Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

妙法蓮華經卷第四

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ tứ

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ TƯ

後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯

Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch

(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)

PHẨM “NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ” THỨ TÁM

五百弟子受記品第八

Ngũ bách đệ tử thọ ký phẩm đệ bát

PHẨM “NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ” THỨ TÁM

爾時富樓那彌多羅尼子,從佛聞是智慧方便隨宜說法,又聞授諸大弟子阿耨多羅三藐三菩提記,復聞宿世因緣之事,復聞諸佛有大自在神通之力,得未曾有,心淨踊躍。即從座起,到於佛前,頭面禮足,却住一面,瞻仰尊顏目不暫捨,而作是念:「世尊甚奇特,所為希有!隨順世間若干種性,以方便知見而為說法,拔出眾生處處貪著。我等於佛功德,言不能宣,唯佛世尊能知我等深心本願。」

Nhĩ thời Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử, tùng Phật văn thị trí tuệ phương tiện tùy nghi thuyết pháp, hựu văn thụ chư đại đệ tử a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký, phục văn túc thế nhân duyên chi sự, phục văn chư Phật hữu đại tự tại thần thông chi lực, đắc vị tằng hữu, tâm tịnh dũng dược. Tức tùng tòa khởi, đáo ư Phật tiền, đầu diện lễ túc, khước trụ nhất diện, chiêm ngưỡng tôn nhan mục bất tạm xả, nhi tác thị niệm: “Thế-tôn thậm kỳ đặc, sở vi hy hữu! Tùy thuận thế gian nhược can chủng tính, dĩ phương tiện tri kiến nhi vi thuyết pháp, bạt xuất chúng sinh xứ xứ tham trước. Ngã đẳng ư Phật công đức, ngôn bất năng tuyên, duy Phật Thế-tôn năng tri ngã đẳng thâm tâm bản nguyện.”

Lúc bấy giờ, ngài Mãn Từ Tử từ nơi đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế này: “Thế Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, vớt chúng sanh ra khỏi các chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Thế Tôn hay biết bổn nguyện trong thâm tâm của chúng con”.

爾時佛告諸比丘:「汝等見是富樓那彌多羅尼子不?我常稱其於說法人中最為第一,亦常歎其種種功德,精勤護持助宣我法,能於四眾示教利喜,具足解釋佛之正法,而大饒益同梵行者。自捨如來,無能盡其言論之辯。汝等勿謂富樓那但能護持助宣我法,亦於過去九十億諸佛所,護持助宣佛之正法,於彼說法人中亦最第一。又於諸佛所說空法,明了通達,得四無礙智,常能審諦清淨說法,無有疑惑,具足菩薩神通之力。隨其壽命,常修梵行,彼佛世人咸皆謂之實是聲聞;而富樓那以斯方便,饒益無量百千眾生,又化無量阿僧祇人,令立阿耨多羅三藐三菩提。為淨佛土故,常作佛事,教化眾生。「諸比丘!富樓那亦於七佛說法人中而得第一,今於我所說法人中亦為第一,於賢劫中當來諸佛,說法人中亦復第一,而皆護持助宣佛法。亦於未來,護持助宣無量無邊諸佛之法,教化饒益無量眾生,令立阿耨多羅三藐三菩提。為淨佛土故,常勤精進教化眾生,漸漸具足菩薩之道。過無量阿僧祇劫,當於此土,得阿耨多羅三藐三菩提,號曰法明如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。其佛以恒河沙等三千大千世界為一佛土,七寶為地,地平如掌,無有山陵谿澗溝壑,七寶臺觀充滿其中,諸天宮殿近處虛空,人天交接,兩得相見。無諸惡道,亦無女人,一切眾生,皆以化生,無有婬欲。得大神通,身出光明,飛行自在,志念堅固,精進智慧,普皆金色,三十二相而自莊嚴。其國眾生,常以二食:一者、法喜食,二者、禪悅食。有無量阿僧祇千萬億那由他諸菩薩眾,得大神通、四無礙智,善能教化眾生之類。其聲聞眾,算數校計所不能知,皆得具足六通、三明及八解脫。其佛國土有如是等無量功德莊嚴成就。劫名寶明,國名善淨。其佛壽命無量阿僧祇劫,法住甚久。佛滅度後,起七寶塔遍滿其國。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời Phật cáo chư tỳ-kheo: “Nhữ đẳng kiến thị Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử phủ? Ngã thường xưng kỳ ư thuyết pháp nhân trung tối vi đệ nhất, diệc thường thán kỳ chủng chủng công đức, tinh cần hộ trì trợ tuyên ngã pháp, năng ư tứ chúng thị giáo lợi hỷ, cụ túc giải thích Phật chi chính pháp, nhi đại nhiêu ích đồng phạm hành giả. Tự xả Như-lai, vô năng tận kỳ ngôn luận chi biện. Nhữ đẳng vật vị Phú-lâu-na đãn năng hộ trì trợ tuyên ngã pháp, diệc ư quá khứ cửu thập ức chư Phật sở, hộ trì trợ tuyên Phật chi chính pháp, ư bỉ thuyết pháp nhân trung diệc tối đệ nhất. Hựu ư chư Phật sở thuyết không pháp, minh liễu thông đạt, đắc tứ vô ngại trí, thường năng thẩm đế thanh tịnh thuyết pháp, vô hữu nghi hoặc, cụ túc Bồ-tát thần thông chi lực. Tùy kỳ thọ mệnh, thường tu phạm hành, bỉ Phật thế nhân hàm giai vị chi thực thị thanh văn; nhi Phú-lâu-na dĩ tư phương tiện, nhiêu ích vô lượng bách thiên chúng sinh, hựu hóa vô lượng a-tăng-kỳ nhân, lệnh lập a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Vi tịnh Phật thổ cố, thường tác Phật sự, giáo hóa chúng sinh. “Chư tỳ-kheo! Phú-lâu-na diệc ư thất Phật thuyết pháp nhân trung nhi đắc đệ nhất, kim ư ngã sở thuyết pháp nhân trung diệc vi đệ nhất, ư hiền kiếp trung đương lai chư Phật, thuyết pháp nhân trung diệc phục đệ nhất, nhi giai hộ trì trợ tuyên Phật pháp. Diệc ư vị lai, hộ trì trợ tuyên vô lượng vô biên chư Phật chi pháp, giáo hóa nhiêu ích vô lượng chúng sinh, lệnh lập a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Vi tịnh Phật thổ cố, thường cần tinh tiến giáo hóa chúng sinh, tiệm tiệm cụ túc Bồ-tát chi đạo. Quá vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, đương ư thử thổ, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hiệu viết pháp minh Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kỳ Phật dĩ hằng hà sa đẳng tam thiên đại thiên thế giới vi nhất Phật thổ, thất bảo vi địa, địa bình như chưởng, vô hữu sơn lăng khê giản câu hác, thất bảo đài quán sung mãn kỳ trung, chư thiên cung điện cận xứ hư không, nhân thiên giao tiếp, lưỡng đắc tướng kiến. Vô chư ác đạo, diệc vô nữ nhân, nhất thiết chúng sinh, giai dĩ hóa sinh, vô hữu dâm dục. Đắc đại thần thông, thân xuất quang minh, phi hành tự tại, chí niệm kiên cố, tinh tiến trí tuệ, phổ giai kim sắc, tam thập nhị tướng nhi tự trang nghiêm. Kỳ quốc chúng sinh, thường dĩ nhị thực: Nhất giả, pháp hỷ thực, nhị giả, thiền duyệt thực. Hữu vô lượng a-tăng-kỳ thiên vạn ức na-do-tha chư Bồ-tát chúng, đắc đại thần thông, tứ vô ngại trí, thiện năng giáo hóa chúng sinh chi loại. Kỳ thanh văn chúng, toán số hiệu kế sở bất năng tri, giai đắc cụ túc lục thông, tam minh cập bát giải thoát. Kỳ Phật quốc độ hữu như thị đẳng vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu. Kiếp danh bảo minh, quốc danh thiện tịnh. Kỳ Phật thọ mệnh vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, pháp trụ thậm cửu. Phật diệt độ hậu, khởi thất bảo tháp biến mãn kỳ quốc.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Bấy giờ Phật bảo các Tỳ kheo: “Các ông thấy Mãn Từ Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhất trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặc siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lời mừng cho hàng bốn chúng (1) giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn Từ Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhất. Ông lại ở pháp không của chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm đầy đủ sức thần thông của Bồ Tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh. Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thật là Thanh văn. Nhưng ông Mãn Từ Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sanh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sanh. Các Tỳ kheo! Ông Mãn Từ Tử cũng được bậc nhất ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhất. Trong hàng người nói Pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhất, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh khiến an lập nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sanh, lần lần đầy đủ đạo Bồ Tát. Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi này thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiệu là: Pháp Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Đất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ. Tất cả chúng sanh đều do biến hóa sanh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc có đức tinh tấn trí huệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm. Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: Một là pháp hỷ thực, hai là thiền duyệt thực (2). Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na do tha các chúng Bồ Tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại (3), khéo hay giáo hóa loài chúng sanh. Chúng Thanh văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món Minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát. (4) Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bảo Minh, nước tên Thiện Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:

「諸比丘諦聽!佛子所行道,善學方便故,不可得思議。知眾樂小法,而畏於大智,是故諸菩薩,作聲聞緣覺,以無數方便,化諸眾生類。自說是聲聞,去佛道甚遠,度脫無量眾,皆悉得成就,雖小欲懈怠,漸當令作佛。內祕菩薩行,外現是聲聞,少欲厭生死,實自淨佛土。示眾有三毒,又現邪見相,我弟子如是,方便度眾生。若我具足說,種種現化事,眾生聞是者,心則懷疑惑。

“Chư tỳ-kheo đế thính! Phật tử sở hành đạo, thiện học phương tiện cố, bất khả đắc tư nghị. Tri chúng nhạo tiểu pháp, nhi úy ư đại trí, thị cố chư Bồ-tát, tác thanh văn duyên giác, dĩ vô số phương tiện, hóa chư chúng sinh loại. Tự thuyết thị thanh văn, khứ Phật đạo thậm viễn, độ thoát vô lượng chúng, giai tất đắc thành tựu, tuy tiểu dục giải đãi, tiệm đương lệnh tác Phật. Nội bí Bồ-tát hành, ngoại hiện thị thanh văn, thiểu dục yếm sinh tử, thực tự tịnh Phật thổ. Thị chúng hữu tam độc, hựu hiện tà kiến tướng, ngã đệ tử như thị, phương tiện độ chúng sinh. Nhược ngã cụ túc thuyết, chủng chủng hiện hóa sự, chúng sinh văn thị giả, tâm tắc hoài nghi hoặc.

Các Tỳ kheo lóng nghe

Đạo của Phật tử làm

Vì khéo học phương tiện

Chẳng thể nghĩ bàn được

Biết chúng ưa pháp nhỏ

Mà sợ nơi trí lớn

Cho nên các Bồ Tát

Làm Thanh văn, Duyên giác

Dùng vô số phương tiện

Độ các loài chúng sanh,

Tự nói là Thanh văn

Cách Phật đạo rất xa

Độ thoát vô lượng chúng

Thảy đều được thành tựu

Dầu ưa nhỏ, biếng lười

Sẽ khiến lần thành Phật.

Trong ẩn hạnh Bồ Tát

Ngoài hiện là Thanh văn,

Ít muốn, nhàm sanh tử

Thật tự tịnh cõi Phật

Bày ba độc cho người

(5) Lại hiện tướng tà kiến,

Đệ tử ta như vậy

Phương tiện độ chúng sanh

Nếu ta nói đủ cả

Các món việc hiện hóa

Chúng sanh nghe đó rồi

Thời lòng sanh nghi lầm

今此富樓那,於昔千億佛,勤修所行道,宣護諸佛法。為求無上慧,而於諸佛所,現居弟子上,多聞有智慧。所說無所畏,能令眾歡喜,未曾有疲惓,而以助佛事。已度大神通,具四無礙智,知諸根利鈍,常說清淨法。演暢如是義,教諸千億眾,令住大乘法,而自淨佛土。未來亦供養,無量無數佛,護助宣正法,亦自淨佛土。常以諸方便,說法無所畏,度不可計眾,成就一切智。供養諸如來,護持法寶藏,其後得成佛,號名曰法明。其國名善淨,七寶所合成,劫名為寶明。菩薩眾甚多,其數無量億,皆度大神通,威德力具足,充滿其國土。聲聞亦無數,三明八解脫,得四無礙智,以是等為僧。其國諸眾生,婬欲皆已斷,純一變化生,具相莊嚴身。法喜禪悅食,更無餘食想。無有諸女人,亦無諸惡道。富樓那比丘,功德悉成滿,當得斯淨土,賢聖眾甚多。如是無量事,我今但略說。」

Kim thử Phú-lâu-na, ư tích thiên ức Phật, cần tu sở hành đạo, tuyên hộ chư Phật pháp. Vi cầu vô thượng tuệ, nhi ư chư Phật sở, hiện cư đệ tử thượng, đa văn hữu trí tuệ. Sở thuyết vô sở úy, năng lệnh chúng hoan hỷ, vị tằng hữu bì quyện, nhi dĩ trợ Phật sự. Dĩ độ đại thần thông, cụ tứ vô ngại trí, tri chư căn lợi độn, thường thuyết thanh tịnh pháp. Diễn sướng như thị nghĩa, giáo chư thiên ức chúng, lệnh trụ đại thừa pháp, nhi tự tịnh Phật thổ. Vị lai diệc cúng dường, vô lượng vô số Phật, hộ trợ tuyên chính pháp, diệc tự tịnh Phật thổ. Thường dĩ chư phương tiện, thuyết pháp vô sở úy, độ bất khả kế chúng, thành tựu nhất thiết trí. Cúng dường chư Như-lai, hộ trì pháp bảo tàng, kỳ hậu đắc thành Phật, hiệu danh viết pháp minh. Kỳ quốc danh thiện tịnh, thất bảo sở hợp thành, kiếp danh vi bảo minh. Bồ-tát chúng thậm đa, kỳ số vô lượng ức, giai độ đại thần thông, uy đức lực cụ túc, sung mãn kỳ quốc độ. Thanh văn diệc vô số, tam minh bát giải thoát, đắc tứ vô ngại trí, dĩ thị đẳng vi tăng. Kỳ quốc chư chúng sinh, dâm dục giai dĩ đoạn, thuần nhất biến hóa sinh, cụ tướng trang nghiêm thân. Pháp hỷ thiền duyệt thực, cánh vô dư thực tưởng. Vô hữu chư nữ nhân, diệc vô chư ác đạo. Phú-lâu-na tỳ-kheo, công đức tất thành mãn, đương đắc tư tịnh thổ, hiền thánh chúng thậm đa. Như thị vô lượng sự, ngã kim đãn lược thuyết.”

Nay Phú Lâu Na đây

Ở xưa nghìn ức Phật

Siêng tu đạo mình làm

Tuyên hộ các Phật pháp

Vì cầu huệ vô thượng

Mà ở chỗ chư Phật

Hiện ở trên đệ tử

Học rộng có trí huệ

Nói pháp không sợ sệt

Hay khiến chúng vui mừng

Chưa từng có mỏi mệt

Để giúp nên việc Phật.

Đã được thần thông lớn

Đủ bốn trí vô ngại

Biết các căn lợi độn

Thường nói pháp thanh tịnh

Diễn xướng nghĩa như thế

Để dạy nghìn ức chúng

Khiến trụ pháp Đại thừa

Mà tự tịnh cõi Phật.

Đời sau cũng cúng dường

Vô lượng vô số Phật

Hộ trợ tuyên chánh pháp

Cũng tự tịnh cõi Phật

Thường dùng các phương tiện

Nói pháp không e sợ

Độ chúng không kể được

Đều thành nhứt thiết trí

Cúng dường các Như Lai

Hộ trì tạng Pháp bảo,

Sau đó được thành Phật

Hiệu gọi là Pháp Minh

Nước đó tên Thiện Tịnh

Bảy thứ báu hợp thành

Kiếp tên là Bảo Minh

Chúng Bồ Tát rất đông

Số nhiều vô lượng ức

Đều được thần thông lớn

Sức uy đức đầy đủ

Khắp đầy cả nước đó,

Thanh văn cũng vô số

Ba minh tám giải thoát

Được bốn trí vô ngại

Dùng hạng này làm Tăng.

Chúng sanh trong cõi đó

Dâm dục đều đã dứt

Thuần một biến hóa sanh

Thân trang nghiêm đủ tướng

Pháp hỷ, thiền duyệt thực

Không tưởng món ăn khác,

Không có hàng nữ nhơn

Cũng không các đường dữ.

Phú Lâu Na Tỳ kheo

Khi công đức trọn đầy

Sẽ được Tịnh độ này

Chúng hiền Thánh rất đông

Vô lượng việc như thế

Nay ta chỉ lược nói.

爾時千二百阿羅漢,心自在者,作是念:「我等歡喜,得未曾有。若世尊各見授記,如餘大弟子者,不亦快乎!」佛知此等心之所念,告摩訶迦葉:「是千二百阿羅漢,我今當現前次第與授阿耨多羅三藐三菩提記。於此眾中,我大弟子憍陳如比丘,當供養六萬二千億佛,然後得成為佛,號曰普明如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。其五百阿羅漢:優樓頻螺迦葉、伽耶迦葉、那提迦葉、迦留陀夷、優陀夷、阿㝹樓馱、離婆多、劫賓那、薄拘羅、周陀、莎伽陀等,皆當得阿耨多羅三藐三菩提,盡同一號,名曰普明。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời thiên nhị bách A-la-hán, tâm tự tại giả, tác thị niệm: “Ngã đẳng hoan hỷ, đắc vị tằng hữu. Nhược Thế-tôn các kiến thụ ký, như dư đại đệ tử giả, bất diệc khoái hồ!” Phật tri thử đẳng tâm chi sở niệm, cáo Ma-ha Ca-diếp: “Thị thiên nhị bách A-la-hán, ngã kim đương hiện tiền thứ đệ dữ thụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký. Ư thử chúng trung, ngã đại đệ tử kiêu trần như tỳ-kheo, đương cúng dường lục vạn nhị thiên ức Phật, nhiên hậu đắc thành vi Phật, hiệu viết phổ minh Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kỳ ngũ bách A-la-hán: Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, ca lưu đà di, ưu đà di, A-nâu-lâu-đà, ly bà đa, kiếp tân na, bạc câu la, chu đà, Sa-dà-đà đẳng, giai đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, tận đồng nhất hiệu, danh viết phổ minh.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A la hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử lớn khác thời sung sướng lắm”. Đức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với ngài đại Ca Diếp: “Một nghìn hai trăm vị A la hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trong chúng đó, đệ tử lớn của ta là Kiều Trần Như Tỳ kheo, sẽ cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Năm trăm vị A la hán: Ông Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, ông Già Da Ca Diếp, ông Na Đề Ca Diếp, ông Ca Lưu Đà Di, ông Ưu Đà Di, ông A Nâu Lâu Đà, ông Ly Bà Đa, ông Kiếp Tân Na, ông Bạc Câu La, ông Chu Đà, ông Sa Dà Đà, v.v... đều sẽ được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng một hiệu là Phổ Minh. Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「憍陳如比丘,當見無量佛,過阿僧祇劫,乃成等正覺。常放大光明,具足諸神通,名聞遍十方,一切之所敬,常說無上道,故號為普明。其國土清淨,菩薩皆勇猛,咸昇妙樓閣,遊諸十方國,以無上供具,奉獻於諸佛。作是供養已,心懷大歡喜,須臾還本國,有如是神力。佛壽六萬劫,正法住倍壽,像法復倍是,法滅天人憂。

“Kiêu trần như tỳ-kheo, đương kiến vô lượng Phật, quá a-tăng-kỳ kiếp, nãi thành đẳng chính giác. Thường phóng đại quang minh, cụ túc chư thần thông, danh văn biến thập phương, nhất thiết chi sở kính, thường thuyết vô thượng đạo, cố hiệu vi phổ minh. Kỳ quốc độ thanh tịnh, Bồ-tát giai dũng mãnh, hàm thăng diệu lâu các, du chư thập phương quốc, dĩ vô thượng cúng cụ, phụng hiến ư chư Phật. Tác thị cúng dường dĩ, tâm hoài đại hoan hỷ, tu du hoàn bản quốc, hữu như thị thần lực. Phật thọ lục vạn kiếp, chính pháp trụ bội thọ, tượng pháp phục bội thị, pháp diệt thiên nhân ưu.

Kiều Trần Như Tỳ kheo

Sẽ gặp vô lượng Phật

Qua vô số kiếp sau

Mới được thành chánh giác

Thường phóng quang minh lớn

Đầy đủ các thần thông

Danh đồn khắp mười phương

Tất cả đều tôn kính

Thường nói pháp vô thượng

Nên hiệu là Phổ Minh

Cõi nước đó thanh tịnh

Bồ Tát đều dũng mãnh

Đều lên lầu gác đẹp

Dạo các nước mười phương

Đem đồ cúng vô thượng

Hiến dâng các đức Phật

Làm việc cúng đó xong

Sanh lòng rất vui mừng

Giây lát về bổn quốc

Có sức thần như thế.

Phật thọ sáu muôn kiếp

Chánh pháp trụ bội thọ

Tượng pháp lại hơn chánh

Pháp diệt trời người lo

其五百比丘,次第當作佛,同號曰普明,轉次而授記。我滅度之後,某甲當作佛,其所化世間,亦如我今日。國土之嚴淨,及諸神通力,菩薩聲聞眾,正法及像法,壽命劫多少,皆如上所說。迦葉汝已知,五百自在者,餘諸聲聞眾,亦當復如是。其不在此會,汝當為宣說。」

Kỳ ngũ bách tỳ-kheo, thứ đệ đương tác Phật, đồng hiệu viết phổ minh, chuyển thứ nhi thụ ký. Ngã diệt độ chi hậu, mỗ giáp đương tác Phật, kỳ sở hóa thế gian, diệc như ngã kim nhật. Quốc độ chi nghiêm tịnh, cập chư thần thông lực, Bồ-tát thanh văn chúng, chính pháp cập tượng pháp, thọ mệnh kiếp đa thiểu, giai như thượng sở thuyết. Ca-diếp nhữ dĩ tri, ngũ bách tự tại giả, dư chư thanh văn chúng, diệc đương phục như thị. Kỳ bất tại thử hội, nhữ đương vi tuyên thuyết.”

Năm trăm Tỳ kheo kia

Thứ tự sẽ làm Phật

Đồng hiệu là Phổ Minh

Thứ lớp thọ ký nhau:

Sau khi ta diệt độ

Ông đó sẽ làm Phật

Thế gian của ông độ

Cũng như ta ngày nay

Cõi nước đó nghiêm sạch

Và các sức thần thông

Chúng Thanh văn Bồ Tát

Chánh pháp cùng tượng pháp

Thọ mạng kiếp nhiều ít

Đều như trên đã nói

Ca Diếp! Ông đã biết

Năm trăm vị tự tại

Các chúng Thanh văn khác

Cũng sẽ làm như thế

Vị nào vắng mặt đây

Ông nên vì tuyên nói.

爾時五百阿羅漢於佛前得受記已,歡喜踊躍,即從座起,到於佛前,頭面禮足,悔過自責:「世尊!我等常作是念,自謂已得究竟滅度,今乃知之,如無智者。所以者何?我等應得如來智慧,而便自以小智為足。「世尊!譬如有人至親友家,醉酒而臥。是時親友官事當行,以無價寶珠繫其衣裏,與之而去。其人醉臥,都不覺知。起已遊行,到於他國。為衣食故,勤力求索,甚大艱難;若少有所得,便以為足。於後親友會遇見之,而作是言:『咄哉,丈夫!何為衣食乃至如是。我昔欲令汝得安樂、五欲自恣,於某年日月,以無價寶珠繫汝衣裏。今故現在,而汝不知。勤苦憂惱,以求自活,甚為癡也。汝今可以此寶貿易所須,常可如意,無所乏短。』「佛亦如是,為菩薩時,教化我等,令發一切智心。而尋廢忘,不知不覺。既得阿羅漢道,自謂滅度,資生艱難,得少為足。一切智願,猶在不失。今者世尊覺悟我等,作如是言:『諸比丘!汝等所得,非究竟滅。我久令汝等種佛善根,以方便故,示涅槃相,而汝謂為實得滅度。』「世尊!我今乃知實是菩薩,得受阿耨多羅三藐三菩提記。以是因緣,甚大歡喜,得未曾有。」爾時阿若憍陳如等,欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời ngũ bách A-la-hán ư Phật tiền đắc thọ ký dĩ, hoan hỷ dũng dược, tức tùng tòa khởi, đáo ư Phật tiền, đầu diện lễ túc, hối quá tự trách: “Thế-tôn! Ngã đẳng thường tác thị niệm, tự vị dĩ đắc cứu cánh diệt độ, kim nãi tri chi, như vô trí giả. Sở dĩ giả hà? Ngã đẳng ưng đắc Như-lai trí tuệ, nhi tiện tự dĩ tiểu trí vi túc. “Thế-tôn! Thí như hữu nhân chí thân hữu gia, túy tửu nhi ngọa. Thị thời thân hữu quan sự đương hành, dĩ vô giá bảo châu hệ kỳ y lý, dữ chi nhi khứ. Kỳ nhân túy ngọa, đô bất giác tri. Khởi dĩ du hành, đáo ư tha quốc. Vi y thực cố, cần lực cầu sách, thậm đại gian nan; nhược thiểu hữu sở đắc, tiện dĩ vi túc. Ư hậu thân hữu hội ngộ kiến chi, nhi tác thị ngôn: ‘Đốt tai, trượng phu! Hà vi y thực nãi chí như thị. Ngã tích dục lệnh nhữ đắc an lạc, ngũ dục tự tứ, ư mỗ niên nhật nguyệt, dĩ vô giá bảo châu hệ nhữ y lý. Kim cố hiện tại, nhi nhữ bất tri. Cần khổ ưu não, dĩ cầu tự hoạt, thậm vi si dã. Nhữ kim khả dĩ thử bảo mậu dịch sở tu, thường khả như ý, vô sở phạp đoản.’ “Phật diệc như thị, vi Bồ-tát thời, giáo hóa ngã đẳng, lệnh phát nhất thiết trí tâm. Nhi tầm phế vong, bất tri bất giác. Ký đắc A-la-hán đạo, tự vị diệt độ, tư sinh gian nan, đắc thiểu vi túc. Nhất thiết trí nguyện, do tại bất thất. Kim giả Thế-tôn giác ngộ ngã đẳng, tác như thị ngôn: ‘Chư tỳ-kheo! Nhữ đẳng sở đắc, phi cứu cánh diệt. Ngã cửu lệnh nhữ đẳng chủng Phật thiện căn, dĩ phương tiện cố, thị Niết-bàn tướng, nhi nhữ vị vi thực đắc diệt độ.’ “Thế-tôn! Ngã kim nãi tri thực thị Bồ-tát, đắc thọ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký. Dĩ thị nhân duyên, thậm đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu.” Nhĩ thời a nhược kiêu trần như đẳng, dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Bấy giờ, năm trăm vị A la hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật ăn năn lỗi của mình mà tự trách: Thế Tôn! Chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí huệ của Như Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ. Thế Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho nó rồi đi. Gã đó say mèm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ. Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh này sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thật là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thì thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn. Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ Tát giáo hóa chúng con, khiến phát lòng cầu nhứt thiết trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Đã được đạo A la hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ kheo! Đạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết bàn mà các ông cho là thật được diệt độ”. Thế Tôn! Chúng con nay mới biết mình thật là Bồ Tát được thọ ký sẽ thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Bấy giờ, ông A Nhã Kiều Trần Như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「我等聞無上,安隱授記聲,歡喜未曾有,禮無量智佛。今於世尊前,自悔諸過咎,於無量佛寶,得少涅槃分,如無智愚人,便自以為足。譬如貧窮人,往至親友家,其家甚大富,具設諸餚饍,以無價寶珠,繫著內衣裏,默與而捨去,時臥不覺知。是人既已起,遊行詣他國,求衣食自濟,資生甚艱難,得少便為足,更不願好者。不覺內衣裏,有無價寶珠。與珠之親友,後見此貧人,苦切責之已,示以所繫珠。貧人見此珠,其心大歡喜,富有諸財物,五欲而自恣。我等亦如是,世尊於長夜,常愍見教化,令種無上願。我等無智故,不覺亦不知,得少涅槃分,自足不求餘。今佛覺悟我,言非實滅度,得佛無上慧,爾乃為真滅。我今從佛聞,授記莊嚴事,及轉次受決,身心遍歡喜。」

“Ngã đẳng văn vô thượng, an ẩn thụ ký thanh, hoan hỷ vị tằng hữu, lễ vô lượng trí Phật. Kim ư Thế-tôn tiền, tự hối chư quá cữu, ư vô lượng Phật bảo, đắc thiểu Niết-bàn phân, như vô trí ngu nhân, tiện tự dĩ vi túc. Thí như bần cùng nhân, vãng chí thân hữu gia, kỳ gia thậm đại phú, cụ thiết chư hào thiện, dĩ vô giá bảo châu, hệ trước nội y lý, mặc dữ nhi xả khứ, thời ngọa bất giác tri. Thị nhân ký dĩ khởi, du hành nghệ tha quốc, cầu y thực tự tế, tư sinh thậm gian nan, đắc thiểu tiện vi túc, cánh bất nguyện hảo giả. Bất giác nội y lý, hữu vô giá bảo châu. Dữ châu chi thân hữu, hậu kiến thử bần nhân, khổ thiết trách chi dĩ, thị dĩ sở hệ châu. Bần nhân kiến thử châu, kỳ tâm đại hoan hỷ, phú hữu chư tài vật, ngũ dục nhi tự tứ. Ngã đẳng diệc như thị, Thế-tôn ư trường dạ, thường mẫn kiến giáo hóa, lệnh chủng vô thượng nguyện. Ngã đẳng vô trí cố, bất giác diệc bất tri, đắc thiểu Niết-bàn phân, tự túc bất cầu dư. Kim Phật giác ngộ ngã, ngôn phi thực diệt độ, đắc Phật vô thượng tuệ, nhĩ nãi vi chân diệt. Ngã kim tùng Phật văn, thụ ký trang nghiêm sự, cập chuyển thứ thọ quyết, thân tâm biến hoan hỷ.”

Chúng con nghe vô thượng

Tiếng thọ ký an ổn

Vui mừng chưa từng có

Lạy Phật trí vô lượng.

Nay ở trước Thế Tôn

Tự hối các lỗi quấy

Trong Phật báu vô lượng

Được chút phần Niết bàn

Bèn tự cho là đủ

Như người ngu vô trí

Thí như người nghèo cùng

Qua đến nhà bạn thân

Nhà đó rất giàu lớn

Bày đủ các tiệc ngon

Đem châu báu vô giá

Cột dính trong vạt áo

Thầm cho rồi bỏ đi

Gã say nằm không hay

Sau khi gã tỉnh dậy

Dạo đi đến nước khác

Cầu ăn mặc tự sống

Nuôi sống rất khốn khổ

Được ít cho là đủ

Chẳng lại muốn đồ tốt

Chẳng biết trong vạt áo

Có châu báu vô giá

Người thân hữu cho châu

Sau gặp gã nghèo này

Khổ thiết trách gã rồi

Chỉ cho châu trong áo.

Gã nghèo thấy châu đó

Lòng gã rất vui mừng

Giàu có các của cải

Tha hồ hưởng ngũ dục.

Chúng con cũng như vậy

Thế Tôn từ lâu xưa

Thường thường giáo hóa cho

Khiến gieo nguyện vô thượng

Chúng con vì vô trí

Chẳng hay cũng chẳng biết

Được chút phần Niết bàn

Cho đủ chẳng cầu nữa.

Nay Phật giác ngộ con

Nói chẳng phải thật diệt.

Được Phật huệ vô thượng

Đó mới là thật diệt

Con nay từ Phật nghe

Thọ ký việc trang nghiêm

Cùng tuần tự thọ ký

Thân tâm khắp vui mừng.

PHẨM “THỌ HỌC VÔ HỌC NHƠN KÝ” THỨ CHÍN

妙法蓮華經授學無學人記品第九

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thụ học vô học nhân ký phẩm đệ cửu

PHẨM “THỌ HỌC VÔ HỌC NHƠN KÝ” THỨ CHÍN

爾時阿難、羅睺羅而作是念:「我等每自思惟:『設得受記,不亦快乎。』」即從座起,到於佛前,頭面禮足,俱白佛言:「世尊!我等於此亦應有分,唯有如來,我等所歸。又我等為一切世間天、人、阿修羅所見知識——阿難常為侍者,護持法藏;羅睺羅是佛之子——若佛見授阿耨多羅三藐三菩提記者,我願既滿,眾望亦足。」爾時,學、無學聲聞弟子二千人,皆從座起,偏袒右肩,到於佛前,一心合掌,瞻仰世尊,如阿難、羅睺羅所願,住立一面。

Nhĩ thời A-nan, La-hầu-la nhi tác thị niệm: “Ngã đẳng mỗi tự tư duy: ‘Thiết đắc thọ ký, bất diệc khoái hồ.’” Tức tùng tòa khởi, đáo ư Phật tiền, đầu diện lễ túc, câu bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng ư thử diệc ưng hữu phân, duy hữu Như-lai, ngã đẳng sở quy. Hựu ngã đẳng vi nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la sở kiến tri thức——A-nan thường vi thị giả, hộ trì pháp tàng; La-hầu-la thị Phật chi tử——nhược Phật kiến thụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký giả, ngã nguyện ký mãn, chúng vọng diệc túc.” Nhĩ thời, học, vô học thanh văn đệ tử nhị thiên nhân, giai tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, đáo ư Phật tiền, nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng Thế-tôn, như A-nan, La-hầu-la sở nguyện, trụ lập nhất diện.

Bấy giờ, ngài A Nan và ngài La Hầu La nghĩ như vầy: “Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm”. Liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có đức Như Lai là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, A tu la trong đời. A Nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng pháp, La Hầu La là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ”. Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc học cùng vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch vai áo bên hữu đến trước Phật chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A Nan và La Hầu La, rồi đứng qua một phía.

爾時佛告阿難:「汝於來世當得作佛,號山海慧自在通王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。當供養六十二億諸佛,護持法藏,然後得阿耨多羅三藐三菩提。教化二十千萬億恒河沙諸菩薩等,令成阿耨多羅三藐三菩提。國名常立勝幡,其土清淨,琉璃為地。劫名妙音遍滿。其佛壽命,無量千萬億阿僧祇劫,若人於千萬億無量阿僧祇劫中算數校計,不能得知。正法住世倍於壽命,像法住世復倍正法。阿難!是山海慧自在通王佛,為十方無量千萬億恒河沙等諸佛如來所共讚歎,稱其功德。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời Phật cáo A-nan: “Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệu sơn hải tuệ tự tại thông vương Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Đương cúng dường lục thập nhị ức chư Phật, hộ trì pháp tàng, nhiên hậu đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Giáo hóa nhị thập thiên vạn ức hằng hà sa chư Bồ-tát đẳng, lệnh thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Quốc danh thường lập thắng phướn, kỳ thổ thanh tịnh, lưu-ly vi địa. Kiếp danh Diệu Âm biến mãn. Kỳ Phật thọ mệnh, vô lượng thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, nhược nhân ư thiên vạn ức vô lượng a-tăng-kỳ kiếp trung toán số hiệu kế, bất năng đắc tri. Chính pháp trụ thế bội ư thọ mệnh, tượng pháp trụ thế phục bội chính pháp. A-nan! Thị sơn hải tuệ tự tại thông vương Phật, vi thập phương vô lượng thiên vạn ức hằng hà sa đẳng chư Phật Như-lai sở cộng tán thán, xưng kỳ công đức.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Bấy giờ, đức Phật bảo A Nan: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng pháp vậy sau chứng được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ Tát v.v... làm cho thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu ly, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp, nếu có người ở trong nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ kiếp tính đếm số kể chẳng có thể biết được, chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội chánh pháp. A Nan! Đức Phật Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các đức Phật Như Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của ngài. Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「我今僧中說,阿難持法者,當供養諸佛,然後成正覺,號曰:山海慧自在通王佛。其國土清淨,名常立勝幡,教化諸菩薩,其數如恒沙。佛有大威德,名聞滿十方。壽命無有量,以愍眾生故,正法倍壽命,像法復倍是。如恒河沙等、無數諸眾生,於此佛法中,種佛道因緣。」

“Ngã kim tăng trung thuyết, A-nan trì pháp giả, đương cúng dường chư Phật, nhiên hậu thành chính giác, hiệu viết: Sơn hải tuệ tự tại thông vương Phật. Kỳ quốc độ thanh tịnh, danh thường lập thắng phướn, giáo hóa chư Bồ-tát, kỳ số như hằng sa. Phật hữu đại uy đức, danh văn mãn thập phương. Thọ mệnh vô hữu lượng, dĩ mẫn chúng sinh cố, chính pháp bội thọ mệnh, tượng pháp phục bội thị. Như hằng hà sa đẳng, vô số chư chúng sinh, ư thử Phật pháp trung, chủng Phật đạo nhân duyên.”

Nay Ta nói trong Tăng

A Nan, người trì pháp

Sẽ cúng dường các Phật

Vậy sau thành chánh giác

Hiệu rằng: Sơn Hải Tuệ

Tự Tại Thông Vương Phật

Cõi nước kia thanh tịnh

Tên Thường Lập Thắng Phan

Giáo hóa các Bồ Tát

Số đông như hằng sa

Phật có oai đức lớn

Tiếng đồn khắp mười phương

Vì bởi thương chúng sanh

Nên sống lâu vô lượng

Chánh pháp bội thọ mạng

Tượng pháp lại bội chánh

Vô số hàng chúng sanh

Đông như cát sông Hằng

Ở trong pháp Phật đó Gieo nhân duyên Phật đạo.

爾時會中新發意菩薩八千人,咸作是念:「我等尚不聞諸大菩薩得如是記,有何因緣而諸聲聞得如是決?」爾時世尊知諸菩薩心之所念,而告之曰:「諸善男子!我與阿難等,於空王佛所,同時發阿耨多羅三藐三菩提心。阿難常樂多聞,我常勤精進,是故我已得成阿耨多羅三藐三菩提,而阿難護持我法,亦護將來諸佛法藏,教化成就諸菩薩眾,其本願如是,故獲斯記。」阿難面於佛前,自聞授記及國土莊嚴,所願具足,心大歡喜,得未曾有。即時憶念過去無量千萬億諸佛法藏,通達無礙,如今所聞,亦識本願。爾時阿難而說偈言:「世尊甚希有,令我念過去,無量諸佛法,如今日所聞。我今無復疑,安住於佛道,方便為侍者,護持諸佛法。」

Nhĩ thời hội trung tân phát ý Bồ-tát bát thiên nhân, hàm tác thị niệm: “Ngã đẳng thượng bất văn chư đại Bồ-tát đắc như thị ký, hữu hà nhân duyên nhi chư thanh văn đắc như thị quyết?” Nhĩ thời Thế-tôn tri chư Bồ-tát tâm chi sở niệm, nhi cáo chi viết: “Chư thiện nam tử! Ngã dữ A-nan đẳng, ư không vương Phật sở, đồng thời phát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm. A-nan thường nhạo đa văn, ngã thường cần tinh tiến, thị cố ngã dĩ đắc thành a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nhi A-nan hộ trì ngã pháp, diệc hộ tương lai chư Phật pháp tàng, giáo hóa thành tựu chư Bồ-tát chúng, kỳ bản nguyện như thị, cố hoạch tư ký.” A-nan diện ư Phật tiền, tự văn thụ ký cập quốc độ trang nghiêm, sở nguyện cụ túc, tâm đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu. Tức thời ức niệm quá khứ vô lượng thiên vạn ức chư Phật pháp tàng, thông đạt vô ngại, như kim sở văn, diệc thức bản nguyện. Nhĩ thời A-nan nhi thuyết kệ ngôn: “Thế-tôn thậm hy hữu, lệnh ngã niệm quá khứ, vô lượng chư Phật pháp, như kim nhật sở văn. Ngã kim vô phục nghi, an trụ ư Phật đạo, phương tiện vi thị giả, hộ trì chư Phật pháp.”

Bấy giờ, trong hội hàng Bồ Tát mới phát tâm, tám nghìn người, đều nghĩ thế này: “Chúng ta còn chưa nghe

các vị Bồ Tát lớn

được thọ ký như thế,

có nhân duyên gì mà

các Thanh văn được thọ

ký như thế”. Lúc ấy,

đức Thế Tôn biết tâm

niệm của các vị Bồ Tát mà bảo rằng: “Các Thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A Nan ở chỗ đức Phật Không Vương đồng thời phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. A Nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành vô thượng chánh đẳng chánh giác mà A Nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ Tát. Bổn nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy”. Ngài A Nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng pháp của vô lượng nghìn muôn ức các đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bổn nguyện. Khi đó, ngài A Nan nói kệ rằng: Thế Tôn rất ít có Khiến con nhớ quá khứ Vô lượng các Phật Pháp Như chỗ nghe ngày nay Con nay không còn nghi An trụ trong Phật đạo Phương tiện làm thị giả Hộ trì các Phật Pháp.

爾時佛告羅睺羅:「汝於來世當得作佛,號蹈七寶華如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。當供養十世界微塵等數諸佛如來,常為諸佛而作長子,猶如今也。是蹈七寶華佛,國土莊嚴,壽命劫數,所化弟子,正法、像法,亦如山海慧自在通王如來無異,亦為此佛而作長子。過是已後,當得阿耨多羅三藐三菩提。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:「我為太子時,羅睺為長子,我今成佛道,受法為法子。於未來世中,見無量億佛,皆為其長子,一心求佛道。羅睺羅密行,唯我能知之,現為我長子,以示諸眾生。無量億千萬,功德不可數,安住於佛法,以求無上道。」

Nhĩ thời Phật cáo La-hầu-la: “Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệu đạo thất bảo hoa Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Đương cúng dường thập thế giới vi trần đẳng số chư Phật Như-lai, thường vi chư Phật nhi tác trường tử, do như kim dã. Thị đạo thất bảo hoa Phật, quốc độ trang nghiêm, thọ mệnh kiếp số, sở hóa đệ tử, chính pháp, tượng pháp, diệc như sơn hải tuệ tự tại thông vương Như-lai vô dị, diệc vi thử Phật nhi tác trường tử. Quá thị dĩ hậu, đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “Ngã vi thái tử thời, La-hầu vi trường tử, ngã kim thành Phật đạo, thọ pháp vi pháp tử. Ư vị lai thế trung, kiến vô lượng ức Phật, giai vi kỳ trường tử, nhất tâm cầu Phật đạo. La-hầu-la mật hành, duy ngã năng tri chi, hiện vi ngã trường tử, dĩ thị chư chúng sinh. Vô lượng ức thiên vạn, công đức bất khả số, an trụ ư Phật pháp, dĩ cầu vô thượng đạo.”

Bấy giờ, Phật bảo ông La Hầu La: Ông ở đời sau sẽ

được làm Phật hiệu: Đạo

Thất Bảo Hoa, Như Lai,

Ứng cúng, Chánh biến tri,

Minh hạnh túc, Thiện thệ,

Thế gian giải, Vô thượng

sĩ, Điều ngự trượng phu,

Thiên nhân sư, Phật Thế

Tôn. Ông sẽ cúng dường

các đức Phật Như Lai

như số vi trần trong

mười thế giới. Thường vì

các đức Phật mà làm

trưởng tử, cũng như hiện

nay. Đức Phật Đạo Thất

Bảo Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như đức Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Lúc ta làm Thái tử La Hầu làm trưởng tử. Ta nay thành Phật đạo Thọ pháp làm Pháp tử. Ở trong đời vị lai Gặp vô lượng ức Phật Làm trưởng tử cho kia Một lòng cầu Phật đạo. Hạnh kín của La Hầu Chỉ ta biết được thôi Hiện làm con cả ta Để chỉ các chúng sanh Vô lượng ức nghìn muôn Công đức không thể đếm An trụ trong Phật pháp Để cầu đạo vô thượng.

爾時世尊見學、無學二千人,其意柔軟,寂然清淨,一心觀佛。佛告阿難:「汝見是學、無學二千人不?」「唯然,已見。」「阿難!是諸人等,當供養五十世界微塵數諸佛如來,恭敬尊重,護持法藏。末後同時於十方國各得成佛,皆同一號,名曰寶相如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。壽命一劫。國土莊嚴,聲聞、菩薩,正法、像法、皆悉同等。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:「是二千聲聞,今於我前住,悉皆與授記,未來當成佛。所供養諸佛,如上說塵數,護持其法藏,後當成正覺。各於十方國,悉同一名號,俱時坐道場,以證無上慧,皆名為寶相。國土及弟子,正法與像法,悉等無有異。咸以諸神通,度十方眾生,名聞普周遍,漸入於涅槃。」爾時學、無學二千人,聞佛授記,歡喜踊躍,而說偈言:「世尊慧燈明,我聞授記音,心歡喜充滿,如甘露見灌。」

Nhĩ thời Thế-tôn kiến học, vô học nhị thiên nhân, kỳ ý nhu nhuyễn, tịch nhiên thanh tịnh, nhất tâm quán Phật. Phật cáo A-nan: “Nhữ kiến thị học, vô học nhị thiên nhân phủ?” “Duy nhiên, dĩ kiến.” “A-nan! Thị chư nhân đẳng, đương cúng dường ngũ thập thế giới vi trần số chư Phật Như-lai, cung kính tôn trọng, hộ trì pháp tàng. Mạt hậu đồng thời ư thập phương quốc các đắc thành Phật, giai đồng nhất hiệu, danh viết bảo tướng Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Thọ mệnh nhất kiếp. Quốc độ trang nghiêm, thanh văn, Bồ-tát, chính pháp, tượng pháp, giai tất đồng đẳng.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn: “Thị nhị thiên thanh văn, kim ư ngã tiền trụ, tất giai dữ thụ ký, vị lai đương thành Phật. Sở cúng dường chư Phật, như thượng thuyết trần số, hộ trì kỳ pháp tàng, hậu đương thành chính giác. Các ư thập phương quốc, tất đồng nhất danh hiệu, câu thời tọa đạo tràng, dĩ chứng vô thượng tuệ, giai danh vi bảo tướng. Quốc độ cập đệ tử, chính pháp dữ tượng pháp, tất đẳng vô hữu dị. Hàm dĩ chư thần thông, độ thập phương chúng sinh, danh văn phổ chu biến, tiệm nhập ư Niết-bàn.” Nhĩ thời học, vô học nhị thiên nhân, văn Phật thụ ký, hoan hỷ dũng dược, nhi thuyết kệ ngôn: “Thế-tôn tuệ đăng minh, ngã văn thụ ký âm, tâm hoan hỷ sung mãn, như cam lộ kiến quán.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn thấy bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật, Phật bảo A Nan: “Ông thấy bậc hữu học

vô học nghìn người đây

chăng?” - Vâng! Con đã

thấy. - A Nan! Các

người sẽ cúng dường các

đức Như Lai như số

vi trần trong năm mươi

thế giới, cung kính tôn

trọng hộ trì pháp tạng.

Rốt sau đồng thời ở

cõi nước trong mười phương

đều được thành Phật, đều

đồng một hiệu là Bảo

Tướng Như Lai, Ứng cúng,

Chánh biến tri, Minh hạnh

túc, Thiện thệ, Thế gian

giải, Vô thượng sĩ, Điều

ngự trượng phu, Thiên nhân

sư, Phật Thế Tôn, sống

lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ Tát, chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Hai nghìn Thanh văn đây

Nay đứng ở trước ta

Thảy đều thọ ký cho

Đời sau sẽ thành Phật Cúng dường các đức Phật Như số trần nói trên. Hộ trì tạng pháp Phật Sau sẽ thành Chánh giác Đều ở nơi mười phương Thảy đồng một danh hiệu Đồng thời ngồi đạo tràng Để chứng huệ vô thượng Đều hiệu là Bảo Tướng Cõi nước cùng đệ tử Chánh pháp và tượng pháp Thảy đều không có khác. Đều dùng các thần thông Độ mười phương chúng sanh Tiếng đồn vang khắp cùng Lần nhập vào Niết bàn. Lúc đó, bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng: Thế Tôn đèn tuệ sáng Con nghe tiếng thọ ký Lòng vui mừng đầy đủ Như được rưới cam lộ.

PHẨM “PHÁP SƯ” THỨ MƯỜI

妙法蓮華經法師品第十

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh pháp sư phẩm đệ thập

PHẨM “PHÁP SƯ” THỨ MƯỜI

爾時世尊因藥王菩薩,告八萬大士:「藥王!汝見是大眾中,無量諸天、龍王、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人與非人,及比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,求聲聞者、求辟支佛者、求佛道者,如是等類,咸於佛前,聞妙法華經一偈一句,乃至一念隨喜者,我皆與授記,當得阿耨多羅三藐三菩提。」佛告藥王:「又如來滅度之後,若有人聞妙法華經,乃至一偈一句,一念隨喜者,我亦與授阿耨多羅三藐三菩提記。若復有人受持、讀誦、解說、書寫妙法華經,乃至一偈,於此經卷敬視如佛,種種供養——華、香、瓔珞、末香、塗香、燒香,繒蓋、幢幡、衣服、伎樂,乃至合掌恭敬。藥王!當知是諸人等已曾供養十萬億佛,於諸佛所成就大願,愍眾生故,生此人間。「藥王!若有人問:『何等眾生於未來世當得作佛?』應示:『是諸人等於未來世必得作佛。』何以故?若善男子、善女人,於法華經,乃至一句,受持、讀誦、解說、書寫,種種供養經卷——華、香、瓔珞、末香、塗香、燒香、繒蓋、幢幡、衣服、伎樂,合掌恭敬;是人,一切世間所應瞻奉,應以如來供養而供養之。當知此人是大菩薩,成就阿耨多羅三藐三菩提,哀愍眾生,願生此間,廣演分別妙法華經。何況盡能受持、種種供養者?「藥王!當知是人自捨清淨業報,於我滅度後,愍眾生故,生於惡世,廣演此經。若是善男子、善女人,我滅度後,能竊為一人說法華經,乃至一句;當知是人則如來使,如來所遣,行如來事。何況於大眾中廣為人說?「藥王!若有惡人,以不善心,於一劫中現於佛前,常毀罵佛,其罪尚輕;若人以一惡言,毀呰在家、出家讀誦法華經者,其罪甚重。「藥王!其有讀誦法華經者,當知是人以佛莊嚴而自莊嚴,則為如來肩所荷擔。其所至方,應隨向禮,一心合掌,恭敬供養,尊重讚歎,華、香、瓔珞,末香、塗香、燒香,繒蓋、幢幡,衣服、餚饌,作諸伎樂,人中上供,而供養之,應持天寶而以散之,天上寶聚應以奉獻。所以者何?是人歡喜說法,須臾聞之,即得究竟阿耨多羅三藐三菩提故。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời Thế-tôn nhân dược vương Bồ-tát, cáo bát vạn đại sĩ: “Dược vương! Nhữ kiến thị đại chúng trung, vô lượng chư thiên, long vương, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân dữ phi nhân, cập tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cầu thanh văn giả, cầu Bích-chi Phật giả, cầu Phật đạo giả, như thị đẳng loại, hàm ư Phật tiền, văn diệu pháp hoa kinh nhất kệ nhất cú, nãi chí nhất niệm tùy hỷ giả, ngã giai dữ thụ ký, đương đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.” Phật cáo dược vương: “Hựu Như-lai diệt độ chi hậu, nhược hữu nhân văn diệu pháp hoa kinh, nãi chí nhất kệ nhất cú, nhất niệm tùy hỷ giả, ngã diệc dữ thụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký. Nhược phục hữu nhân thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả diệu pháp hoa kinh, nãi chí nhất kệ, ư thử kinh quyển kính thị như Phật, chủng chủng cúng dường——hoa, hương, anh lạc, mạt hương, đồ hương, thiêu hương, tăng cái, tràng phướn, y phục, kỹ nhạc, nãi chí hợp chưởng cung kính. Dược vương! Đương tri thị chư nhân đẳng dĩ tằng cúng dường thập vạn ức Phật, ư chư Phật sở thành tựu đại nguyện, mẫn chúng sinh cố, sinh thử nhân gian. “Dược vương! Nhược hữu nhân vấn: ‘Hà đẳng chúng sinh ư vị lai thế đương đắc tác Phật?’ Ưng thị: ‘Thị chư nhân đẳng ư vị lai thế tất đắc tác Phật.’ Hà dĩ cố? Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư pháp hoa kinh, nãi chí nhất cú, thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả, chủng chủng cúng dường kinh quyển——hoa, hương, anh lạc, mạt hương, đồ hương, thiêu hương, tăng cái, tràng phướn, y phục, kỹ nhạc, hợp chưởng cung kính; thị nhân, nhất thiết thế gian sở ưng chiêm phụng, ưng dĩ Như-lai cúng dường nhi cúng dường chi. Đương tri thử nhân thị đại Bồ-tát, thành tựu a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ai mẫn chúng sinh, nguyện sinh thử gian, quảng diễn phân biệt diệu pháp hoa kinh. Hà huống tận năng thọ trì, chủng chủng cúng dường giả? “Dược vương! Đương tri thị nhân tự xả thanh tịnh nghiệp báo, ư ngã diệt độ hậu, mẫn chúng sinh cố, sinh ư ác thế, quảng diễn thử kinh. Nhược thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngã diệt độ hậu, năng thiết vi nhất nhân thuyết pháp hoa kinh, nãi chí nhất cú; đương tri thị nhân tắc Như-lai sử, Như-lai sở khiển, hành Như-lai sự. Hà huống ư đại chúng trung quảng vi nhân thuyết? “Dược vương! Nhược hữu ác nhân, dĩ bất thiện tâm, ư nhất kiếp trung hiện ư Phật tiền, thường hủy mạ Phật, kỳ tội thượng khinh; nhược nhân dĩ nhất ác ngôn, hủy tử tại gia, xuất gia độc tụng pháp hoa kinh giả, kỳ tội thậm trọng. “Dược vương! Kỳ hữu độc tụng pháp hoa kinh giả, đương tri thị nhân dĩ Phật trang nghiêm nhi tự trang nghiêm, tắc vi Như-lai kiên sở hà đảm. Kỳ sở chí phương, ưng tùy hướng lễ, nhất tâm hợp chưởng, cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, hoa, hương, anh lạc, mạt hương, đồ hương, thiêu hương, tăng cái, tràng phướn, y phục, hào soạn, tác chư kỹ nhạc, nhân trung thượng cúng, nhi cúng dường chi, ưng trì thiên bảo nhi dĩ tán chi, thiên thượng bảo tụ ưng dĩ phụng hiến. Sở dĩ giả hà? Thị nhân hoan hỷ thuyết pháp, tu du văn chi, tức đắc cứu cánh a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề cố.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ Tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng: “Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư Thiên, Long vương, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn, và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ một câu nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Phật bảo Dược Vương: “Lại sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ một câu một niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký cho đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nếu lại có người thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường, hoa, hương, chuỗi ngọc hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chắp tay cung kính. Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian. Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật. Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc chắp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như lai mà cúng đó. Phải biết người đó là Bồ Tát lớn thành xong đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì thương xót chúng sanh mà nguyện sanh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường. Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh sau khi ta diệt độ vì thương chúng sanh mà sanh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ của Như Lai, đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói. Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng. Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ ngon, trổi các thứ kỹ nhạc, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm hoa báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó. Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo vô thượng chánh đẳng chánh giác vậy. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「若欲住佛道,成就自然智,常當勤供養,受持法華者。其有欲疾得,一切種智慧,當受持是經,并供養持者。若有能受持,妙法華經者,當知佛所使,愍念諸眾生。諸有能受持,妙法華經者,捨於清淨土,愍眾故生此。當知如是人,自在所欲生,能於此惡世,廣說無上法。應以天華香,及天寶衣服,天上妙寶聚,供養說法者。吾滅後惡世,能持是經者,當合掌禮敬,如供養世尊。上饌眾甘美,及種種衣服,供養是佛子,冀得須臾聞。若能於後世,受持是經者,我遣在人中,行於如來事。若於一劫中,常懷不善心,作色而罵佛,獲無量重罪。其有讀誦持,是法華經者,須臾加惡言,其罪復過彼。有人求佛道,而於一劫中,合掌在我前,以無數偈讚。由是讚佛故,得無量功德,歎美持經者,其福復過彼。於八十億劫,以最妙色聲,及與香味觸,供養持經者。如是供養已,若得須臾聞,則應自欣慶,我今獲大利。藥王今告汝,我所說諸經,而於此經中,法華最第一。」

“Nhược dục trụ Phật đạo, thành tựu tự nhiên trí, thường đương cần cúng dường, thọ trì pháp hoa giả. Kỳ hữu dục tật đắc, nhất thiết chủng trí tuệ, đương thọ trì thị kinh, tinh cúng dường trì giả. Nhược hữu năng thọ trì, diệu pháp hoa kinh giả, đương tri Phật sở sử, mẫn niệm chư chúng sinh. Chư hữu năng thọ trì, diệu pháp hoa kinh giả, xả ư thanh tịnh thổ, mẫn chúng cố sinh thử. Đương tri như thị nhân, tự tại sở dục sinh, năng ư thử ác thế, quảng thuyết vô thượng pháp. Ưng dĩ thiên hoa hương, cập thiên bảo y phục, thiên thượng diệu bảo tụ, cúng dường thuyết pháp giả. Ngô diệt hậu ác thế, năng trì thị kinh giả, đương hợp chưởng lễ kính, như cúng dường Thế-tôn. Thượng soạn chúng cam mỹ, cập chủng chủng y phục, cúng dường thị Phật tử, ký đắc tu du văn. Nhược năng ư hậu thế, thọ trì thị kinh giả, ngã khiển tại nhân trung, hành ư Như-lai sự. Nhược ư nhất kiếp trung, thường hoài bất thiện tâm, tác sắc nhi mạ Phật, hoạch vô lượng trọng tội. Kỳ hữu độc tụng trì, thị pháp hoa kinh giả, tu du gia ác ngôn, kỳ tội phục quá bỉ. Hữu nhân cầu Phật đạo, nhi ư nhất kiếp trung, hợp chưởng tại ngã tiền, dĩ vô số kệ tán. Do thị tán Phật cố, đắc vô lượng công đức, thán mỹ trì kinh giả, kỳ phúc phục quá bỉ. Ư bát thập ức kiếp, dĩ tối diệu sắc thanh, cập dữ hương vị xúc, cúng dường trì kinh giả. Như thị cúng dường dĩ, nhược đắc tu du văn, tắc ưng tự hân khánh, ngã kim hoạch đại lợi. Dược vương kim cáo nhữ, ngã sở thuyết chư kinh, nhi ư thử kinh trung, pháp hoa tối đệ nhất.”

Nếu muốn trụ Phật đạo

Thành tựu trí tự nhiên

Thường phải siêng cúng dường

Người Thọ trì Pháp Hoa.

Có ai muốn mau được

Nhứt thiết chủng trí huệ

Nên thọ trì kinh này

Và cúng dường người trì.

Nếu người hay thọ trì

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Nên biết là sứ Phật

Thương nhớ các chúng sanh

Những người hay thọ trì

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Xa bỏ cõi thanh tịnh

Thương chúng nên sanh đây

Phải biết người như thế

Chỗ muốn sanh tự tại

Ở nơi đời ác này

Rộng nói pháp vô thượng,

Nên đem hoa, hương trời

Và y phục, báu trời

Đống báu tốt trên trời

Cúng dường người nói pháp

Đời ác, sau ta diệt

Người hay trì kinh này

Phải chắp tay lễ kính

Như cúng dường Thế Tôn,

Đồ ngon ngọt bậc thượng

Và các món y phục

Cúng dường Phật tử đó

Mong được giây lát nghe.

Nếu người ở đời sau

Hay thọ trì kinh này

Ta khiến ở trong người

Làm việc của Như Lai.

Nếu ở trong một kiếp

Thường ôm lòng chẳng lành

Đỏ mặt mà mắng Phật

Mắc vô lượng tội nặng

Có người đọc tụng trì

Kinh Diệu Pháp Hoa này

Giây lát dùng lời mắng

Tội đây lại hơn kia.

Có người cầu Phật đạo

Mà ở trong một kiếp

Chắp tay ở trước ta

Dùng vô số kệ khen

Do vì khen Phật vậy

Được vô lượng công đức.

Khen ngợi người trì kinh

Phước đây lại hơn kia.

Trong tám mươi ức kiếp

Dùng sắc thanh tối diệu

Và cùng hương, vị, xúc

Cúng dường người trì kinh

Cúng dường như thế rồi

Mà được chốc lát nghe

Thời nên tự mừng vui

Nay ta được lợi lớn

Dược Vương! Nay bảo ông

Các kinh của ta nói

Mà ở trong kinh đó

Pháp Hoa tột thứ nhất.

爾時佛復告藥王菩薩摩訶薩:「我所說經典無量千萬億,已說、今說、當說,而於其中,此法華經最為難信難解。「藥王!此經是諸佛祕要之藏,不可分布妄授與人;諸佛世尊之所守護,從昔已來,未曾顯說。而此經者,如來現在,猶多怨嫉,況滅度後?「藥王!當知如來滅後,其能書、持、讀、誦、供養、為他人說者,如來則為以衣覆之,又為他方現在諸佛之所護念。是人有大信力,及志願力、諸善根力。當知是人與如來共宿,則為如來手摩其頭。

Nhĩ thời Phật phục cáo dược vương Bồ-tát Ma-ha tát: “Ngã sở thuyết kinh điển vô lượng thiên vạn ức, dĩ thuyết, kim thuyết, đương thuyết, nhi ư kỳ trung, thử pháp hoa kinh tối vi nan tín nan giải. “Dược vương! Thử kinh thị chư Phật bí yếu chi tàng, bất khả phân bố vọng thụ dữ nhân; chư Phật Thế-tôn chi sở thủ hộ, tùng tích dĩ lai, vị tằng hiển thuyết. Nhi thử kinh giả, Như-lai hiện tại, do đa oán tật, huống diệt độ hậu? “Dược vương! Đương tri Như-lai diệt hậu, kỳ năng thư, trì, độc, tụng, cúng dường, vi tha nhân thuyết giả, Như-lai tắc vi dĩ y phúc chi, hựu vi tha phương hiện tại chư Phật chi sở hộ niệm. Thị nhân hữu đại tín lực, cập chí nguyện lực, chư thiện căn lực. Đương tri thị nhân dữ Như-lai cộng túc, tắc vi Như-lai thủ ma kỳ đầu.

Lúc bấy giờ, Phật lại bảo ngài Dược Vương Đại Bồ Tát: “Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin khó hiểu. Dược Vương! kinh này là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ. Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người đó có sức tin lớn và sức chí nguyện, các sức căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được đức Như Lai lấy tay xoa đầu.

「藥王!在在處處,若說、若讀、若誦、若書,若經卷所住處,皆應起七寶塔,極令高廣嚴飾,不須復安舍利。所以者何?此中已有如來全身。此塔,應以一切華、香、瓔珞,繒蓋、幢幡,伎樂、歌頌,供養恭敬,尊重讚歎。若有人得見此塔,禮拜、供養,當知是等皆近阿耨多羅三藐三菩提。「藥王!多有人在家、出家行菩薩道,若不能得見聞、讀誦、書持、供養是法華經者,當知是人未善行菩薩道;若有得聞是經典者,乃能善行菩薩之道。其有眾生求佛道者,若見、若聞是法華經,聞已信解受持者,當知是人得近阿耨多羅三藐三菩提。「藥王!譬如有人渴乏須水,於彼高原穿鑿求之,猶見乾土,知水尚遠;施功不已,轉見濕土,遂漸至泥,其心決定、知水必近。菩薩亦復如是,若未聞、未解、未能修習是法華經者,當知是人去阿耨多羅三藐三菩提尚遠;若得聞解、思惟、修習,必知得近阿耨多羅三藐三菩提。所以者何?一切菩薩阿耨多羅三藐三菩提,皆屬此經——此經開方便門,示真實相。是法華經藏,深固幽遠,無人能到,今佛教化成就菩薩而為開示。「藥王!若有菩薩聞是法華經,驚疑、怖畏,當知是為新發意菩薩;若聲聞人聞是經,驚疑、怖畏,當知是為增上慢者。

“Dược vương! Tại tại xứ xứ, nhược thuyết, nhược độc, nhược tụng, nhược thư, nhược kinh quyển sở trụ xứ, giai ưng khởi thất bảo tháp, cực lệnh cao quảng nghiêm sức, bất tu phục an xá-lợi. Sở dĩ giả hà? Thử trung dĩ hữu Như-lai toàn thân. Thử tháp, ưng dĩ nhất thiết hoa, hương, anh lạc, tăng cái, tràng phướn, kỹ nhạc, ca tụng, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán. Nhược hữu nhân đắc kiến thử tháp, lễ bái, cúng dường, đương tri thị đẳng giai cận a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. “Dược vương! Đa hữu nhân tại gia, xuất gia hành Bồ-tát đạo, nhược bất năng đắc kiến văn, độc tụng, thư trì, cúng dường thị pháp hoa kinh giả, đương tri thị nhân vị thiện hành Bồ-tát đạo; nhược hữu đắc văn thị kinh điển giả, nãi năng thiện hành Bồ-tát chi đạo. Kỳ hữu chúng sinh cầu Phật đạo giả, nhược kiến, nhược văn thị pháp hoa kinh, văn dĩ tín giải thọ trì giả, đương tri thị nhân đắc cận a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. “Dược vương! Thí như hữu nhân khát phạp tu thủy, ư bỉ cao nguyên xuyên tạc cầu chi, do kiến can thổ, tri thủy thượng viễn; thi công bất dĩ, chuyển kiến thấp thổ, toại tiệm chí nê, kỳ tâm quyết định, tri thủy tất cận. Bồ-tát diệc phục như thị, nhược vị văn, vị giải, vị năng tu tập thị pháp hoa kinh giả, đương tri thị nhân khứ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thượng viễn; nhược đắc văn giải, tư duy, tu tập, tất tri đắc cận a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết Bồ-tát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, giai thuộc thử kinh——thử kinh khai phương tiện môn, thị chân thực tướng. Thị pháp hoa kinh tàng, thâm cố u viễn, vô nhân năng đáo, kim Phật giáo hóa thành tựu Bồ-tát nhi vi khai thị. “Dược vương! Nhược hữu Bồ-tát văn thị pháp hoa kinh, kinh nghi, bố úy, đương tri thị vi tân phát ý Bồ-tát; nhược thanh văn nhân văn thị kinh, kinh nghi, bố úy, đương tri thị vi tăng thượng mạn giả.

Dược Vương! Nơi nơi, chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, lọng lụa, tràng phan, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được pháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia cùng xuất gia làm đạo Bồ Tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ Tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là hay khéo tu đạo Bồ Tát. Có chúng sanh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia xoi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần. Bồ Tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác còn xa. Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì sao? Vì đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác của Bồ Tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thật. Tạng kinh Pháp Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ Tát mà chỉ bày cho. Dược Vương! Nếu có Bồ Tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ Tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hàng tăng thượng mạn. (7)

「藥王!若有善男子、善女人,如來滅後,欲為四眾說是法華經者,云何應說?是善男子、善女人,入如來室,著如來衣,坐如來座,爾乃應為四眾廣說斯經。如來室者,一切眾生中大慈悲心是;如來衣者,柔和忍辱心是;如來座者,一切法空是。安住是中,然後以不懈怠心,為諸菩薩及四眾廣說是法華經。「藥王!我於餘國遣化人為其集聽法眾,亦遣化比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷聽其說法。是諸化人聞法信受,隨順不逆。若說法者在空閑處,我時廣遣天、龍、鬼神、乾闥婆、阿修羅等,聽其說法。我雖在異國,時時令說法者得見我身。若於此經忘失句逗,我還為說,令得具足。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

“Dược vương! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, Như-lai diệt hậu, dục vi tứ chúng thuyết thị pháp hoa kinh giả, vân hà ưng thuyết? Thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhập Như-lai thất, trước Như-lai y, tọa Như-lai tòa, nhĩ nãi ưng vi tứ chúng quảng thuyết tư kinh. Như-lai thất giả, nhất thiết chúng sinh trung đại từ bi tâm thị; Như-lai y giả, nhu hòa nhẫn nhục tâm thị; Như-lai tòa giả, nhất thiết pháp không thị. An trụ thị trung, nhiên hậu dĩ bất giải đãi tâm, vi chư Bồ-tát cập tứ chúng quảng thuyết thị pháp hoa kinh. “Dược vương! Ngã ư dư quốc khiển hóa nhân vi kỳ tập thính pháp chúng, diệc khiển hóa tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thính kỳ thuyết pháp. Thị chư hóa nhân văn pháp tín thọ, tùy thuận bất nghịch. Nhược thuyết pháp giả tại không nhàn xứ, ngã thời quảng khiển thiên, long, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la đẳng, thính kỳ thuyết pháp. Ngã tuy tại dị quốc, thời thời lệnh thuyết pháp giả đắc kiến ngã thân. Nhược ư thử kinh vong thất cú đậu, ngã hoàn vi thuyết, lệnh đắc cụ túc.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này. Nhà Như Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sanh, y Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là nhứt thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ Tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này. Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhơn làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóa Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, ta liền sai nhiều trời, rồng, quỷ, thần, Càn thát bà, A tu la v.v... nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong kinh này quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「欲捨諸懈怠,應當聽此經,是經難得聞,信受者亦難。如人渴須水,穿鑿於高原,猶見乾燥土,知去水尚遠;漸見濕土泥,決定知近水。藥王汝當知!如是諸人等,不聞法華經,去佛智甚遠,若聞是深經,決了聲聞法。是諸經之王,聞已諦思惟,當知此人等,近於佛智慧。若人說此經,應入如來室,著於如來衣,而坐如來座,處眾無所畏,廣為分別說。大慈悲為室,柔和忍辱衣,諸法空為座,處此為說法。若說此經時,有人惡口罵,加刀杖瓦石,念佛故應忍。我千萬億土,現淨堅固身,於無量億劫,為眾生說法。若我滅度後,能說此經者,我遣化四眾,比丘比丘尼,及清信士女,供養於法師,引導諸眾生,集之令聽法。若人欲加惡,刀杖及瓦石,則遣變化人,為之作衛護。若說法之人,獨在空閑處,寂寞無人聲,讀誦此經典,我爾時為現,清淨光明身。若忘失章句,為說令通利。若人具是德,或為四眾說,空處讀誦經,皆得見我身。若人在空閑,我遣天龍王,夜叉鬼神等,為作聽法眾。是人樂說法,分別無罣礙,諸佛護念故,能令大眾喜。若親近法師,速得菩薩道,隨順是師學,得見恒沙佛。」

“Dục xả chư giải đãi, ưng đương thính thử kinh, thị kinh nan đắc văn, tín thọ giả diệc nan. Như nhân khát tu thủy, xuyên tạc ư cao nguyên, do kiến can táo thổ, tri khứ thủy thượng viễn; tiệm kiến thấp thổ nê, quyết định tri cận thủy. Dược vương nhữ đương tri! Như thị chư nhân đẳng, bất văn pháp hoa kinh, khứ Phật trí thậm viễn, nhược văn thị thâm kinh, quyết liễu thanh văn pháp. Thị chư kinh chi vương, văn dĩ đế tư duy, đương tri thử nhân đẳng, cận ư Phật trí tuệ. Nhược nhân thuyết thử kinh, ưng nhập Như-lai thất, trước ư Như-lai y, nhi tọa Như-lai tòa, xứ chúng vô sở úy, quảng vi phân biệt thuyết. Đại từ bi vi thất, nhu hòa nhẫn nhục y, chư pháp không vi tòa, xứ thử vi thuyết pháp. Nhược thuyết thử kinh thời, hữu nhân ác khẩu mạ, gia đao trượng ngõa thạch, niệm Phật cố ưng nhẫn. Ngã thiên vạn ức thổ, hiện tịnh kiên cố thân, ư vô lượng ức kiếp, vi chúng sinh thuyết pháp. Nhược ngã diệt độ hậu, năng thuyết thử kinh giả, ngã khiển hóa tứ chúng, tỳ-kheo tỳ-kheo ni, cập thanh tín sĩ nữ, cúng dường ư pháp sư, dẫn đạo chư chúng sinh, tập chi lệnh thính pháp. Nhược nhân dục gia ác, đao trượng cập ngõa thạch, tắc khiển biến hóa nhân, vi chi tác vệ hộ. Nhược thuyết pháp chi nhân, độc tại không nhàn xứ, tịch mịch vô nhân thanh, độc tụng thử kinh điển, ngã nhĩ thời vi hiện, thanh tịnh quang minh thân. Nhược vong thất chương cú, vi thuyết lệnh thông lợi. Nhược nhân cụ thị đức, hoặc vi tứ chúng thuyết, không xứ độc tụng kinh, giai đắc kiến ngã thân. Nhược nhân tại không nhàn, ngã khiển thiên long vương, dạ-xoa quỷ thần đẳng, vi tác thính pháp chúng. Thị nhân nhạo thuyết pháp, phân biệt vô quái ngại, chư Phật hộ niệm cố, năng lệnh đại chúng hỷ. Nhược thân cận pháp sư, tốc đắc Bồ-tát đạo, tùy thuận thị sư học, đắc kiến hằng sa Phật.”

Muốn bỏ tánh biếng lười

Nên phải nghe kinh này

Kinh này khó được nghe

Người tin nhận cũng khó.

Như người khát cần nước

Xoi đào nơi gò cao

Vẫn thấy đất khô ráo

Biết cách nước còn xa

Lần thấy đất ướt bùn

Quyết chắc biết gần nước

Dược Vương! Ông nên biết

Các người như thế đó

Chẳng nghe kinh Pháp Hoa

Cách trí Phật rất xa,

Nếu nghe kinh sâu này

Quyết rõ pháp Thanh văn

Đây là vua các kinh

Nghe xong suy gẫm kỹ

Phải biết rằng người đó

Gần nơi trí huệ Phật.

Nếu người nói kinh này

Nên vào nhà Như Lai

Mặc y của Như Lai

Mà ngồi tòa Như Lai

Ở trong chúng không sợ

Rộng vì người giải nói,

Từ bi lớn làm nhà

Ý nhu hòa nhẫn nhục

Các pháp không làm tòa

Ở đó vì người nói.

Nếu lúc nói kinh này

Có người lời ác mắng

Dao, gậy, ngói, đá đánh

Nhớ Phật nên phải nhịn.

Ta trong muôn ức cõi

Hiện thân sạch bền chắc

Trải vô lượng ức kiếp

Vì chúng sanh nói Pháp.

Sau khi ta diệt độ

Nếu hay nói kinh này

Ta sai hóa tứ chúng

Tỳ kheo, Tỳ kheo ni

Và nam, nữ thanh tịnh

Cúng dường nơi Pháp sư

Dẫn dắt các chúng sanh

Nhóm đó khiến nghe pháp.

Nếu người muốn làm hại

Dao gậy cùng ngói đá

Thời khiến người biến hóa

Giữ gìn cho người đó

Nếu người nói Pháp Hoa

Ở riêng nơi vắng vẻ

Lặng lẽ không tiếng người

Đọc tụng kinh điển này

Bấy giờ ta vì hiện

Thân thanh tịnh sáng suốt

Nếu quên mất chương cú

Vì nói khiến thông thuộc.

Nếu người đủ đức này

Hoặc vì bốn chúng nói

Chỗ vắng đọc tụng kinh

Đều được thấy thân ta

Nếu người ở chỗ vắng

Ta sai Trời, Long vương

Dạ xoa, quỷ, thần thảy

Vì làm chúng nghe pháp.

Người đó ưa nói pháp

Phân giải không trở ngại

Nhờ các Phật hộ niệm

Hay khiến đại chúng mừng

Nếu ai gần Pháp sư

Mau được đạo Bồ Tát

Thuận theo thầy đó học

Được thấy hằng sa Phật.

PHẨM “HIỆN BẢO THÁP” THỨ MƯỜI MỘT

妙法蓮華經見寶塔品第十一

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh kiến bảo tháp phẩm đệ thập nhất

PHẨM “HIỆN BẢO THÁP” THỨ MƯỜI MỘT

爾時佛前有七寶塔,高五百由旬,縱廣二百五十由旬,從地踊出,住在空中,種種寶物而莊校之。五千欄楯,龕室千萬,無數幢幡以為嚴飾,垂寶瓔珞寶鈴萬億而懸其上。四面皆出多摩羅跋栴檀之香,充遍世界。其諸幡蓋,以金、銀、琉璃、車𤦲、馬腦、真珠、玫瑰、七寶合成,高至四天王宮。三十三天雨天曼陀羅華,供養寶塔。餘諸天、龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等,千萬億眾,以一切華、香、瓔珞、幡蓋、伎樂,供養寶塔,恭敬、尊重、讚歎。爾時寶塔中出大音聲歎言:「善哉,善哉!釋迦牟尼世尊!能以平等大慧,教菩薩法,佛所護念,妙法華經,為大眾說。如是,如是!釋迦牟尼世尊!如所說者,皆是真實。

Nhĩ thời Phật tiền hữu thất bảo tháp, cao ngũ bách do-tuần, túng quảng nhị bách ngũ thập do-tuần, tùng địa dũng xuất, trụ tại không trung, chủng chủng bảo vật nhi trang hiệu chi. Ngũ thiên lan thuẫn, kham thất thiên vạn, vô số tràng phướn dĩ vi nghiêm sức, thùy bảo anh lạc bảo linh vạn ức nhi huyền kỳ thượng. Tứ diện giai xuất đa-ma-la-bạt chiên-đàn chi hương, sung biến thế giới. Kỳ chư phướn cái, dĩ kim, ngân, lưu-ly, xa cừ, mã não, chân châu, mai khôi, thất bảo hợp thành, cao chí tứ thiên vương cung. Tam thập tam thiên vũ thiên mạn-đà-la hoa, cúng dường bảo tháp. Dư chư thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng, thiên vạn ức chúng, dĩ nhất thiết hoa, hương, anh lạc, phướn cái, kỹ nhạc, cúng dường bảo tháp, cung kính, tôn trọng, tán thán. Nhĩ thời bảo tháp trung xuất đại âm thanh thán ngôn: “Thiện tai, thiện tai! Thích-ca Mâu-ni Thế-tôn! Năng dĩ bình đẳng đại tuệ, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm, diệu pháp hoa kinh, vi đại chúng thuyết. Như thị, như thị! Thích-ca Mâu-ni Thế-tôn! Như sở thuyết giả, giai thị chân thực.

Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau dồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu chiên đàn khắp cùng cả cõi nước. Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ thiên vương, trời Đao Lợi, rưới hoa Mạn đà la cúng dường tháp báu. Các trời khác và rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen. Bấy giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Đúng thế! Đúng thế! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều chân thật”.

」爾時四眾,見大寶塔住在空中,又聞塔中所出音聲,皆得法喜,怪未曾有,從座而起,恭敬合掌,却住一面。爾時有菩薩摩訶薩,名大樂說,知一切世間天、人、阿修羅等心之所疑,而白佛言:「世尊!以何因緣,有此寶塔從地踊出,又於其中發是音聲?」爾時佛告大樂說菩薩:「此寶塔中有如來全身,乃往過去東方無量千萬億阿僧祇世界,國名寶淨,彼中有佛,號曰多寶。其佛行菩薩道時,作大誓願:『若我成佛、滅度之後,於十方國土有說法華經處,我之塔廟,為聽是經故,踊現其前,為作證明,讚言善哉。』「彼佛成道已,臨滅度時,於天人大眾中告諸比丘:『我滅度後,欲供養我全身者,應起一大塔。』其佛以神通願力,十方世界,在在處處,若有說法華經者,彼之寶塔皆踊出其前,全身在於塔中,讚言:『善哉,善哉!』

” Nhĩ thời tứ chúng, kiến đại bảo tháp trụ tại không trung, hựu văn tháp trung sở xuất âm thanh, giai đắc pháp hỷ, quái vị tằng hữu, tùng tòa nhi khởi, cung kính hợp chưởng, khước trụ nhất diện. Nhĩ thời hữu Bồ-tát Ma-ha tát, danh đại nhạo thuyết, tri nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la đẳng tâm chi sở nghi, nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Dĩ hà nhân duyên, hữu thử bảo tháp tùng địa dũng xuất, hựu ư kỳ trung phát thị âm thanh?” Nhĩ thời Phật cáo đại nhạo thuyết Bồ-tát: “Thử bảo tháp trung hữu Như-lai toàn thân, nãi vãng quá khứ đông phương vô lượng thiên vạn ức a-tăng-kỳ thế giới, quốc danh bảo tịnh, bỉ trung hữu Phật, hiệu viết đa bảo. Kỳ Phật hành Bồ-tát đạo thời, tác đại thệ nguyện: ‘Nhược ngã thành Phật, diệt độ chi hậu, ư thập phương quốc độ hữu thuyết pháp hoa kinh xứ, ngã chi tháp miếu, vi thính thị kinh cố, dũng hiện kỳ tiền, vi tác chứng minh, tán ngôn thiện tai.’ “Bỉ Phật thành đạo dĩ, lâm diệt độ thời, ư thiên nhân đại chúng trung cáo chư tỳ-kheo: ‘Ngã diệt độ hậu, dục cúng dường ngã toàn thân giả, ưng khởi nhất đại tháp.’ Kỳ Phật dĩ thần thông nguyện lực, thập phương thế giới, tại tại xứ xứ, nhược hữu thuyết pháp hoa kinh giả, bỉ chi bảo tháp giai dũng xuất kỳ tiền, toàn thân tại ư tháp trung, tán ngôn: ‘Thiện tai, thiện tai!’

Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay rồi đứng một bên. Lúc đó, có vị đại Bồ Tát tên Đại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?” Lúc đó, Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát: “Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương đông có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo, đức Phật đó tu hành đạo Bồ Tát phát lời thệ nguyện lớn rằng: “Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: “Hay thay!” Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ kheo rằng: “Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thì nên dựng một tháp lớn”. Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thì tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: “Hay thay! Hay thay!” Đại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Đa Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”

「大樂說!今多寶如來塔,聞說法華經故,從地踊出,讚言:『善哉,善哉!』」是時大樂說菩薩,以如來神力故,白佛言:「世尊!我等願欲見此佛身。」佛告大樂說菩薩摩訶薩:「是多寶佛,有深重願:『若我寶塔,為聽法華經故,出於諸佛前時,其有欲以我身示四眾者,彼佛分身諸佛——在於十方世界說法,盡還集一處,然後我身乃出現耳。』「大樂說!我分身諸佛——在於十方世界說法者,今應當集。」大樂說白佛言:「世尊!我等亦願欲見世尊分身諸佛,禮拜供養。」

“Đại nhạo thuyết! Kim đa bảo Như-lai tháp, văn thuyết pháp hoa kinh cố, tùng địa dũng xuất, tán ngôn: ‘Thiện tai, thiện tai!’” Thị thời đại nhạo thuyết Bồ-tát, dĩ Như-lai thần lực cố, bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng nguyện dục kiến thử Phật thân.” Phật cáo đại nhạo thuyết Bồ-tát Ma-ha tát: “Thị đa bảo Phật, hữu thâm trọng nguyện: ‘Nhược ngã bảo tháp, vi thính pháp hoa kinh cố, xuất ư chư Phật tiền thời, kỳ hữu dục dĩ ngã thân thị tứ chúng giả, bỉ Phật phân thân chư Phật——tại ư thập phương thế giới thuyết pháp, tận hoàn tập nhất xứ, nhiên hậu ngã thân nãi xuất hiện nhĩ.’ “Đại nhạo thuyết! Ngã phân thân chư Phật——tại ư thập phương thế giới thuyết pháp giả, kim ưng đương tập.” Đại nhạo thuyết bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng diệc nguyện dục kiến Thế-tôn phân thân chư Phật, lễ bái cúng dường.”

Bấy giờ, ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát do sức thần của đức Như Lai mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của đức Phật đó”. Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát Ma ha tát: Phật Đa Bảo đó có nguyện sâu nặng: “Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra”. Đại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại”. Ngài Đại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường”.

爾時佛放白毫一光,即見東方五百萬億那由他恒河沙等國土諸佛,彼諸國土,皆以頗梨為地,寶樹、寶衣以為莊嚴,無數千萬億菩薩充滿其中,遍張寶幔,寶網羅上。彼國諸佛,以大妙音而說諸法,及見無量千萬億菩薩,遍滿諸國,為眾說法。南西北方、四維上下,白毫相光所照之處,亦復如是。爾時十方諸佛,各告眾菩薩言:「善男子!我今應往娑婆世界,釋迦牟尼佛所,并供養多寶如來寶塔。」

Nhĩ thời Phật phóng bạch hào nhất quang, tức kiến đông phương ngũ bách vạn ức na-do-tha hằng hà sa đẳng quốc độ chư Phật, bỉ chư quốc độ, giai dĩ pha-lê vi địa, bảo thụ, bảo y dĩ vi trang nghiêm, vô số thiên vạn ức Bồ-tát sung mãn kỳ trung, biến trương bảo mạn, bảo võng la thượng. Bỉ quốc chư Phật, dĩ đại Diệu Âm nhi thuyết chư pháp, cập kiến vô lượng thiên vạn ức Bồ-tát, biến mãn chư quốc, vi chúng thuyết pháp. Nam tây bắc phương, tứ duy thượng hạ, bạch hào tướng quang sở chiếu chi xứ, diệc phục như thị. Nhĩ thời thập phương chư Phật, các cáo chúng Bồ-tát ngôn: “Thiện nam tử! Ngã kim ưng vãng Ta-bà thế giới, Thích-ca Mâu-ni Phật sở, tinh cúng dường đa bảo Như-lai bảo tháp.”

Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy năm trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ Tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ Tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sanh mà nói pháp. Phương Nam, Tây, Bắc, bốn phía, trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế. Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta Bà, chỗ của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai”.

時娑婆世界即變清淨,琉璃為地,寶樹莊嚴,黃金為繩以界八道,無諸聚落、村營、城邑、大海、江河、山川、林藪。燒大寶香,曼陀羅華遍布其地,以寶網幔,羅覆其上,懸諸寶鈴。唯留此會眾,移諸天人置於他土。是時,諸佛各將一大菩薩以為侍者,至娑婆世界,各到寶樹下。一一寶樹高五百由旬,枝、葉、華、菓次第莊嚴,諸寶樹下皆有師子之座,高五由旬,亦以大寶而校飾之。爾時諸佛,各於此座結加趺坐。如是展轉遍滿三千大千世界,而於釋迦牟尼佛一方所分之身猶故未盡。時釋迦牟尼佛欲容受所分身諸佛故,八方各更變二百萬億那由他國,皆令清淨,無有地獄、餓鬼、畜生及阿修羅,又移諸天、人置於他土。所化之國,亦以琉璃為地,寶樹莊嚴,樹高五百由旬,枝、葉、華、菓次第嚴飾,樹下皆有寶師子座,高五由旬,種種諸寶以為莊校。亦無大海、江河,及目真隣陀山、摩訶目真隣陀山、鐵圍山、大鐵圍山、須彌山等諸山王,通為一佛國土。寶地平正,寶交露幔遍覆其上;懸諸幡蓋,燒大寶香,諸天寶華遍布其地。釋迦牟尼佛為諸佛當來坐故,復於八方各更變二百萬億那由他國,皆令清淨,無有地獄、餓鬼、畜生及阿修羅,又移諸天、人置於他土。所化之國,亦以琉璃為地,寶樹莊嚴,樹高五百由旬,枝、葉、華、菓次第莊嚴,樹下皆有寶師子座,高五由旬,亦以大寶而校飾之。亦無大海、江河,及目真隣陀山、摩訶目真隣陀山、鐵圍山、大鐵圍山、須彌山等諸山王,通為一佛國土。寶地平正,寶交露幔、遍覆其上;懸諸幡蓋,燒大寶香,諸天寶華遍布其地。爾時東方釋迦牟尼佛所分之身,百千萬億那由他恒河沙等國土中諸佛,各各說法,來集於此;如是次第十方諸佛皆悉來集,坐於八方。爾時一一方四百萬億那由他國土,諸佛如來遍滿其中。

Thời Ta-bà thế giới tức biến thanh tịnh, lưu-ly vi địa, bảo thụ trang nghiêm, hoàng kim vi thằng dĩ giới bát đạo, vô chư tụ lạc, thôn doanh, thành ấp, đại hải, giang hà, sơn xuyên, lâm tẩu. Thiêu đại bảo hương, mạn-đà-la hoa biến bố kỳ địa, dĩ bảo võng mạn, la phúc kỳ thượng, huyền chư bảo linh. Duy lưu thử hội chúng, di chư thiên nhân trí ư tha thổ. Thị thời, chư Phật các tương nhất đại Bồ-tát dĩ vi thị giả, chí Ta-bà thế giới, các đáo bảo thụ hạ. Nhất nhất bảo thụ cao ngũ bách do-tuần, chi, diệp, hoa, quả thứ đệ trang nghiêm, chư bảo thụ hạ giai hữu sư tử chi tòa, cao ngũ do-tuần, diệc dĩ đại bảo nhi hiệu sức chi. Nhĩ thời chư Phật, các ư thử tòa kết gia phu tọa. Như thị triển chuyển biến mãn tam thiên đại thiên thế giới, nhi ư Thích-ca Mâu-ni Phật nhất phương sở phân chi thân do cố vị tận. Thời Thích-ca Mâu-ni Phật dục dung thọ sở phân thân chư Phật cố, bát phương các cánh biến nhị bách vạn ức na-do-tha quốc, giai lệnh thanh tịnh, vô hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh cập a-tu-la, hựu di chư thiên, nhân trí ư tha thổ. Sở hóa chi quốc, diệc dĩ lưu-ly vi địa, bảo thụ trang nghiêm, thụ cao ngũ bách do-tuần, chi, diệp, hoa, quả thứ đệ nghiêm sức, thụ hạ giai hữu bảo sư tử tòa, cao ngũ do-tuần, chủng chủng chư bảo dĩ vi trang hiệu. Diệc vô đại hải, giang hà, cập mục chân lân đà sơn, Ma-ha mục chân lân đà sơn, thiết vi sơn, đại thiết vi sơn, Tu-di sơn đẳng chư sơn vương, thông vi nhất Phật quốc độ. Bảo địa bình chính, bảo giao lộ mạn biến phúc kỳ thượng; huyền chư phướn cái, thiêu đại bảo hương, chư thiên bảo hoa biến bố kỳ địa. Thích-ca Mâu-ni Phật vi chư Phật đương lai tọa cố, phục ư bát phương các cánh biến nhị bách vạn ức na-do-tha quốc, giai lệnh thanh tịnh, vô hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh cập a-tu-la, hựu di chư thiên, nhân trí ư tha thổ. Sở hóa chi quốc, diệc dĩ lưu-ly vi địa, bảo thụ trang nghiêm, thụ cao ngũ bách do-tuần, chi, diệp, hoa, quả thứ đệ trang nghiêm, thụ hạ giai hữu bảo sư tử tòa, cao ngũ do-tuần, diệc dĩ đại bảo nhi hiệu sức chi. Diệc vô đại hải, giang hà, cập mục chân lân đà sơn, Ma-ha mục chân lân đà sơn, thiết vi sơn, đại thiết vi sơn, Tu-di sơn đẳng chư sơn vương, thông vi nhất Phật quốc độ. Bảo địa bình chính, bảo giao lộ mạn, biến phúc kỳ thượng; huyền chư phướn cái, thiêu đại bảo hương, chư thiên bảo hoa biến bố kỳ địa. Nhĩ thời đông phương Thích-ca Mâu-ni Phật sở phân chi thân, bách thiên vạn ức na-do-tha hằng hà sa đẳng quốc độ trung chư Phật, các các thuyết pháp, lai tập ư thử; như thị thứ đệ thập phương chư Phật giai tất lai tập, tọa ư bát phương. Nhĩ thời nhất nhất phương tứ bách vạn ức na-do-tha quốc độ, chư Phật Như-lai biến mãn kỳ trung.

Lúc bấy giờ, cõi Ta bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Đốt hương báu lớn, hoa mạn đà la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác. Lúc đó các đức Phật đều đem theo một vị Bồ Tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa báu sư tử cao năm do tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau dồi đó. Khi ấy, các đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lượt đến khắp đầy cả cõi tam thiên đại thiên mà ở nơi thân của đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết. Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng A tu la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do tuần, dùng các thứ báu để trau dồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: Núi Mục chân lân đà, núi Thiết vi, núi Đại thiết vi, núi Tu di v.v... thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do tuần nhánh lá hoa trái thứ tự tốt đẹp, dưới cây đều có tòa sư tử bằng báu cao năm do tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau dồi đó. Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi: Núi Mục chân lân đà, núi đại Mục chân lân đà, núi Thiết vi, núi đại thiết vi, núi Tu di v.v... thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất. Bấy giờ, ở phương Đông, các đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước của đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm ngồi ở tám phương. Bấy giờ, mỗi mỗi phương các đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na do tha cõi nước.

是時,諸佛各在寶樹下,坐師子座,皆遣侍者問訊釋迦牟尼佛,各齎寶華滿掬而告之言:「善男子!汝往詣耆闍崛山釋迦牟尼佛所,如我辭曰:『少病、少惱,氣力安樂,及菩薩、聲聞眾悉安隱不?』以此寶華散佛供養,而作是言:『彼某甲佛,與欲開此寶塔。』」諸佛遣使,亦復如是。爾時釋迦牟尼佛,見所分身佛悉已來集,各各坐於師子之座,皆聞諸佛與欲同開寶塔,即從座起,住虛空中。一切四眾,起立合掌,一心觀佛。於是釋迦牟尼佛,以右指開七寶塔戶,出大音聲,如却關鑰開大城門。即時一切眾會,皆見多寶如來於寶塔中坐師子座,全身不散,如入禪定。又聞其言:「善哉,善哉!釋迦牟尼佛!快說是法華經,我為聽是經故而來至此。」爾時四眾等,見過去無量千萬億劫滅度佛說如是言,歎未曾有,以天寶華聚,散多寶佛及釋迦牟尼佛上。爾時多寶佛於寶塔中分半座與釋迦牟尼佛,而作是言:「釋迦牟尼佛!可就此座。」即時釋迦牟尼佛入其塔中,坐其半座,結加趺坐。爾時,大眾見二如來在七寶塔中師子座上結加趺坐,各作是念:「佛座高遠,唯願如來以神通力,令我等輩俱處虛空。」即時釋迦牟尼佛以神通力,接諸大眾皆在虛空,以大音聲普告四眾:「誰能於此娑婆國土廣說妙法華經,今正是時。如來不久當入涅槃,佛欲以此妙法華經付囑有在。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Thị thời, chư Phật các tại bảo thụ hạ, tọa sư tử tòa, giai khiển thị giả vấn tấn Thích-ca Mâu-ni Phật, các tê bảo hoa mãn cúc nhi cáo chi ngôn: “Thiện nam tử! Nhữ vãng nghệ kỳ xà quật sơn Thích-ca Mâu-ni Phật sở, như ngã từ viết: ‘Thiểu bệnh, thiểu não, khí lực an lạc, cập Bồ-tát, thanh văn chúng tất an ẩn phủ?’ Dĩ thử bảo hoa tán Phật cúng dường, nhi tác thị ngôn: ‘Bỉ mỗ giáp Phật, dữ dục khai thử bảo tháp.’” Chư Phật khiển sử, diệc phục như thị. Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Phật, kiến sở phân thân Phật tất dĩ lai tập, các các tọa ư sư tử chi tòa, giai văn chư Phật dữ dục đồng khai bảo tháp, tức tùng tòa khởi, trụ hư không trung. Nhất thiết tứ chúng, khởi lập hợp chưởng, nhất tâm quán Phật. Ư thị Thích-ca Mâu-ni Phật, dĩ hữu chỉ khai thất bảo tháp hộ, xuất đại âm thanh, như khước quan thược khai đại thành môn. Tức thời nhất thiết chúng hội, giai kiến đa bảo Như-lai ư bảo tháp trung tọa sư tử tòa, toàn thân bất tán, như nhập thiền định. Hựu văn kỳ ngôn: “Thiện tai, thiện tai! Thích-ca Mâu-ni Phật! Khoái thuyết thị pháp hoa kinh, ngã vi thính thị kinh cố nhi lai chí thử.” Nhĩ thời tứ chúng đẳng, kiến quá khứ vô lượng thiên vạn ức kiếp diệt độ Phật thuyết như thị ngôn, thán vị tằng hữu, dĩ thiên bảo hoa tụ, tán đa bảo Phật cập Thích-ca Mâu-ni Phật thượng. Nhĩ thời đa bảo Phật ư bảo tháp trung phân bán tòa dữ Thích-ca Mâu-ni Phật, nhi tác thị ngôn: “Thích-ca Mâu-ni Phật! Khả tựu thử tòa.” Tức thời Thích-ca Mâu-ni Phật nhập kỳ tháp trung, tọa kỳ bán tòa, kết gia phu tọa. Nhĩ thời, đại chúng kiến nhị Như-lai tại thất bảo tháp trung sư tử tòa thượng kết gia phu tọa, các tác thị niệm: “Phật tòa cao viễn, duy nguyện Như-lai dĩ thần thông lực, lệnh ngã đẳng bối câu xứ hư không.” Tức thời Thích-ca Mâu-ni Phật dĩ thần thông lực, tiếp chư đại chúng giai tại hư không, dĩ đại âm thanh phổ cáo tứ chúng: “Thùy năng ư thử Ta-bà quốc độ quảng thuyết diệu pháp hoa kinh, kim chính thị thời. Như-lai bất cửu đương nhập Niết-bàn, Phật dục dĩ thử diệu pháp hoa kinh phó chúc hữu tại.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Lúc đó, các đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng: Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: “Như Lai có được ít bệnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ Tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?” Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: “Đức Phật kia cũng muốn mở tháp báu này”. Các đức Phật sai người đến cũng như vậy. Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đến ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chắp tay một lòng nhìn Phật. Khi ấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn. Tức thời tất cả chúng trong hội đều thấy đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định lại nghe Phật đó nói: “Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này”. Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc đó đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng: “Thích Ca Mâu Ni có thể đến ngồi trên tòa này”. Tức thời đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó. Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai đức Như Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thì đều nghĩ rằng: “Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không”. Tức thời đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng: “Ai có thể ở trong cõi Ta bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho các người”. Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「聖主世尊,雖久滅度,在寶塔中,尚為法來。諸人云何不勤為法?此佛滅度,無央數劫,處處聽法,以難遇故。彼佛本願,我滅度後,在在所往,常為聽法。又我分身,無量諸佛,如恒沙等,來欲聽法。及見滅度,多寶如來,各捨妙土,及弟子眾、天人龍神、諸供養事,令法久住,故來至此。為坐諸佛,以神通力,移無量眾,令國清淨。諸佛各各,詣寶樹下,如清淨池,蓮華莊嚴。其寶樹下,諸師子座,佛坐其上,光明嚴飾,如夜闇中,燃大炬火。身出妙香,遍十方國,眾生蒙薰,喜不自勝。譬如大風,吹小樹枝。以是方便,令法久住。

“Thánh chủ Thế-tôn, tuy cửu diệt độ, tại bảo tháp trung, thượng vi pháp lai. Chư nhân vân hà bất cần vi pháp? Thử Phật diệt độ, vô ương số kiếp, xứ xứ thính pháp, dĩ nan ngộ cố. Bỉ Phật bản nguyện, ngã diệt độ hậu, tại tại sở vãng, thường vi thính pháp. Hựu ngã phân thân, vô lượng chư Phật, như hằng sa đẳng, lai dục thính pháp. Cập kiến diệt độ, đa bảo Như-lai, các xả diệu thổ, cập đệ tử chúng, thiên nhân long thần, chư cúng dường sự, lệnh pháp cửu trụ, cố lai chí thử. Vi tọa chư Phật, dĩ thần thông lực, di vô lượng chúng, lệnh quốc thanh tịnh. Chư Phật các các, nghệ bảo thụ hạ, như thanh tịnh trì, liên hoa trang nghiêm. Kỳ bảo thụ hạ, chư sư tử tòa, Phật tọa kỳ thượng, quang minh nghiêm sức, như dạ ám trung, nhiên đại cự hỏa. Thân xuất diệu hương, biến thập phương quốc, chúng sinh mông huân, hỷ bất tự thắng. Thí như đại phong, xuy tiểu thụ chi. Dĩ thị phương tiện, lệnh pháp cửu trụ.

Đấng Thánh chúa Thế Tôn.

Dù diệt độ đã lâu

Ở trong tháp báu này

Còn vì pháp mà đến

Các ông lại thế nào

Há chẳng siêng vì pháp?

Phật Đa Bảo diệt độ

Đã vô lượng số kiếp

Nơi nơi đến nghe pháp

Vì khó gặp được vậy.

Phật kia bản nguyện rằng:

Sau khi ta diệt độ

Nơi nơi tháp ta qua

Thường vì nghe Pháp Hoa.

Lại vô lượng các Phật

Số nhiều như hằng sa

Của ta phân thân ra

Vì muốn đến nghe pháp

Và cùng để ra mắt

Phật diệt độ Đa Bảo

Nên đều bỏ cõi đẹp

Cùng với chúng đệ tử

Trời, người, rồng, thần thảy

Và các việc cúng dường

Muốn pháp lâu ở đời

Cho nên đến cõi này.

Ta vì các Phật ngồi

Dùng sức thần thông lớn

Dời vô lượng trời người

Làm cho nước thanh tịnh.

Các đức Phật mỗi mỗi

Đều đến dưới cây báu

Như hoa sen trang nghiêm

Nơi ao báu trong sạch

Dưới mỗi cây báu đó

Có tòa báu sư tử

(8) Phật xếp bằng ngồi trên

Sáng suốt rất đẹp đẽ

Như giữa đêm tối tăm

Đốt đuốc lớn lửa sáng.

Thân Phật thoảng hương thơm

Bay khắp mười phương nước

Chúng sanh được hương xông

Vui mừng không kể xiết

Thí như luồng gió lớn

Thổi lay nhánh cây nhỏ

Dùng cách phương tiện đó Làm cho Pháp ở lâu.

告諸大眾:『我滅度後,誰能護持、讀說斯經?今於佛前,自說誓言。其多寶佛,雖久滅度,以大誓願,而師子吼。多寶如來,及與我身,所集化佛,當知此意。諸佛子等,誰能護法,當發大願,令得久住。其有能護,此經法者,則為供養,我及多寶。此多寶佛,處於寶塔,常遊十方。為是經故,亦復供養,諸來化佛,莊嚴光飾、諸世界者。若說此經,則為見我、多寶如來,及諸化佛。

Cáo chư đại chúng: ‘Ngã diệt độ hậu, thùy năng hộ trì, độc thuyết tư kinh? Kim ư Phật tiền, tự thuyết thệ ngôn. Kỳ đa bảo Phật, tuy cửu diệt độ, dĩ đại thệ nguyện, nhi sư tử hống. Đa bảo Như-lai, cập dữ ngã thân, sở tập hóa Phật, đương tri thử ý. Chư Phật tử đẳng, thùy năng hộ pháp, đương phát đại nguyện, lệnh đắc cửu trụ. Kỳ hữu năng hộ, thử kinh pháp giả, tắc vi cúng dường, ngã cập đa bảo. Thử đa bảo Phật, xử ư bảo tháp, thường du thập phương. Vi thị kinh cố, diệc phục cúng dường, chư lai hóa Phật, trang nghiêm quang sức, chư thế giới giả. Nhược thuyết thử kinh, tắc vi kiến ngã, đa bảo Như-lai, cập chư hóa Phật.

Nói cùng hàng đại chúng

Sau khi ta diệt độ

Ai có thể hộ trì

Đọc nói kinh Pháp này

Thời nay ở trước Phật

Nên tự phát lời thệ.

Coi Phật Đa Bảo kia

Dầu đã diệt từ lâu

Do bản thệ nguyện rộng

Mà còn rền tiếng lớn.

Đức Đa Bảo Như Lai

Và cùng với thân ta

Nhóm họp các hóa Phật

Phải nên biết ý này.

Các hàng Phật tử thảy

Ai có thể hộ pháp

Nay nên phát nguyện lớn

Khiến pháp ở đời lâu

Có ai hay hộ được

Kinh Diệu Pháp Hoa này

Thời là đã cúng dường

Thích Ca cùng Đa Bảo.

Đức Đa Bảo Phật đây

Ở trong tháp báu lớn

Thường dạo qua mười phương

Vì để nghe kinh này.

Cũng là để cúng dường

Các hóa Phật đến nhóm

Trang nghiêm rất sáng đẹp

Các thế giới vô lượng.

Nếu người nói kinh này

Thời là đã thấy ta

Cùng Đa Bảo Như Lai

Và các vị hóa Phật.

諸善男子!各諦思惟,此為難事,宜發大願。諸餘經典,數如恒沙,雖說此等,未足為難。若接須彌,擲置他方,無數佛土,亦未為難。若以足指,動大千界,遠擲他國,亦未為難。若立有頂,為眾演說,無量餘經,亦未為難。若佛滅後,於惡世中,能說此經,是則為難。假使有人,手把虛空,而以遊行,亦未為難。於我滅後,若自書持,若使人書,是則為難。若以大地,置足甲上,昇於梵天,亦未為難。佛滅度後,於惡世中,暫讀此經,是則為難。假使劫燒,擔負乾草,入中不燒,亦未為難。我滅度後,若持此經、為一人說,是則為難。若持八萬,四千法藏,十二部經,為人演說,令諸聽者,得六神通,雖能如是,亦未為難。於我滅後,聽受此經,問其義趣,是則為難。若人說法,令千萬億,無量無數,恒沙眾生,得阿羅漢,具六神通,雖有是益,亦未為難。於我滅後,若能奉持,如斯經典,是則為難。

Chư thiện nam tử! Các đế tư duy, thử vi nan sự, nghi phát đại nguyện. Chư dư kinh điển, số như hằng sa, tuy thuyết thử đẳng, vị túc vi nan. Nhược tiếp Tu-di, trịch trí tha phương, vô số Phật thổ, diệc vị vi nan. Nhược dĩ túc chỉ, động đại thiên giới, viễn trịch tha quốc, diệc vị vi nan. Nhược lập hữu đỉnh, vi chúng diễn thuyết, vô lượng dư kinh, diệc vị vi nan. Nhược Phật diệt hậu, ư ác thế trung, năng thuyết thử kinh, thị tắc vi nan. Giả sử hữu nhân, thủ bả hư không, nhi dĩ du hành, diệc vị vi nan. Ư ngã diệt hậu, nhược tự thư trì, nhược sử nhân thư, thị tắc vi nan. Nhược dĩ đại địa, trí túc giáp thượng, thăng ư phạm thiên, diệc vị vi nan. Phật diệt độ hậu, ư ác thế trung, tạm độc thử kinh, thị tắc vi nan. Giả sử kiếp thiêu, đảm phụ can thảo, nhập trung bất thiêu, diệc vị vi nan. Ngã diệt độ hậu, nhược trì thử kinh, vi nhất nhân thuyết, thị tắc vi nan. Nhược trì bát vạn, tứ thiên pháp tàng, thập nhị bộ kinh, vi nhân diễn thuyết, lệnh chư thính giả, đắc lục thần thông, tuy năng như thị, diệc vị vi nan. Ư ngã diệt hậu, thính thọ thử kinh, vấn kỳ nghĩa thú, thị tắc vi nan. Nhược nhân thuyết pháp, lệnh thiên vạn ức, vô lượng vô số, hằng sa chúng sinh, đắc A-la-hán, cụ lục thần thông, tuy hữu thị ích, diệc vị vi nan. Ư ngã diệt hậu, nhược năng phụng trì, như tư kinh điển, thị tắc vi nan.

Các Thiện nam tử này

Đều nên suy nghĩ kỹ

Đây là việc rất khó

Phải phát nguyện rộng lớn

Bao nhiêu kinh điển khác

Số nhiều như hằng sa

Dầu nói hết kinh đó

Cũng chưa đủ làm khó,

Hoặc đem núi Diệu Cao

Ném để ở phương khác

Cách vô số cõi Phật

Cũng chưa lấy làm khó,

Nếu người dùng ngón chân

Động cõi nước Đại thiên

Ném xa qua cõi khác

Cũng chưa lấy làm khó,

Hoặc đứng trên Hữu Đảnh

Nói vô lượng kinh khác

Vì để dạy bảo người

Cũng chưa lấy làm khó.

Nếu sau lúc Phật diệt

Người ở trong đời ác

Có thể nói kinh này

Đây thì rất là khó,

Giả sử lại có người

Dùng tay nắm hư không

Để mà khắp dạo đi

Cũng chưa lấy làm khó.

Sau khi ta diệt độ

Nếu người tự thư trì

(9) Hoặc bảo người thư trì

Đây thì là rất khó,

Hoặc đem cả cõi đất

Để lên móng ngón chân

Bay lên đến Phạm Thiên

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi Phật diệt độ

Người ở trong đời ác

Tạm đọc kinh pháp này

Đây thì mới là khó.

Giả sử gặp kiếp Thiêu

(10) Gánh mang những cỏ khô

Vào lửa không bị cháy

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi ta diệt độ

Nếu người trì kinh này

Vì một người mà nói

Đây thì mới là khó

Hoặc người trì tám muôn

Bốn nghìn các tạng pháp

Đủ mười hai bộ kinh

Vì người mà diễn nói

Khiến các người nghe pháp

Đều được sáu thần thông

Dù được như thế đó

Cũng chưa lấy làm khó

Sau khi ta diệt độ

Nghe lãnh kinh điển này

Hỏi nghĩa thú trong kinh

Đây thì mới là khó.

Hoặc có người nói pháp

Làm cho nghìn muôn ức

Đến vô lượng vô số

Hằng hà sa chúng sanh

Chứng được A la hán

Đủ sáu phép thần thông

Dầu có lợi ích đó

Cũng chưa phải là khó,

Sau khi ta diệt độ

Nếu người hay phụng trì

Những kinh điển như đây

Đây thì là rất khó.

我為佛道,於無量土,從始至今,廣說諸經,而於其中,此經第一。若有能持,則持佛身。諸善男子!於我滅後,誰能受持、讀誦此經,今於佛前、自說誓言。此經難持,若暫持者,我則歡喜,諸佛亦然。如是之人,諸佛所歎。是則勇猛,是則精進,是名持戒,行頭陀者,則為疾得,無上佛道。能於來世,讀持此經,是真佛子,住淳善地。佛滅度後,能解其義,是諸天人,世間之眼。於恐畏世,能須臾說,一切天人,皆應供養。』」

Ngã vi Phật đạo, ư vô lượng thổ, tùng thủy chí kim, quảng thuyết chư kinh, nhi ư kỳ trung, thử kinh đệ nhất. Nhược hữu năng trì, tắc trì Phật thân. Chư thiện nam tử! Ư ngã diệt hậu, thùy năng thọ trì, độc tụng thử kinh, kim ư Phật tiền, tự thuyết thệ ngôn. Thử kinh nan trì, nhược tạm trì giả, ngã tắc hoan hỷ, chư Phật diệc nhiên. Như thị chi nhân, chư Phật sở thán. Thị tắc dũng mãnh, thị tắc tinh tiến, thị danh trì giới, hành đầu đà giả, tắc vi tật đắc, vô thượng Phật đạo. Năng ư lai thế, độc trì thử kinh, thị chân Phật tử, trụ thuần thiện địa. Phật diệt độ hậu, năng giải kỳ nghĩa, thị chư thiên nhân, thế gian chi nhãn. Ư khủng úy thế, năng tu du thuyết, nhất thiết thiên nhân, giai ưng cúng dường.’”

Ta vì hộ Phật đạo

Ở trong vô lượng cõi

Từ thuở trước đến nay

Rộng nói nhiều các kinh

Mà ở trong kinh đó

Kinh này là bậc nhứt

Nếu có người trì được

Thì là trì thân Phật,

Các Thiện nam tử này

Sau khi ta diệt độ

Ai có thể thọ trì

Và đọc tụng kinh này

Thì nay ở trước Phật

Nên tự nói lời thệ.

Kinh pháp đây khó trì

Nếu người tạm trì đó

Thì ta rất vui mừng

Các đức Phật cũng thế

Người nào được như vậy

Các đức Phật thường khen

Đó là rất dũng mãnh

Đó là rất tinh tấn

Gọi là người trì giới

Bậc tu hạnh Đầu đà

(11) Thời chắc sẽ mau được

Quả vô thượng Phật đạo.

Có thể ở đời sau

Đọc trì kinh pháp này

Là chơn thật Phật tử

Trụ ở bậc thuần thiện,

Sau khi Phật diệt độ

Có thể hiểu nghĩa này

Thì là mắt sáng suốt

Của trời người trong đời

Ở trong đời kinh sợ

Hay nói trong chốc lát

Tất cả hàng trời người

Đều nên cúng dường đó.

PHẨM “ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA” THỨ MƯỜI HAI

妙法蓮華經提婆達多品第十二

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đề-bà-đạt-đa phẩm đệ thập nhị

PHẨM “ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA” THỨ MƯỜI HAI

爾時佛告諸菩薩及天人四眾:「吾於過去無量劫中,求法華經,無有懈惓。於多劫中常作國王,發願求於無上菩提,心不退轉。為欲滿足六波羅蜜,勤行布施,心無悋惜,象、馬、七珍、國、城、妻、子,奴婢、僕從,頭、目、髓、腦,身、肉、手、足,不惜軀命。時世人民壽命無量,為於法故,捐捨國位,委政太子,擊鼓宣令四方求法:『誰能為我說大乘者,吾當終身供給走使。』時有仙人來白王言:『我有大乘,名妙法華經。若不違我,當為宣說。』王聞仙言,歡喜踊躍,即隨仙人,供給所須——採菓、汲水、拾薪、設食,乃至以身而為床座——身心無惓,于時奉事。經於千歲,為於法故,精勤給侍,令無所乏。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:

Nhĩ thời Phật cáo chư Bồ-tát cập thiên nhân tứ chúng: “Ngô ư quá khứ vô lượng kiếp trung, cầu pháp hoa kinh, vô hữu giải quyện. Ư đa kiếp trung thường tác quốc vương, phát nguyện cầu ư vô thượng Bồ-đề, tâm bất thoái chuyển. Vi dục mãn túc lục ba-la-mật, cần hành bố thi, tâm vô lận tích, tượng, mã, thất trân, quốc, thành, thê, tử, nô tỳ, bộc tùng, đầu, mục, tủy, não, thân, nhục, thủ, túc, bất tích khu mệnh. Thời thế nhân dân thọ mệnh vô lượng, vi ư pháp cố, quyên xả quốc vị, ủy chính thái tử, kích cổ tuyên lệnh tứ phương cầu pháp: ‘Thùy năng vi ngã thuyết đại thừa giả, ngô đương chung thân cúng cấp tẩu sử.’ Thời hữu tiên nhân lai bạch vương ngôn: ‘Ngã hữu đại thừa, danh diệu pháp hoa kinh. Nhược bất vi ngã, đương vi tuyên thuyết.’ Vương văn tiên ngôn, hoan hỷ dũng dược, tức tùy tiên nhân, cúng cấp sở tu——thái quả, cấp thủy, thập tân, thiết thực, nãi chí dĩ thân nhi vi sàng tòa——thân tâm vô quyện, vu thời phụng sự. Kinh ư thiên tuế, vi ư pháp cố, tinh cần cấp thị, lệnh vô sở phạp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các vị Bồ Tát và hàng trời, người, bốn chúng: “Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị Quốc vương phát nguyện cầu đạo vô thượng Bồ đề, lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ sáu pháp Ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng. Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho Thái tử. Đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương: “Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thì ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ”. Khi ấy có vị tiên nhơn đến thưa cùng vua rằng: “Ta có pháp Đại thừa tên là kinh “Diệu Pháp Liên Hoa”, nếu Đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì Đại vương mà tuyên nói”. Vua nghe lời vị tiên nhơn nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị tiên nhơn để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhơn trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhơn không thiếu thốn. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

「我念過去劫,為求大法故,雖作世國王,不貪五欲樂。搥鍾告四方,誰有大法者,若為我解說,身當為奴僕。時有阿私仙,來白於大王:『我有微妙法,世間所希有。若能修行者,吾當為汝說。』時王聞仙言,心生大喜悅,即便隨仙人,供給於所須,採薪及菓蓏,隨時恭敬與,情存妙法故,身心無懈惓。普為諸眾生,勤求於大法,亦不為己身,及以五欲樂。故為大國王,勤求獲此法,遂致得成佛,今故為汝說。」

“Ngã niệm quá khứ kiếp, vi cầu đại pháp cố, tuy tác thế quốc vương, bất tham ngũ dục lạc. Trùy chung cáo tứ phương, thùy hữu đại pháp giả, nhược vi ngã giải thuyết, thân đương vi nô bộc. Thời hữu a tư tiên, lai bạch ư đại vương: ‘Ngã hữu vi diệu pháp, thế gian sở hy hữu. Nhược năng tu hành giả, ngô đương vi nhữ thuyết.’ Thời vương văn tiên ngôn, tâm sinh đại hỷ duyệt, tức tiện tùy tiên nhân, cúng cấp ư sở tu, thái tân cập quả lỏa, tùy thời cung kính dữ, tình tồn diệu pháp cố, thân tâm vô giải quyện. Phổ vi chư chúng sinh, cần cầu ư đại pháp, diệc bất vi kỷ thân, cập dĩ ngũ dục lạc. Cố vi đại quốc vương, cần cầu hoạch thử pháp, toại trí đắc thành Phật, kim cố vi nhữ thuyết.”

Ta nhớ kiếp quá khứ

Vì cầu pháp Đại thừa

Dầu làm vị Quốc vương

Chẳng ham vui ngũ dục.

Đánh chuông rao bốn phương

Ai có pháp Đại thừa

Nếu vì ta giải nói

Thân sẽ làm tôi tớ.

Giờ có tiên Trường Thọ

Đến thưa cùng Đại vương

Ta có pháp nhiệm mầu

Trong đời ít có được

Nếu có thể tu hành

Ta sẽ vì ông nói.

Khi vua nghe tiên nói

Sanh lòng rất vui đẹp

Liền đi theo tiên nhơn

Cung cấp đồ cần dùng

Lượm củi và rau trái

Theo lời cung kính dâng

Lòng ham pháp Đại thừa

Thân tâm không lười mỏi,

Khắp vì các chúng sanh

Siêng cầu pháp mầu lớn

Cũng không vì thân mình

Cùng vui với ngũ dục

Nên dầu làm vua lớn

Siêng cầu được pháp này

Do đó được thành Phật

Nay vẫn vì ông nói.

佛告諸比丘:「爾時王者,則我身是;時仙人者,今提婆達多是。由提婆達多善知識故,令我具足六波羅蜜,慈悲喜捨,三十二相,八十種好,紫磨金色,十力、四無所畏、四攝法、十八不共神通道力,成等正覺,廣度眾生,皆因提婆達多善知識故。」

Phật cáo chư tỳ-kheo: “Nhĩ thời vương giả, tắc ngã thân thị; thời tiên nhân giả, kim Đề-bà-đạt-đa thị. Do Đề-bà-đạt-đa thiện tri thức cố, lệnh ngã cụ túc lục ba-la-mật, từ bi hỷ xả, tam thập nhị tướng, bát thập chủng hảo, tử ma kim sắc, thập lực, tứ vô sở úy, tứ nhiếp pháp, thập bát bất cộng thần thông đạo lực, thành đẳng chính giác, quảng độ chúng sinh, giai nhân Đề-bà-đạt-đa thiện tri thức cố.”

Phật bảo các Tỳ kheo rằng: “Thuở ấy, vua đó thời chính là thân ta, còn tiên nhơn đó nay chính là ông Đề Bà Đạt Đa. Do nhờ ông thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho ta đầy đủ sáu pháp Ba la mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc chánh đẳng chánh giác rộng độ chúng sanh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả”.

告諸四眾:「提婆達多却後過無量劫,當得成佛,號曰天王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。世界名天道。時天王佛住世二十中劫,廣為眾生說於妙法,恒河沙眾生得阿羅漢果,無量眾生發緣覺心,恒河沙眾生發無上道心,得無生忍,至不退轉。時天王佛般涅槃後,正法住世二十中劫。全身舍利起七寶塔,高六十由旬,縱廣四十由旬,諸天人民,悉以雜華、末香、燒香、塗香,衣服、瓔珞、幢幡、寶蓋,伎樂、歌頌,禮拜供養七寶妙塔。無量眾生得阿羅漢果,無量眾生悟辟支佛,不可思議眾生發菩提心,至不退轉。」佛告諸比丘:「未來世中,若有善男子、善女人,聞妙法華經提婆達多品,淨心信敬不生疑惑者,不墮地獄、餓鬼、畜生,生十方佛前,所生之處,常聞此經。若生人天中,受勝妙樂,若在佛前,蓮華化生。」

Cáo chư tứ chúng: “Đề-bà-đạt-đa khước hậu quá vô lượng kiếp, đương đắc thành Phật, hiệu viết thiên vương Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Thế giới danh thiên đạo. Thời thiên vương Phật trụ thế nhị thập trung kiếp, quảng vi chúng sinh thuyết ư diệu pháp, hằng hà sa chúng sinh đắc A-la-hán quả, vô lượng chúng sinh phát duyên giác tâm, hằng hà sa chúng sinh phát vô thượng đạo tâm, đắc vô sinh nhẫn, chí bất thoái chuyển. Thời thiên vương Phật bát Niết-bàn hậu, chính pháp trụ thế nhị thập trung kiếp. Toàn thân xá-lợi khởi thất bảo tháp, cao lục thập do-tuần, túng quảng tứ thập do-tuần, chư thiên nhân dân, tất dĩ tạp hoa, mạt hương, thiêu hương, đồ hương, y phục, anh lạc, tràng phướn, bảo cái, kỹ nhạc, ca tụng, lễ bái cúng dường thất bảo diệu tháp. Vô lượng chúng sinh đắc A-la-hán quả, vô lượng chúng sinh ngộ Bích-chi Phật, bất khả tư nghị chúng sinh phát Bồ-đề tâm, chí bất thoái chuyển.” Phật cáo chư tỳ-kheo: “Vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn diệu pháp hoa kinh Đề-bà-đạt-đa phẩm, tịnh tâm tín kính bất sinh nghi hoặc giả, bất đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sinh thập phương Phật tiền, sở sinh chi xứ, thường văn thử kinh. Nhược sinh nhân thiên trung, thọ thắng diệu lạc, nhược tại Phật tiền, liên hoa hóa sinh.”

Phật bảo hàng tứ chúng: “Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên Đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sanh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sanh phát tâm vô thượng đạo, được vô sanh nhẫn đến bậc Bất thối chuyển. Sau khi đức Thiên Vương Phật nhập Niết bàn, chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh ngộ Bích chi Phật, bất khả tư nghì chúng sanh phát tâm Bồ đề đến bậc Bất thối chuyển”. Đức Phật bảo các Tỳ kheo: “Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Đề Bà Đạt Đa, sanh lòng trong sạch kính tin chẳng sanh nghi lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, được sanh ở trước các đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sanh ra thường được nghe kinh này. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thì hưởng sự vui rất thắng diệu, nếu sanh ở trước Phật thì từ hoa sen hóa sanh”.

於時下方多寶世尊所從菩薩,名曰智積,白多寶佛:「當還本土。」釋迦牟尼佛告智積曰:「善男子!且待須臾。此有菩薩,名文殊師利,可與相見,論說妙法,可還本土。」爾時文殊師利坐千葉蓮華,大如車輪——俱來菩薩亦坐寶蓮華——從於大海娑竭羅龍宮自然踊出,住虛空中,詣靈鷲山,從蓮華下,至於佛所,頭面敬禮二世尊足。修敬已畢,往智積所,共相慰問,却坐一面。智積菩薩問文殊師利:「仁往龍宮,所化眾生,其數幾何?」文殊師利言:「其數無量,不可稱計,非口所宣,非心所測,且待須臾,自當有證。」所言未竟,無數菩薩坐寶蓮華,從海踊出,詣靈鷲山,住在虛空。此諸菩薩,皆是文殊師利之所化度,具菩薩行,皆共論說六波羅蜜。本聲聞人,在虛空中說聲聞行,今皆修行大乘空義。文殊師利謂智積曰:「於海教化,其事如是。」爾時智積菩薩以偈讚曰:「大智德勇健,化度無量眾,今此諸大會,及我皆已見。演暢實相義,開闡一乘法,廣導諸眾生,令速成菩提。」

Ư thời hạ phương đa bảo Thế-tôn sở tùng Bồ-tát, danh viết trí tích, bạch đa bảo Phật: “Đương hoàn bản thổ.” Thích-ca Mâu-ni Phật cáo trí tích viết: “Thiện nam tử! Thả đãi tu du. Thử hữu Bồ-tát, danh Văn-thù-sư-lợi, khả dữ tướng kiến, luận thuyết diệu pháp, khả hoàn bản thổ.” Nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi tọa thiên diệp liên hoa, đại như xa luân——câu lai Bồ-tát diệc tọa bảo liên hoa——tùng ư đại hải sa-kiệt-la long cung tự nhiên dũng xuất, trụ hư không trung, nghệ linh thứu sơn, tùng liên hoa hạ, chí ư Phật sở, đầu diện kính lễ nhị Thế-tôn túc. Tu kính dĩ tất, vãng trí tích sở, cộng tướng úy vấn, khước tọa nhất diện. Trí tích Bồ-tát vấn Văn-thù-sư-lợi: “Nhân vãng long cung, sở hóa chúng sinh, kỳ số kỷ hà?” Văn-thù-sư-lợi ngôn: “Kỳ số vô lượng, bất khả xưng kế, phi khẩu sở tuyên, phi tâm sở trắc, thả đãi tu du, tự đương hữu chứng.” Sở ngôn vị cánh, vô số Bồ-tát tọa bảo liên hoa, tùng hải dũng xuất, nghệ linh thứu sơn, trụ tại hư không. Thử chư Bồ-tát, giai thị Văn-thù-sư-lợi chi sở hóa độ, cụ Bồ-tát hành, giai cộng luận thuyết lục ba-la-mật. Bản thanh văn nhân, tại hư không trung thuyết thanh văn hành, kim giai tu hành đại thừa không nghĩa. Văn-thù-sư-lợi vị trí tích viết: “Ư hải giáo hóa, kỳ sự như thị.” Nhĩ thời trí tích Bồ-tát dĩ kệ tán viết: “Đại trí đức dũng kiện, hóa độ vô lượng chúng, kim thử chư đại hội, cập ngã giai dĩ kiến. Diễn sướng thực tướng nghĩa, khai xiển nhất thừa pháp, quảng đạo chư chúng sinh, lệnh tốc thành Bồ-đề.”

Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ Tát theo hầu đức Đa Bảo Như Lai tên là Trí Tích bạch với đức Đa Bảo Phật nên trở về bổn quốc. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Trí Tích rằng: “Thiện nam tử! Chờ giây

lát, cõi đây có Bồ

Tát tên Văn Thù

Lợi có thể cùng ra

mắt nhau luận nói pháp

mầu rồi sẽ về bổn

độ”. Lúc đó, ngài Văn

Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ Tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, đầu mặt kính lạy chân hai đức Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía. Ngài Trí Tích Bồ Tát hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh số được bao nhiêu?” Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Số đó vô lượng không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết”. Ngài Văn Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ Tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ Tát này đều là của ngài Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ Tát đều chung luận nói sáu pháp Ba la mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành “nghĩa không” của Đại thừa. Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với ngài Trí Tích rằng: “Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế”. Lúc ấy, ngài Trí Tích Bồ Tát nói kệ khen rằng: Đại trí đức mạnh mẽ Hóa độ vô lượng chúng Nay trong hội lớn này Và tôi đều đã thấy Diễn nói nghĩa thật tướng Mở bày pháp nhứt thừa Rộng độ các chúng sanh Khiến mau thành Bồ đề.

文殊師利言:「我於海中,唯常宣說妙法華經。」智積問文殊師利言:「此經甚深微妙,諸經中寶,世所希有。頗有眾生,勤加精進,修行此經,速得佛不?」文殊師利言:「有娑竭羅龍王女,年始八歲,智慧利根,善知眾生諸根行業,得陀羅尼,諸佛所說甚深祕藏,悉能受持。深入禪定,了達諸法,於剎那頃發菩提心,得不退轉,辯才無礙。慈念眾生、猶如赤子,功德具足,心念口演,微妙廣大,慈悲仁讓,志意和雅,能至菩提。」智積菩薩言:「我見釋迦如來,於無量劫難行苦行,積功累德,求菩提道,未曾止息。觀三千大千世界,乃至無有如芥子許非是菩薩捨身命處,為眾生故,然後乃得成菩提道。不信此女於須臾頃、便成正覺。」言論未訖,時龍王女忽現於前,頭面禮敬,却住一面,以偈讚曰:「深達罪福相,遍照於十方,微妙淨法身,具相三十二,以八十種好,用莊嚴法身。天人所戴仰,龍神咸恭敬,一切眾生類,無不宗奉者。又聞成菩提,唯佛當證知,我闡大乘教,度脫苦眾生。」

Văn-thù-sư-lợi ngôn: “Ngã ư hải trung, duy thường tuyên thuyết diệu pháp hoa kinh.” Trí tích vấn Văn-thù-sư-lợi ngôn: “Thử kinh thậm thâm vi diệu, chư kinh trung bảo, thế sở hy hữu. Pha hữu chúng sinh, cần gia tinh tiến, tu hành thử kinh, tốc đắc Phật phủ?” Văn-thù-sư-lợi ngôn: “Hữu sa-kiệt-la long vương nữ, niên thủy bát tuế, trí tuệ lợi căn, thiện tri chúng sinh chư căn hành nghiệp, đắc đà-la-ni, chư Phật sở thuyết thậm thâm bí tàng, tất năng thọ trì. Thâm nhập thiền định, liễu đạt chư pháp, ư sát na khoảnh phát Bồ-đề tâm, đắc bất thoái chuyển, biện tài vô ngại. Từ niệm chúng sinh, do như xích tử, công đức cụ túc, tâm niệm khẩu diễn, vi diệu quảng đại, từ bi nhân nhượng, chí ý hòa nhã, năng chí Bồ-đề.” Trí tích Bồ-tát ngôn: “Ngã kiến thích ca Như-lai, ư vô lượng kiếp nan hành khổ hành, tích công lụy đức, cầu Bồ-đề đạo, vị tằng chỉ tức. Quán tam thiên đại thiên thế giới, nãi chí vô hữu như giới tử hứa phi thị Bồ-tát xả thân mệnh xứ, vi chúng sinh cố, nhiên hậu nãi đắc thành Bồ-đề đạo. Bất tín thử nữ ư tu du khoảnh, tiện thành chính giác.” Ngôn luận vị cật, thời long vương nữ hốt hiện ư tiền, đầu diện lễ kính, khước trụ nhất diện, dĩ kệ tán viết: “Thâm đạt tội phúc tướng, biến chiếu ư thập phương, vi diệu tịnh pháp thân, cụ tướng tam thập nhị, dĩ bát thập chủng hảo, dụng trang nghiêm pháp thân. Thiên nhân sở đội ngưỡng, long thần hàm cung kính, nhất thiết chúng sinh loại, vô bất tông phụng giả. Hựu văn thành Bồ-đề, duy Phật đương chứng tri, ngã xiển đại thừa giáo, độ thoát khổ chúng sinh.”

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Ta ở biển chỉ thường

tuyên nói kinh Diệu Pháp

Liên Hoa”. Ngài Trí Tích

hỏi ngài Văn Thù Sư

Lợi rằng: “Kinh này rất

sâu vi diệu là báu

trong các kinh, trong đời

rất ít có, vậy có

chúng sanh nào siêng năng

tinh tấn tu hành kinh

này mau được thành Phật

chăng?” Ngài Văn Thù Sư

Lợi nói: “Có con gái

của vua rồng Ta Kiệt La mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảng sát na phát tâm Bồ đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ đề”. Trí Tích Bồ Tát nói rằng: “Tôi thấy đức Thích Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ đề chưa từng có lúc thôi dứt: Ta xem trong cõi tam thiên đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạt cải, mà không phải là chỗ của Bồ Tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ đề, chẳng tin Long Nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc Chánh giác”. Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng: Thấu rõ tướng tội phước Khắp soi cả mười phương Pháp thân tịnh vi diệu Đủ ba mươi hai tướng Dùng tám mươi món tốt Để trang nghiêm pháp thân Trời, người đều kính ngưỡng Long thần thảy cung kính Tất cả loài chúng sanh Không ai chẳng tôn phụng Lại nghe thành Bồ đề Chỉ Phật nên chứng biết Tôi nói pháp Đại thừa Độ thoát khổ chúng sanh.

時舍利弗語龍女言:「汝謂不久得無上道,是事難信。所以者何?女身垢穢,非是法器,云何能得無上菩提。佛道懸曠,經無量劫勤苦積行,具修諸度,然後乃成。又女人身猶有五障:一者、不得作梵天王,二者、帝釋,三者、魔王,四者、轉輪聖王,五者、佛身。云何女身速得成佛?」爾時龍女有一寶珠,價直三千大千世界,持以上佛。佛即受之。龍女謂智積菩薩、尊者舍利弗言:「我獻寶珠,世尊納受,是事疾不?」答言:「甚疾。」女言:「以汝神力,觀我成佛,復速於此。」當時眾會,皆見龍女忽然之間變成男子,具菩薩行,即往南方無垢世界,坐寶蓮華,成等正覺,三十二相、八十種好,普為十方一切眾生演說妙法。爾時娑婆世界,菩薩、聲聞、天龍八部、人與非人,皆遙見彼龍女成佛,普為時會人天說法,心大歡喜,悉遙敬禮。無量眾生,聞法解悟,得不退轉;無量眾生,得受道記。無垢世界,六反震動;娑婆世界,三千眾生住不退地,三千眾生發菩提心而得受記。智積菩薩及舍利弗,一切眾會,默然信受。

Thời Xá-lợi-phất ngữ long nữ ngôn: “Nhữ vị bất cửu đắc vô thượng đạo, thị sự nan tín. Sở dĩ giả hà? Nữ thân cấu uế, phi thị pháp khí, vân hà năng đắc vô thượng Bồ-đề. Phật đạo huyền khoáng, kinh vô lượng kiếp cần khổ tích hành, cụ tu chư độ, nhiên hậu nãi thành. Hựu nữ nhân thân do hữu ngũ chướng: Nhất giả, bất đắc tác phạm thiên vương, nhị giả, đế thích, tam giả, ma vương, tứ giả, chuyển luân thánh vương, ngũ giả, Phật thân. Vân hà nữ thân tốc đắc thành Phật?” Nhĩ thời long nữ hữu nhất bảo châu, giá trực tam thiên đại thiên thế giới, trì dĩ thượng Phật. Phật tức thọ chi. Long nữ vị trí tích Bồ-tát, tôn giả Xá-lợi-phất ngôn: “Ngã hiến bảo châu, Thế-tôn nạp thọ, thị sự tật phủ?” Đáp ngôn: “Thậm tật.” Nữ ngôn: “Dĩ nhữ thần lực, quán ngã thành Phật, phục tốc ư thử.” Đương thời chúng hội, giai kiến long nữ hốt nhiên chi gian biến thành nam tử, cụ Bồ-tát hành, tức vãng nam phương vô cấu thế giới, tọa bảo liên hoa, thành đẳng chính giác, tam thập nhị tướng, bát thập chủng hảo, phổ vi thập phương nhất thiết chúng sinh diễn thuyết diệu pháp. Nhĩ thời Ta-bà thế giới, Bồ-tát, thanh văn, thiên long bát bộ, nhân dữ phi nhân, giai dao kiến bỉ long nữ thành Phật, phổ vi thời hội nhân thiên thuyết pháp, tâm đại hoan hỷ, tất dao kính lễ. Vô lượng chúng sinh, văn pháp giải ngộ, đắc bất thoái chuyển; vô lượng chúng sinh, đắc thọ đạo ký. Vô cấu thế giới, lục phản chấn động; Ta-bà thế giới, tam thiên chúng sinh trụ bất thoái địa, tam thiên chúng sinh phát Bồ-đề tâm nhi đắc thọ ký. Trí tích Bồ-tát cập Xá-lợi-phất, nhất thiết chúng hội, mặc nhiên tín thọ.

Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất nói với Long Nữ rằng: “Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành vô thượng chánh giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: Một, chẳng được làm Phạm thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển luân thánh vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?” Lúc đó, Long Nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dâng đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ Tát cùng tôn giả Xá Lợi Phất rằng: “Tôi hiến châu báu, đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?” - Đáp: “Rất mau”. - Long Nữ nói: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó”. Đang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long Nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ Tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu. Khi ấy trong cõi Ta bà hàng Bồ Tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhơn cùng phi nhơn đều xa thấy Long Nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhơn, thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta bà ba nghìn chúng sanh trụ bậc Bất thối, ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký. Trí Tích Bồ Tát và ngài Xá Lợi Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.

PHẨM “TRÌ” THỨ MƯỜI BA

妙法蓮華經勸持品第十三

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh khuyến trì phẩm đệ thập tam

PHẨM “TRÌ” THỨ MƯỜI BA

爾時藥王菩薩摩訶薩及大樂說菩薩摩訶薩,與二萬菩薩眷屬俱,皆於佛前作是誓言:「唯願世尊不以為慮。我等於佛滅後,當奉持、讀誦、說此經典。後惡世眾生,善根轉少,多增上慢,貪利供養,增不善根,遠離解脫。雖難可教化,我等當起大忍力,讀誦此經,持說、書寫、種種供養,不惜身命。」

Nhĩ thời dược vương Bồ-tát Ma-ha tát cập đại nhạo thuyết Bồ-tát Ma-ha tát, dữ nhị vạn Bồ-tát quyến thuộc câu, giai ư Phật tiền tác thị thệ ngôn: “Duy nguyện Thế-tôn bất dĩ vi lự. Ngã đẳng ư Phật diệt hậu, đương phụng trì, độc tụng, thuyết thử kinh điển. Hậu ác thế chúng sinh, thiện căn chuyển thiểu, đa tăng thượng mạn, tham lợi cúng dường, tăng bất thiện căn, viễn ly giải thoát. Tuy nan khả giáo hóa, ngã đẳng đương khởi đại nhẫn lực, độc tụng thử kinh, trì thuyết, thư tả, chủng chủng cúng dường, bất tích thân mệnh.”

Lúc bấy giờ, ngài Dược Vương đại Bồ Tát và ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát Ma ha tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ Tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sanh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng”.

爾時眾中五百阿羅漢得受記者、白佛言:「世尊!我等亦自誓願,於異國土、廣說此經。」復有學、無學八千人、得受記者,從座而起,合掌向佛作是誓言:「世尊!我等亦當於他國土廣說此經。所以者何?是娑婆國中,人多弊惡,懷增上慢,功德淺薄、瞋濁諂曲,心不實故。」

Nhĩ thời chúng trung ngũ bách A-la-hán đắc thọ ký giả, bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng diệc tự thệ nguyện, ư dị quốc độ, quảng thuyết thử kinh.” Phục hữu học, vô học bát thiên nhân, đắc thọ ký giả, tùng tòa nhi khởi, hợp chưởng hướng Phật tác thị thệ ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng diệc đương ư tha quốc độ quảng thuyết thử kinh. Sở dĩ giả hà? Thị Ta-bà quốc trung, nhân đa tệ ác, hoài tăng thượng mạn, công đức thiển bạc, sân trọc siểm khúc, tâm bất thực cố.”

Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A la hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này”. Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này. Vì sao? Vì người trong nước Ta bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, tà vạy tâm không chơn thật”.

爾時佛姨母摩訶波闍波提比丘尼,與學、無學比丘尼六千人俱,從座而起,一心合掌,瞻仰尊顏,目不暫捨。於時世尊告憍曇彌:「何故憂色而視如來,汝心將無謂我不說汝名,授阿耨多羅三藐三菩提記耶?憍曇彌!我先總說一切聲聞皆已授記,今汝欲知記者,將來之世,當於六萬八千億諸佛法中為大法師,及六千學、無學比丘尼俱為法師。汝如是漸漸具菩薩道,當得作佛,號一切眾生喜見如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。憍曇彌!是一切眾生喜見佛及六千菩薩,轉次授記得阿耨多羅三藐三菩提。」爾時羅睺羅母耶輸陀羅比丘尼作是念:「世尊於授記中,獨不說我名。」佛告耶輸陀羅:「汝於來世百千萬億諸佛法中修菩薩行,為大法師,漸具佛道。於善國中當得作佛,號具足千萬光相如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。佛壽無量阿僧祇劫。」爾時摩訶波闍波提比丘尼及耶輸陀羅比丘尼,并其眷屬,皆大歡喜,得未曾有,即於佛前而說偈言:「世尊導師,安隱天人,我等聞記,心安具足。」諸比丘尼說是偈已,白佛言:「世尊!我等亦能於他方國土廣宣此經。」

Nhĩ thời Phật di mẫu Ma-ha ba xà ba đề tỳ-kheo ni, dữ học, vô học tỳ-kheo ni lục thiên nhân câu, tùng tòa nhi khởi, nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng tôn nhan, mục bất tạm xả. Ư thời Thế-tôn cáo kiêu đàm di: “Hà cố ưu sắc nhi thị Như-lai, nhữ tâm tương vô vị ngã bất thuyết nhữ danh, thụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký da? Kiêu đàm di! Ngã tiên tổng thuyết nhất thiết thanh văn giai dĩ thụ ký, kim nhữ dục tri ký giả, tương lai chi thế, đương ư lục vạn bát thiên ức chư Phật pháp trung vi đại pháp sư, cập lục thiên học, vô học tỳ-kheo ni câu vi pháp sư. Nhữ như thị tiệm tiệm cụ Bồ-tát đạo, đương đắc tác Phật, hiệu nhất thiết chúng sinh hỷ kiến Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kiêu đàm di! Thị nhất thiết chúng sinh hỷ kiến Phật cập lục thiên Bồ-tát, chuyển thứ thụ ký đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.” Nhĩ thời La-hầu-la mẫu Da-du-đà-la tỳ-kheo ni tác thị niệm: “Thế-tôn ư thụ ký trung, độc bất thuyết ngã danh.” Phật cáo Da-du-đà-la: “Nhữ ư lai thế bách thiên vạn ức chư Phật pháp trung tu Bồ-tát hành, vi đại pháp sư, tiệm cụ Phật đạo. Ư thiện quốc trung đương đắc tác Phật, hiệu cụ túc thiên vạn quang tướng Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Phật thọ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp.” Nhĩ thời Ma-ha ba xà ba đề tỳ-kheo ni cập Da-du-đà-la tỳ-kheo ni, tinh kỳ quyến thuộc, giai đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu, tức ư Phật tiền nhi thuyết kệ ngôn: “Thế-tôn đạo sư, an ẩn thiên nhân, ngã đẳng văn ký, tâm an cụ túc.” Chư tỳ-kheo ni thuyết thị kệ dĩ, bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng diệc năng ư tha phương quốc độ quảng tuyên thử kinh.”

Khi đó, dì của Phật là Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni cùng chung với bậc “học” và “vô học” Tỳ kheo ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kiều Đàm Di: “Cớ chi có sắc buồn

mà nhìn Như Lai, tâm

ngươi toan không cho rằng

ta chẳng nói đến tên ngươi, để thọ ký thành vô thượng chánh đẳng chánh giác ư? Kiều Đàm Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh văn đều đã được thọ ký, nay ngươi muốn biết thọ ký đó, đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong pháp hội của sáu muôn tám nghìn ức đức Phật làm vị đại Pháp Sư và sáu nghìn vị “học” “vô học” Tỳ kheo ni đều làm Pháp sư. Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ Tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiều Đàm Di! Đức Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ Tát tuần tự thọ ký được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là bà Gia Du Đà La Tỳ kheo ni nghĩ rằng: “Thế Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi”. Phật bảo bà Gia Du Đà La: “Ngươi ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, tu hạnh Bồ Tát, làm vị đại Pháp sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp”. Lúc đó bà Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni và bà Gia Du Đà La Tỳ kheo ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng: Đấng Thế Tôn Đạo Sư Làm an ổn trời người Chúng con nghe thọ ký Lòng an vui đầy đủ. Các vị Tỳ kheo ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: “Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này”.

爾時世尊視八十萬億那由他諸菩薩摩訶薩。是諸菩薩——皆是阿惟越致,轉不退法輪,得諸陀羅尼——即從座起,至於佛前,一心合掌,而作是念:「若世尊告勅我等持說此經者,當如佛教,廣宣斯法。」復作是念:「佛今默然,不見告勅,我當云何?」時諸菩薩敬順佛意,并欲自滿本願,便於佛前,作師子吼而發誓言:「世尊!我等於如來滅後,周旋往返十方世界,能令眾生書寫此經,受持、讀誦,解說其義,如法修行,正憶念,皆是佛之威力。唯願世尊,在於他方遙見守護。」即時諸菩薩俱同發聲、而說偈言:

Nhĩ thời Thế-tôn thị bát thập vạn ức na-do-tha chư Bồ-tát Ma-ha tát. Thị chư Bồ-tát——giai thị a duy việt trí, chuyển bất thoái pháp luân, đắc chư đà-la-ni——tức tùng tòa khởi, chí ư Phật tiền, nhất tâm hợp chưởng, nhi tác thị niệm: “Nhược Thế-tôn cáo sắc ngã đẳng trì thuyết thử kinh giả, đương như Phật giáo, quảng tuyên tư pháp.” Phục tác thị niệm: “Phật kim mặc nhiên, bất kiến cáo sắc, ngã đương vân hà?” Thời chư Bồ-tát kính thuận Phật ý, tinh dục tự mãn bản nguyện, tiện ư Phật tiền, tác sư tử hống nhi phát thệ ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng ư Như-lai diệt hậu, chu toàn vãng phản thập phương thế giới, năng lệnh chúng sinh thư tả thử kinh, thọ trì, độc tụng, giải thuyết kỳ nghĩa, như pháp tu hành, chính ức niệm, giai thị Phật chi uy lực. Duy nguyện Thế-tôn, tại ư tha phương dao kiến thủ hộ.” Tức thời chư Bồ-tát câu đồng phát thanh, nhi thuyết kệ ngôn:

Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na do tha vị đại Bồ Tát, các vị Bồ Tát đó đều là bậc bất thối chuyển, chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chắp tay mà nghĩ rằng: “Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như Phật dạy rộng tuyên nói pháp này”. Các vị đó lại nghĩ: “Nay đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?” Lúc đó, các vị Bồ Tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng: “Thế Tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sanh biên chép kinh này, thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa lý, nghĩ nhớ chơn chánh, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức oai thần của Phật. Cúi mong đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho”. Tức thời các vị Bồ Tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:

「唯願不為慮,於佛滅度後,恐怖惡世中,我等當廣說。有諸無智人,惡口罵詈等,及加刀杖者,我等皆當忍。惡世中比丘,邪智心諂曲,未得謂為得,我慢心充滿。或有阿練若,納衣在空閑,自謂行真道,輕賤人間者。貪著利養故,與白衣說法,為世所恭敬,如六通羅漢。是人懷惡心,常念世俗事,假名阿練若,好出我等過,而作如是言:『此諸比丘等,為貪利養故,說外道論議;自作此經典,誑惑世間人,為求名聞故,分別於是經。』常在大眾中,欲毀我等故,向國王大臣,婆羅門居士,及餘比丘眾,誹謗說我惡,謂是邪見人,說外道論議。我等敬佛故,悉忍是諸惡。為斯所輕言,汝等皆是佛,如此輕慢言,皆當忍受之。濁劫惡世中,多有諸恐怖,惡鬼入其身,罵詈毀辱我。我等敬信佛,當著忍辱鎧,為說是經故,忍此諸難事。我不愛身命,但惜無上道,我等於來世,護持佛所囑,世尊自當知。濁世惡比丘,不知佛方便,隨宜所說法,惡口而顰蹙,數數見擯出,遠離於塔寺。如是等眾惡,念佛告勅故,皆當忍是事。諸聚落城邑,其有求法者,我皆到其所,說佛所囑法。我是世尊使,處眾無所畏,我當善說法,願佛安隱住。我於世尊前,諸來十方佛,發如是誓言,佛自知我心。」

“Duy nguyện bất vi lự, ư Phật diệt độ hậu, khủng bố ác thế trung, ngã đẳng đương quảng thuyết. Hữu chư vô trí nhân, ác khẩu mạ lị đẳng, cập gia đao trượng giả, ngã đẳng giai đương nhẫn. Ác thế trung tỳ-kheo, tà trí tâm siểm khúc, vị đắc vị vi đắc, ngã mạn tâm sung mãn. Hoặc hữu a-luyện-nhã, nạp y tại không nhàn, tự vị hành chân đạo, khinh tiện nhân gian giả. Tham trước lợi dưỡng cố, dữ bạch y thuyết pháp, vi thế sở cung kính, như lục thông la hán. Thị nhân hoài ác tâm, thường niệm thế tục sự, giả danh a-luyện-nhã, hảo xuất ngã đẳng quá, nhi tác như thị ngôn: ‘Thử chư tỳ-kheo đẳng, vi tham lợi dưỡng cố, thuyết ngoại đạo luận nghị; tự tác thử kinh điển, cuống hoặc thế gian nhân, vi cầu danh văn cố, phân biệt ư thị kinh.’ Thường tại đại chúng trung, dục hủy ngã đẳng cố, hướng quốc vương đại thần, bà-la-môn cư sĩ, cập dư tỳ-kheo chúng, phỉ báng thuyết ngã ác, vị thị tà kiến nhân, thuyết ngoại đạo luận nghị. Ngã đẳng kính Phật cố, tất nhẫn thị chư ác. Vi tư sở khinh ngôn, nhữ đẳng giai thị Phật, như thử khinh mạn ngôn, giai đương nhẫn thọ chi. Trọc kiếp ác thế trung, đa hữu chư khủng bố, ác quỷ nhập kỳ thân, mạ lị hủy nhục ngã. Ngã đẳng kính tín Phật, đương trước nhẫn nhục khải, vi thuyết thị kinh cố, nhẫn thử chư nan sự. Ngã bất ái thân mệnh, đãn tích vô thượng đạo, ngã đẳng ư lai thế, hộ trì Phật sở chúc, Thế-tôn tự đương tri. Trọc thế ác tỳ-kheo, bất tri Phật phương tiện, tùy nghi sở thuyết pháp, ác khẩu nhi tần xúc, số số kiến tấn xuất, viễn ly ư tháp tự. Như thị đẳng chúng ác, niệm Phật cáo sắc cố, giai đương nhẫn thị sự. Chư tụ lạc thành ấp, kỳ hữu cầu pháp giả, ngã giai đáo kỳ sở, thuyết Phật sở chúc pháp. Ngã thị Thế-tôn sử, xứ chúng vô sở úy, ngã đương thiện thuyết pháp, nguyện Phật an ẩn trụ. Ngã ư Thế-tôn tiền, chư lai thập phương Phật, phát như thị thệ ngôn, Phật tự tri ngã tâm.”

Cúi mong Phật chớ lo

Sau khi Phật diệt độ

Trong đời ác ghê sợ

Chúng con sẽ rộng nói.

Có những người vô trí

Lời ác mắng rủa thảy

Và dao gậy đánh đập

Chúng con đều phải nhẫn.

Tỳ kheo trong đời ác

Trí tà lòng dua vạy

Chưa được nói đã được

Lòng ngã mạn dẫy đầy,

Hoặc người mặc áo nạp

Lặng lẽ ở chỗ vắng

Tự nói tu chơn đạo

Khinh rẻ trong nhân gian

Vì ham ưa danh lợi

Nói pháp cho bạch y

Được người đời cung kính

Như lục thông La hán

Người đó ôm lòng ác

Thường nghĩ việc thế tục

Giả danh “A luyện nhã”

Ưa nói lỗi chúng con

Mà nói như thế này

Các bọn Tỳ kheo này

Vì lòng tham lợi dưỡng

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Tự làm kinh điển đó

Dối lầm người trong đời

Vì muốn cầu danh tiếng

Mà giải nói kinh đó

Thường ở trong đại chúng

Vì muốn phá chúng con

Đến Quốc vương, quan lớn

Bà la môn, cư sĩ

Và chúng Tỳ kheo khác

Chê bai nói xấu con

Đó là người tà kiến

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Chúng con vì kính Phật

Đều nhẫn các ác đó

Bị người đó khinh rằng

Các ngươi đều là Phật

Lời khinh mạn dường ấy

Đều sẽ nhẫn thọ đó.

Trong đời ác kiếp trược

Nhiều các sự sợ sệt

Quỷ dữ nhập thân kia

Mắng rủa hủy nhục con

Chúng con kính tin Phật

Sẽ mặc giáp nhẫn nhục

Vì để nói kinh này

Nên nhẫn các việc khó,

Con chẳng mến thân mạng

Chỉ tiếc đạo vô thượng.

Chúng con ở đời sau

Hộ trì lời Phật dặn

Thế Tôn tự nên biết

Tỳ kheo đời ác trược

Chẳng biết Phật phương tiện

Tùy cơ nghi nói pháp

Chau mày nói lời ác

Luôn luôn bị xua đuổi

Xa rời nơi chùa tháp

Các điều ác như thế

Nhớ lời Phật dặn bảo

Đều sẽ nhẫn việc đó

Các thành ấp xóm làng

Kia có người cầu pháp

Con đều đến chỗ đó

Nói pháp của Phật dặn.

Con là sứ của Phật

Ở trong chúng không sợ

Con sẽ khéo nói pháp

Xin Phật an lòng ở

Con ở trước Thế Tôn

Mười phương Phật đến nhóm

Phát lời thệ như thế

Phật tự rõ lòng con.

妙法蓮華經卷第四

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ tứ

(Hết Quyển Thứ Tư — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Tư”)

THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ tư)

Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)

Ôm châu đi làm thuê mướn, được chút ít cho là đủ. Nơi cao nguyên đào giếng, chí cầu suối sâu. Tháp báu vọt lên giáo hóa tròn khắp. Nhân cùng quả đồng nói. Pháp mầu ý khẩn cầu. NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)

Năm trăm đệ tử thọ ký chứng quả Phật. Tháp Phật Đa Bảo vọt ra trước, Ngài Nhạo Thuyết hỏi căn nguyên. Vì pháp cầu thầy hiền, nghe diễn kinh Diệu Liên. NAM MÔ QUÁ KHỨ ĐA BẢO PHẬT. (3 lần)

Hết Quyển 4

Tìm kinh, kệ, chú, truyện, pháp âm…