ trì, phúng tụng thông lợi. Thuyết thị kinh thời, thập lục Bồ-tát sa-di giai tất tín thọ; thanh văn chúng trung, diệc hữu tín giải; kỳ dư chúng sinh thiên vạn ức chủng, giai sinh nghi hoặc. Phật thuyết thị kinh, ư bát thiên kiếp vị tằng hưu phế. Thuyết thử kinh dĩ, tức nhập tĩnh thất, trụ ư thiền định bát vạn tứ thiên kiếp.
Bấy giờ mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Các vị Đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho”. Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển luân thánh vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: Diệu Pháp Liên Hoa, là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Đức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa di vì đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa di Bồ Tát thảy đều tin thọ, trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp.
是時十六菩薩沙彌,知佛入室寂然禪定,各昇法座,亦於八萬四千劫,為四部眾廣說分別妙法華經。一一皆度六百萬億那由他恒河沙等眾生,示教利喜,令發阿耨多羅三藐三菩提心。
Thị thời thập lục Bồ-tát sa-di, tri Phật nhập thất tịch nhiên thiền định, các thăng pháp tòa, diệc ư bát vạn tứ thiên kiếp, vi tứ bộ chúng quảng thuyết phân biệt diệu pháp hoa kinh. Nhất nhất giai độ lục bách vạn ức na-do-tha hằng hà sa đẳng chúng sinh, thị giáo lợi hỷ, lệnh phát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm.
Bấy giờ, mười sáu vị Bồ Tát Sa di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
「大通智勝佛過八萬四千劫已,從三昧起,往詣法座安詳而坐,普告大眾:『是十六菩薩沙彌甚為希有,諸根通利,智慧明了,已曾供養無量千萬億數諸佛。於諸佛所,常修梵行,受持佛智,開示眾生,令入其中。汝等皆當數數親近而供養之。所以者何?若聲聞、辟支佛及諸菩薩,能信是十六菩薩所說經法,受持不毀者,是人皆當得阿耨多羅三藐三菩提、如來之慧。』」
“Đại thông trí thắng Phật quá bát vạn tứ thiên kiếp dĩ, tùng tam-muội khởi, vãng nghệ pháp tòa an tường nhi tọa, phổ cáo đại chúng: ‘Thị thập lục Bồ-tát sa-di thậm vi hy hữu, chư căn thông lợi, trí tuệ minh liễu, dĩ tằng cúng dường vô lượng thiên vạn ức số chư Phật. Ư chư Phật sở, thường tu phạm hành, thọ trì Phật trí, khai thị chúng sinh, lệnh nhập kỳ trung. Nhữ đẳng giai đương số số thân cận nhi cúng dường chi. Sở dĩ giả hà? Nhược thanh văn, Bích-chi Phật cập chư Bồ-tát, năng tín thị thập lục Bồ-tát sở thuyết kinh pháp, thọ trì bất hủy giả, thị nhân giai đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, Như-lai chi tuệ.’”
Đức Đại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau từ tam muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: “Mười sáu vị Bồ Tát Sa di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ Tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ Tát Sa di đó nói mà thọ trì không mất, thì người đó sẽ được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác trí huệ của Như Lai”.
佛告諸比丘:「是十六菩薩常樂說是妙法蓮華經。一一菩薩所化六百萬億那由他恒河沙等眾生,世世所生與菩薩俱,從其聞法,悉皆信解,以此因緣,得值四百萬億諸佛世尊,于今不盡。「諸比丘!我今語汝:『彼佛弟子十六沙彌,今皆得阿耨多羅三藐三菩提,於十方國土現在說法,有無量百千萬億菩薩、聲聞以為眷屬。其二沙彌,東方作佛,一名阿閦,在歡喜國,二名須彌頂;東南方二佛,一名師子音,二名師子相;南方二佛,一名虛空住,二名常滅;西南方二佛,一名帝相,二名梵相;西方二佛,一名阿彌陀,二名度一切世間苦惱;西北方二佛,一名多摩羅跋栴檀香神通,二名須彌相;北方二佛,一名雲自在,二名雲自在王;東北方佛,名壞一切世間怖畏,第十六我釋迦牟尼佛於娑婆國土成阿耨多羅三藐三菩提。』「諸比丘!我等為沙彌時,各各教化無量百千萬億恒河沙等眾生,從我聞法,為阿耨多羅三藐三菩提。此諸眾生,于今有住聲聞地者,我常教化阿耨多羅三藐三菩提。是諸人等,應以是法漸入佛道。所以者何?如來智慧,難信難解。爾時所化無量恒河沙等眾生者,汝等諸比丘,及我滅度後未來世中聲聞弟子是也。我滅度後,復有弟子不聞是經,不知不覺菩薩所行,自於所得功德生滅度想,當入涅槃。我於餘國作佛,更有異名。是人雖生滅度之想入於涅槃,而於彼土求佛智慧,得聞是經,唯以佛乘而得滅度,更無餘乘,除諸如來方便說法。「諸比丘!若如來自知涅槃時到,眾又清淨、信解堅固、了達空法、深入禪定,便集諸菩薩及聲聞眾,為說是經。世間無有二乘而得滅度,唯一佛乘得滅度耳。比丘當知!如來方便,深入眾生之性,知其志樂小法,深著五欲,為是等故說於涅槃。是人若聞,則便信受。
Phật cáo chư tỳ-kheo: “Thị thập lục Bồ-tát thường nhạo thuyết thị diệu pháp liên hoa kinh. Nhất nhất Bồ-tát sở hóa lục bách vạn ức na-do-tha hằng hà sa đẳng chúng sinh, thế thế sở sinh dữ Bồ-tát câu, tùng kỳ văn pháp, tất giai tín giải, dĩ thử nhân duyên, đắc trị tứ bách vạn ức chư Phật Thế-tôn, vu kim bất tận. “Chư tỳ-kheo! Ngã kim ngữ nhữ: ‘Bỉ Phật đệ tử thập lục sa-di, kim giai đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư thập phương quốc độ hiện tại thuyết pháp, hữu vô lượng bách thiên vạn ức Bồ-tát, thanh văn dĩ vi quyến thuộc. Kỳ nhị sa-di, đông phương tác Phật, nhất danh A-súc, tại hoan hỷ quốc, nhị danh Tu-di đỉnh; đông nam phương nhị Phật, nhất danh sư tử âm, nhị danh sư tử tướng; nam phương nhị Phật, nhất danh hư không trụ, nhị danh thường diệt; tây nam phương nhị Phật, nhất danh đế tướng, nhị danh phạm tướng; tây phương nhị Phật, nhất danh A-di-đà, nhị danh độ nhất thiết thế gian khổ não; tây bắc phương nhị Phật, nhất danh đa-ma-la-bạt chiên-đàn hương thần thông, nhị danh Tu-di tướng; bắc phương nhị Phật, nhất danh vân tự tại, nhị danh vân tự tại vương; đông bắc phương Phật, danh hoại nhất thiết thế gian bố úy, đệ thập lục ngã Thích-ca Mâu-ni Phật ư Ta-bà quốc độ thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.’ “Chư tỳ-kheo! Ngã đẳng vi sa-di thời, các các giáo hóa vô lượng bách thiên vạn ức hằng hà sa đẳng chúng sinh, tùng ngã văn pháp, vi a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thử chư chúng sinh, vu kim hữu trụ thanh văn địa giả, ngã thường giáo hóa a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị chư nhân đẳng, ưng dĩ thị pháp tiệm nhập Phật đạo. Sở dĩ giả hà? Như-lai trí tuệ, nan tín nan giải. Nhĩ thời sở hóa vô lượng hằng hà sa đẳng chúng sinh giả, nhữ đẳng chư tỳ-kheo, cập ngã diệt độ hậu vị lai thế trung thanh văn đệ tử thị dã. Ngã diệt độ hậu, phục hữu đệ tử bất văn thị kinh, bất tri bất giác Bồ-tát sở hành, tự ư sở đắc công đức sinh diệt độ tưởng, đương nhập Niết-bàn. Ngã ư dư quốc tác Phật, cánh hữu dị danh. Thị nhân tuy sinh diệt độ chi tưởng nhập ư Niết-bàn, nhi ư bỉ thổ cầu Phật trí tuệ, đắc văn thị kinh, duy dĩ Phật thừa nhi đắc diệt độ, cánh vô dư thừa, trừ chư Như-lai phương tiện thuyết pháp. “Chư tỳ-kheo! Nhược Như-lai tự tri Niết-bàn thời đáo, chúng hựu thanh tịnh, tín giải kiên cố, liễu đạt không pháp, thâm nhập thiền định, tiện tập chư Bồ-tát cập thanh văn chúng, vi thuyết thị kinh. Thế gian vô hữu nhị thừa nhi đắc diệt độ, duy nhất Phật thừa đắc diệt độ nhĩ. Tỳ-kheo đương tri! Như-lai phương tiện, thâm nhập chúng sinh chi tính, tri kỳ chí nhạo tiểu pháp, thâm trước ngũ dục, vi thị đẳng cố thuyết ư Niết-bàn. Thị nhân nhược văn, tắc tiện tín thọ.
Phật bảo các Tỳ kheo: “Mười sáu vị Bồ Tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này. Sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ Tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ Tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ Tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt. Các Tỳ kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiện đang nói pháp trong cõi nước ở mười phương có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ Tát Thanh văn để làm quyến thuộc. Hai vị Sa di làm Phật ở phương Đông: Vị thứ nhứt tên là A Súc ở nước Hoa Hỷ, vị thứ hai tên là Tu Di Đỉnh. Hai vị làm Phật ở phương Đông Nam: Vị thứ nhứt tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Nam: Vị thứ nhứt tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt. Hai vị làm Phật ở phương Tây Nam: Vị thứ nhứt tên là Đế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Tây: Vị thứ nhứt tên là A Di Đà, vị thứ hai tên là Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị làm Phật ở phương Tây Bắc: Vị thứ nhứt tên là Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu Di Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Bắc: Vị thứ nhứt tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương. Một vị làm Phật ở phương Đông Bắc hiệu Hoại Nhứt Thiết Thế Gian Bố Úy. Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích Ca Mâu Ni Phật ở cõi nước Ta bà thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các Tỳ kheo! Lúc chúng ta làm Sa di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn ức hằng hà sa chúng sanh vì đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo. Vì sao? Vì trí huệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh bị hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ kheo, và sau khi ta diệt độ các vị đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ Tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết bàn. Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp. Các Tỳ kheo! Nếu đức Như Lai tự biết giờ Niết bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ Tát và chúng Thanh văn mà vì nói kinh này. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi. Các Tỳ kheo nên rõ! Đức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham nơi năm món dục, vì hạng người này mà nói Niết bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận.
「譬如五百由旬險難惡道,曠絕無人、怖畏之處。若有多眾,欲過此道至珍寶處。有一導師,聰慧明達,善知險道通塞之相,將導眾人欲過此難。所將人眾中路懈退,白導師言:『我等疲極,而復怖畏,不能復進;前路猶遠,今欲退還。』導師多諸方便而作是念:『此等可愍,云何捨大珍寶而欲退還?』作是念已,以方便力,於險道中過三百由旬,化作一城,告眾人言:『汝等勿怖,莫得退還。今此大城,可於中止,隨意所作。若入是城,快得安隱。若能前至寶所,亦可得去。』是時疲極之眾,心大歡喜,歎未曾有:『我等今者免斯惡道,快得安隱。』於是眾人前入化城,生已度想、生安隱想。爾時導師,知此人眾既得止息,無復疲惓。即滅化城,語眾人言:『汝等去來,寶處在近。向者大城,我所化作,為止息耳。』「諸比丘!如來亦復如是,今為汝等作大導師,知諸生死煩惱惡道險難長遠,應去應度。若眾生但聞一佛乘者,則不欲見佛,不欲親近,便作是念:『佛道長遠,久受懃苦乃可得成。』佛知是心怯弱下劣,以方便力,而於中道為止息故,說二涅槃。若眾生住於二地,如來爾時即便為說:『汝等所作未辦,汝所住地,近於佛慧,當觀察籌量所得涅槃非真實也。但是如來方便之力,於一佛乘分別說三。』如彼導師,為止息故,化作大城。既知息已,而告之言:『寶處在近,此城非實,我化作耳。』」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Thí như ngũ bách do-tuần hiểm nan ác đạo, khoáng tuyệt vô nhân, bố úy chi xứ. Nhược hữu đa chúng, dục quá thử đạo chí trân bảo xứ. Hữu nhất đạo sư, thông tuệ minh đạt, thiện tri hiểm đạo thông tắc chi tướng, tương đạo chúng nhân dục quá thử nan. Sở tương nhân chúng trung lộ giải thoái, bạch đạo sư ngôn: ‘Ngã đẳng bì cực, nhi phục bố úy, bất năng phục tiến; tiền lộ do viễn, kim dục thoái hoàn.’ Đạo sư đa chư phương tiện nhi tác thị niệm: ‘Thử đẳng khả mẫn, vân hà xả đại trân bảo nhi dục thoái hoàn?’ Tác thị niệm dĩ, dĩ phương tiện lực, ư hiểm đạo trung quá tam bách do-tuần, hóa tác nhất thành, cáo chúng nhân ngôn: ‘Nhữ đẳng vật bố, mạc đắc thoái hoàn. Kim thử đại thành, khả ư trung chỉ, tùy ý sở tác. Nhược nhập thị thành, khoái đắc an ẩn. Nhược năng tiền chí bảo sở, diệc khả đắc khứ.’ Thị thời bì cực chi chúng, tâm đại hoan hỷ, thán vị tằng hữu: ‘Ngã đẳng kim giả miễn tư ác đạo, khoái đắc an ẩn.’ Ư thị chúng nhân tiền nhập hóa thành, sinh dĩ độ tưởng, sinh an ẩn tưởng. Nhĩ thời đạo sư, tri thử nhân chúng ký đắc chỉ tức, vô phục bì quyện. Tức diệt hóa thành, ngữ chúng nhân ngôn: ‘Nhữ đẳng khứ lai, bảo xứ tại cận. Hướng giả đại thành, ngã sở hóa tác, vi chỉ tức nhĩ.’ “Chư tỳ-kheo! Như-lai diệc phục như thị, kim vi nhữ đẳng tác đại đạo sư, tri chư sinh tử phiền não ác đạo hiểm nan trường viễn, ưng khứ ưng độ. Nhược chúng sinh đãn văn nhất Phật thừa giả, tắc bất dục kiến Phật, bất dục thân cận, tiện tác thị niệm: ‘Phật đạo trường viễn, cửu thọ cần khổ nãi khả đắc thành.’ Phật tri thị tâm khiếp nhược hạ liệt, dĩ phương tiện lực, nhi ư trung đạo vi chỉ tức cố, thuyết nhị Niết-bàn. Nhược chúng sinh trụ ư nhị địa, Như-lai nhĩ thời tức tiện vi thuyết: ‘Nhữ đẳng sở tác vị biện, nhữ sở trụ địa, cận ư Phật tuệ, đương quán sát trù lượng sở đắc Niết-bàn phi chân thực dã. Đãn thị Như-lai phương tiện chi lực, ư nhất Phật thừa phân biệt thuyết tam.’ Như bỉ đạo sư, vi chỉ tức cố, hóa tác đại thành. Ký tri tức dĩ, nhi cáo chi ngôn: ‘Bảo xứ tại cận, thử thành phi thực, ngã hóa tác nhĩ.’” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Thí dụ đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do tuần. Chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường này đến chỗ trân bảo, có một vị Đạo Sư thông minh sáng suốt khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch đạo sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về”. Vị Đạo Sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về. Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các người chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành này sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được”. Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. Lúc ấy Đạo Sư biết chúng nhơn đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt liền diệt hóa thành bảo chúng nhơn rằng: “Các người nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi”. Các Tỳ kheo! Đức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị đại Đạo Sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế này: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành”. Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, phải dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết bàn (13). Nếu chúng sanh trụ nơi hai bậc, đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói: “Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo Sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa làm thành lớn, đã biết nghĩ xong mà bảo đó rằng: “Chỗ châu báu ở gần, thành này không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi”. Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「大通智勝佛,十劫坐道場,佛法不現前,不得成佛道。諸天神龍王、阿修羅眾等,常雨於天華,以供養彼佛。諸天擊天鼓,并作眾伎樂,香風吹萎華,更雨新好者。過十小劫已,乃得成佛道,諸天及世人,心皆懷踊躍。彼佛十六子,皆與其眷屬,千萬億圍繞,俱行至佛所,頭面禮佛足,而請轉法輪:『聖師子法雨,充我及一切。』世尊甚難值,久遠時一現,為覺悟群生,震動於一切。東方諸世界,五百萬億國,梵宮殿光曜,昔所未曾有。諸梵見此相,尋來至佛所,散花以供養,并奉上宮殿,請佛轉法輪,以偈而讚歎。佛知時未至,受請默然坐。三方及四維、上下亦復爾,散花奉宮殿,請佛轉法輪:『世尊甚難值,願以大慈悲,廣開甘露門,轉無上法輪。』
“Đại thông trí thắng Phật, thập kiếp tọa đạo tràng, Phật pháp bất hiện tiền, bất đắc thành Phật đạo. Chư thiên Thần Long vương, a-tu-la chúng đẳng, thường vũ ư thiên hoa, dĩ cúng dường bỉ Phật. Chư thiên kích thiên cổ, tinh tác chúng kỹ nhạc, hương phong xuy ủy hoa, cánh vũ tân hảo giả. Quá thập tiểu kiếp dĩ, nãi đắc thành Phật đạo, chư thiên cập thế nhân, tâm giai hoài dũng dược. Bỉ Phật thập lục tử, giai dữ kỳ quyến thuộc, thiên vạn ức vi nhiễu, câu hành chí Phật sở, đầu diện lễ Phật túc, nhi thỉnh chuyển pháp luân: ‘Thánh sư tử pháp vũ, sung ngã cập nhất thiết.’ Thế-tôn thậm nan trị, cửu viễn thời nhất hiện, vi giác ngộ quần sinh, chấn động ư nhất thiết. Đông phương chư thế giới, ngũ bách vạn ức quốc, phạm cung điện quang diệu, tích sở vị tằng hữu. Chư phạm kiến thử tướng, tầm lai chí Phật sở, tán hoa dĩ cúng dường, tinh phụng thượng cung điện, thỉnh Phật chuyển pháp luân, dĩ kệ nhi tán thán. Phật tri thời vị chí, thọ thỉnh mặc nhiên tọa. Tam phương cập tứ duy, thượng hạ diệc phục nhĩ, tán hoa phụng cung điện, thỉnh Phật chuyển pháp luân: ‘Thế-tôn thậm nan trị, nguyện dĩ đại từ bi, quảng khai cam lộ môn, chuyển vô thượng pháp luân.’
Đại Thông Trí Thắng Phật
Mười kiếp ngồi đạo tràng
Phật Pháp chẳng hiện tiền
Chẳng được thành Phật đạo
Các trời, thần, Long vương
Chúng A tu la thảy
Thường rưới các hoa trời
Để cúng dường Phật đó
Chư thiên đánh trống trời
Và trổi các kỹ nhạc
Gió thơm thổi hoa héo
Lại mưa hoa tốt mới
Quá mười tiểu kiếp rồi
Mới được thành Phật đạo
Các trời cùng người đời
Lòng đều sanh hớn hở
Mười sáu người con Phật
Đều cùng quyến thuộc mình
Nghìn muôn ức vây quanh
Chung đi đến chỗ Phật
Đầu mặt lạy chân Phật
Thỉnh Phật chuyển pháp luân
“Đấng Thánh Sư mưa pháp
Lợi con và tất cả
Thế Tôn rất khó gặp
Lâu xa một lần hiện
Vì giác ngộ quần sanh
Mà chấn động tất cả”.
Các thế giới phương Đông
Năm trăm muôn ức cõi
Phạm cung điện sáng chói
Từ xưa chưa từng có
Phạm vương thấy tướng này
Liền đến chỗ Phật ở
Rải hoa để cúng dường
Và dâng cung điện lên
Thỉnh Phật chuyển pháp luân
Nói kệ khen ngợi Phật
Phật biết chưa đến giờ
Nhận thỉnh yên lặng ngồi
Ba phương cùng bốn phía
Trên, dưới cũng như thế
Rưới hoa dâng cung điện
Thỉnh Phật chuyển pháp luân
“Thế Tôn rất khó gặp
Nguyện vì bổn từ bi
Rộng mở cửa cam lộ
Chuyển pháp luân vô thượng”.
無量慧世尊,受彼眾人請,為宣種種法:『四諦十二緣,無明至老死,皆從生緣有。如是眾過患,汝等應當知。』宣暢是法時,六百萬億姟,得盡諸苦際,皆成阿羅漢。第二說法時,千萬恒沙眾,於諸法不受,亦得阿羅漢。從是後得道,其數無有量,萬億劫算數,不能得其邊。
Vô lượng tuệ Thế-tôn, thọ bỉ chúng nhân thỉnh, vi tuyên chủng chủng pháp: ‘Tứ đế thập nhị duyên, vô minh chí lão tử, giai tùng sinh duyên hữu. Như thị chúng quá hoạn, nhữ đẳng ưng đương tri.’ Tuyên sướng thị pháp thời, lục bách vạn ức cai, đắc tận chư khổ tế, giai thành A-la-hán. Đệ nhị thuyết pháp thời, thiên vạn hằng sa chúng, ư chư pháp bất thọ, diệc đắc A-la-hán. Tùng thị hậu đắc đạo, kỳ số vô hữu lượng, vạn ức kiếp toán số, bất năng đắc kỳ biên.
Thế Tôn huệ vô thượng
Nhân chúng nhơn kia thỉnh
Vì nói các món pháp
Bốn đế, mười hai duyên
Vô minh đến lão tử
Đều từ sanh duyên hữu
Những quá hoạn như thế
Các ông phải nên biết
Tuyên nói pháp đó rồi
Sáu trăm muôn ức cai
(14) Được hết các ngằn khổ
Đều thành A la hán.
Thời nói pháp thứ hai
Ngàn vạn hằng sa chúng
Ở các pháp chẳng thọ
Cũng được A la hán,
Từ sau đây được đạo
Số đông đến vô lượng
Muôn ức kiếp tính kể
Không thể được ngằn mé.
時十六王子,出家作沙彌,皆共請彼佛,演說大乘法:『我等及營從,皆當成佛道,願得如世尊,慧眼第一淨。』佛知童子心,宿世之所行,以無量因緣、種種諸譬喻,說六波羅蜜,及諸神通事。分別真實法,菩薩所行道,說是法華經,如恒河沙偈。彼佛說經已,靜室入禪定,一心一處坐,八萬四千劫。是諸沙彌等,知佛禪未出,為無量億眾,說佛無上慧。各各坐法座,說是大乘經,於佛宴寂後,宣揚助法化。一一沙彌等,所度諸眾生,有六百萬億,恒河沙等眾。彼佛滅度後,是諸聞法者,在在諸佛土,常與師俱生。是十六沙彌,具足行佛道,今現在十方,各得成正覺。爾時聞法者,各在諸佛所,其有住聲聞,漸教以佛道。我在十六數,曾亦為汝說,是故以方便,引汝趣佛慧。以是本因緣,今說法華經,令汝入佛道,慎勿懷驚懼。
Thời thập lục vương tử, xuất gia tác sa-di, giai cộng thỉnh bỉ Phật, diễn thuyết đại thừa pháp: ‘Ngã đẳng cập doanh tùng, giai đương thành Phật đạo, nguyện đắc như Thế-tôn, tuệ nhãn đệ nhất tịnh.’ Phật tri đồng tử tâm, túc thế chi sở hành, dĩ vô lượng nhân duyên, chủng chủng chư thí dụ, thuyết lục ba-la-mật, cập chư thần thông sự. Phân biệt chân thực pháp, Bồ-tát sở hành đạo, thuyết thị pháp hoa kinh, như hằng hà sa kệ. Bỉ Phật thuyết kinh dĩ, tĩnh thất nhập thiền định, nhất tâm nhất xứ tọa, bát vạn tứ thiên kiếp. Thị chư sa-di đẳng, tri Phật thiền vị xuất, vi vô lượng ức chúng, thuyết Phật vô thượng tuệ. Các các tọa pháp tòa, thuyết thị đại thừa kinh, ư Phật yến tịch hậu, tuyên dương trợ pháp hóa. Nhất nhất sa-di đẳng, sở độ chư chúng sinh, hữu lục bách vạn ức, hằng hà sa đẳng chúng. Bỉ Phật diệt độ hậu, thị chư văn pháp giả, tại tại chư Phật thổ, thường dữ sư câu sinh. Thị thập lục sa-di, cụ túc hành Phật đạo, kim hiện tại thập phương, các đắc thành chính giác. Nhĩ thời văn pháp giả, các tại chư Phật sở, kỳ hữu trụ thanh văn, tiệm giáo dĩ Phật đạo. Ngã tại thập lục số, tằng diệc vi nhữ thuyết, thị cố dĩ phương tiện, dẫn nhữ thú Phật tuệ. Dĩ thị bản nhân duyên, kim thuyết pháp hoa kinh, lệnh nhữ nhập Phật đạo, thận vật hoài kinh cụ.
Bấy giờ mười sáu vị
Xuất gia làm Sa di
Đều đồng thỉnh Phật kia
Diễn nói pháp Đại thừa:
“Chúng con cùng quyến thuộc
Đều sẽ thành Phật đạo
Nguyện được như Thế Tôn
Tuệ nhãn sạch thứ nhứt”.
Phật biết lòng đồng tử
Chỗ làm của đời trước
Dùng vô lượng nhân duyên
Cùng các món thí dụ
Nói sáu Ba la mật
Và các việc thần thông,
Phân biệt pháp chân thật
Đạo của Bồ Tát làm
Nói kinh Pháp Hoa này
Kệ nhiều như hằng sa.
Phật kia nói kinh rồi
Vào tịnh thất nhập định
Tám vạn bốn ngàn kiếp
Một lòng ngồi một chỗ.
Các vị Sa di đó
Biết Phật chưa xuất thiền
Vì vô lượng chúng nói
Huệ vô thượng của Phật
Mỗi vị ngồi pháp tòa
Nói kinh Đại thừa này
Sau khi Phật yên lặng
Tuyên bày giúp giáo hóa.
Mỗi vị Sa di thảy
Số chúng sanh mình độ
Có sáu trăm muôn ức
Hằng hà sa các chúng.
Sau khi Phật diệt độ
Các người nghe pháp đó
Ở các nơi cõi Phật
Thường cùng thầy sanh chung.
Mười sáu Sa di đó
Đầy đủ tu Phật đạo
Nay hiện ở mười phương
Đều được thành Chánh giác
Người nghe pháp thuở đó
Đều ở chỗ các Phật
Có người trụ Thanh văn
Lần dạy cho Phật đạo.
Ta ở số mười sáu
Từng vì các người nói
Cho nên dùng phương tiện
Dẫn dắt đến huệ Phật
Do bản nhân duyên đó
Nay nói kinh Pháp Hoa
Khiến ngươi vào Phật đạo
Dè dặt chớ kinh sợ.
譬如險惡道,逈絕多毒獸,又復無水草,人所怖畏處。無數千萬眾,欲過此險道,其路甚曠遠,經五百由旬。時有一導師,強識有智慧,明了心決定,在險濟眾難。眾人皆疲惓,而白導師言:『我等今頓乏,於此欲退還。』導師作是念:『此輩甚可愍,如何欲退還,而失大珍寶?』尋時思方便,當設神通力,化作大城郭,莊嚴諸舍宅,周匝有園林,渠流及浴池,重門高樓閣,男女皆充滿。即作是化已,慰眾言勿懼:『汝等入此城,各可隨所樂。』諸人既入城,心皆大歡喜,皆生安隱想,自謂已得度。導師知息已,集眾而告言:『汝等當前進,此是化城耳。我見汝疲極,中路欲退還,故以方便力,權化作此城。汝等勤精進,當共至寶所。』
Thí như hiểm ác đạo, quýnh tuyệt đa độc thú, hựu phục vô thủy thảo, nhân sở bố úy xứ. Vô số thiên vạn chúng, dục quá thử hiểm đạo, kỳ lộ thậm khoáng viễn, kinh ngũ bách do-tuần. Thời hữu nhất đạo sư, cường thức hữu trí tuệ, minh liễu tâm quyết định, tại hiểm tế chúng nan. Chúng nhân giai bì quyện, nhi bạch đạo sư ngôn: ‘Ngã đẳng kim đốn phạp, ư thử dục thoái hoàn.’ Đạo sư tác thị niệm: ‘Thử bối thậm khả mẫn, như hà dục thoái hoàn, nhi thất đại trân bảo?’ Tầm thời tư phương tiện, đương thiết thần thông lực, hóa tác đại thành quách, trang nghiêm chư xá trạch, chu táp hữu viên lâm, cừ lưu cập dục trì, trọng môn cao lâu các, nam nữ giai sung mãn. Tức tác thị hóa dĩ, úy chúng ngôn vật cụ: ‘Nhữ đẳng nhập thử thành, các khả tùy sở lạc.’ Chư nhân ký nhập thành, tâm giai đại hoan hỷ, giai sinh an ẩn tưởng, tự vị dĩ đắc độ. Đạo sư tri tức dĩ, tập chúng nhi cáo ngôn: ‘Nhữ đẳng đương tiền tiến, thử thị hóa thành nhĩ. Ngã kiến nhữ bì cực, trung lộ dục thoái hoàn, cố dĩ phương tiện lực, quyền hóa tác thử thành. Nhữ đẳng cần tinh tiến, đương cộng chí bảo sở.’
Thí như đường hiểm dữ
Xa vắng nhiều thú độc
Và lại không cỏ nước
Chốn mọi người ghê sợ
Vô số nghìn muôn chúng
Muốn qua đường hiểm này
Đường đó rất xa vời
Trải năm trăm do tuần.
Bấy giờ một Đạo Sư
Nhớ dai có trí huệ
Sáng suốt lòng quyết định
Đường hiểm cứu các nạn
Mọi người đều mệt mỏi
Mà bạch Đạo Sư rằng:
“Chúng con nay mỏi mệt
Nơi đây muốn trở về”.
Đạo Sư nghĩ thế này:
Bọn này rất đáng thương
Làm sao muốn lui về
Cam mất trân bảo lớn?
Liền lại nghĩ phương tiện
Nên bày sức thần thông
Hóa làm thành quách lớn
Các nhà cửa trang nghiêm
Bốn bề có vườn rừng
Sông ngòi và ao tắm
Cửa lớn lầu gác cao
Trai, gái đều đông vầy.
Hóa ra thành đó rồi
An ủi chúng: “Chớ sợ
Các người vào thành này
Đều được vừa chỗ muốn”.
Mọi người đã vào thành
Lòng đều rất vui mừng
Đều sanh tưởng an ổn
Tự nói đã được độ.
Đạo Sư biết nghỉ xong
Nhóm chúng mà bảo rằng:
“Các ngươi nên đi nữa
Đây là hóa thành thôi
Thấy các ngươi mỏi mệt
Giữa đường muốn lui về
Nên dùng sức phương tiện
Ta hóa làm thành này
Các ngươi gắng tinh tấn
Nên đồng đến chỗ báu”.
我亦復如是,為一切導師。見諸求道者,中路而懈廢,不能度生死,煩惱諸險道。故以方便力,為息說涅槃。言:『汝等苦滅,所作皆已辦。』既知到涅槃,皆得阿羅漢,爾乃集大眾,為說真實法。諸佛方便力,分別說三乘,唯有一佛乘,息處故說二。『今為汝說實,汝所得非滅,為佛一切智,當發大精進。汝證一切智,十力等佛法,具三十二相,乃是真實滅。』諸佛之導師,為息說涅槃,既知是息已,引入於佛慧。」
Ngã diệc phục như thị, vi nhất thiết đạo sư. Kiến chư cầu đạo giả, trung lộ nhi giải phế, bất năng độ sinh tử, phiền não chư hiểm đạo. Cố dĩ phương tiện lực, vi tức thuyết Niết-bàn. Ngôn: ‘Nhữ đẳng khổ diệt, sở tác giai dĩ biện.’ Ký tri đáo Niết-bàn, giai đắc A-la-hán, nhĩ nãi tập đại chúng, vi thuyết chân thực pháp. Chư Phật phương tiện lực, phân biệt thuyết tam thừa, duy hữu nhất Phật thừa, tức xứ cố thuyết nhị. ‘Kim vi nhữ thuyết thực, nhữ sở đắc phi diệt, vi Phật nhất thiết trí, đương phát đại tinh tiến. Nhữ chứng nhất thiết trí, thập lực đẳng Phật pháp, cụ tam thập nhị tướng, nãi thị chân thực diệt.’ Chư Phật chi đạo sư, vi tức thuyết Niết-bàn, ký tri thị tức dĩ, dẫn nhập ư Phật tuệ.”
Ta cũng lại như vậy
Đạo Sư của tất cả
Thấy những người cầu đạo
Giữa đường mà lười bỏ
Không thể vượt đường dữ
Sanh tử đầy phiền não
Nên dùng sức phương tiện
Vì nghỉ nói Niết bàn.
Rằng các ngươi khổ diệt
Chỗ làm đều đã xong
Đã biết đến Niết bàn
Đều chứng A la hán
Giờ mới nhóm đại chúng
Vì nói pháp chân thật
Sức phương tiện các Phật
Phân biệt nói ba thừa
Chỉ có một Phật thừa
Vì nghỉ nên nói hai
(15) Vì các ngươi nói thật
Các ngươi chưa phải diệt
Vì nhứt thiết trí Phật
Nên phát tinh tấn mạnh
Ngươi chứng nhứt thiết trí
Mười lực các Phật Pháp
Đủ băm hai tướng tốt
Mới là chân thật diệt,
Các Phật là Đạo Sư
Vì nghỉ nói Niết bàn
Đã biết ngơi nghỉ rồi
Dẫn vào nơi huệ Phật.
妙法蓮華經卷第三
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ tam
(Hết Quyển Thứ Ba — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Ba”)
THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ ba)
- (1) Nhứt thiết trí: Đây tức là “nhứt thiết chủng trí” trí của Phật, rõ thấu rành suốt ba thuở mười phương tất cả thế gian và xuất thế gian.
- (2) Chỗ quy thú: Chỗ về đến, tức là cội nguồn.
- (3) Tâm sở hành: Lòng tưởng móng, suy nghĩ, mong cầu v.v...
- (4) Tam thiên đại thiên: Một thái dương hệ gọi là 1 tiểu thế giới, 1.000 tiểu thế giới là 1 tiểu thiên thế giới, 1.000 tiểu thiên là 1 trung thiên, 1.000 trung thiên là đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế giới là ba lần nhân ngàn (1 TG x 1000 x 1000 x 1000), nên gọi tam thiên đại thiên thế giới, gồm có 1.000.000.000 thế giới, là số thế giới của cõi Ta bà thuộc quyền giáo hóa của đức Thích Ca.
- (5) Lưỡng túc tôn: LƯỠNG: Phước đức và trí huệ 2 món. TÚC là đầy đủ. Đáng để trời và người tôn kính nên gọi là Lưỡng túc tôn.
- (6) Hóa thành dụ: Thành trì do thần thông biến hóa ra, để dụ huyền giáo hóa của Phật.
- (7) Do tuần: Có 3 hạng do tuần: 1) 40 dậm Tàu, 2) 60 dậm, 3) 80 dậm.
- (8) Quy mạng: Đem thân mạng về nương, là nghĩa của chữ “Nam mô” tiếng Phạm.
- (9) Cõi phạm thiên: Cõi dục trên người, có 6 cõi trời: 1. Trời Tứ Thiên Vương; 2. Trời Đao Lợi (vua là Đế Thích hay Thích Đề Hoàn Nhơn); 3. Trời Dạ Ma; 4. Trời Đâu Suất; 5. Trời Hóa Lạc; 6. Trời Tha Hóa Tự Tại Trên cõi dục có cõi Sắc, cõi Sắc có bốn thiền (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền), 18 cõi Trời. Trong Sơ thiền có 3 cõi: 1. Trời Phạm chúng 2. Phạm Vương. Phạm Thiên Vương là vua Trời Sơ thiền. 3. Đại Phạm Thiên Vương là vua Trời Tứ thiền.
- (10) Cung điện: Có phước lành lớn nên cảm báo có cung điện tùy thân nhỏ lớn như ý.
- (11) Lặng yên: Theo nghi biểu của Phật, ai thưa thỉnh việc chi nếu nín thinh là chịu.
- (12) Ba lần Tứ đế thành 12 (tam chuyển pháp luân): 1. Đây là khổ, đây là Tập, đây là Diệt, đây là Đạo. 2. Khổ nên biết, Tập nên dứt, Diệt nên chứng, Đạo nên tu. 3. Khổ biết rồi, Tập dứt rồi, Diệt chứng rồi, Đạo tu rồi.
- (13) Niết bàn: 1. Thanh văn Niết bàn; 2. Duyên giác Niết bàn.
- (14) Một trăm triệu (100.000.000) gọi là “cai”.
- (15) Thanh văn thừa, Duyên giác thừa. Các danh từ: Vô lượng, vô biên, a tăng kỳ, vô số, na do tha, hằng hà sa, bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả thuyết, v.v... đều là những số lớn trên số muôn ức.
Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)
Một tiếng kín bày, thần thông giáo hóa thầm gia hộ, khắp rưới mưa pháp nhuần các mầm, quả báo nhà rộng lớn, chốn châu báu không xa, quyền biến hóa đồng hoa đốm hư không. NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)
Ba căn khắp nhuần, đệ tử nhờ ơn, thành biến hóa dối bày chớ cho là chân, lại xem nhân duyên đức Trí Thắng, mười sáu vị Vương Tôn tám phương chứng thân vàng. NAM MÔ ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG PHẬT. (3 lần)
Hết Quyển 3