Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinhkinh dieu phap lien hoa妙法蓮華經卷第六
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ lục
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ SÁU
後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯
Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch
(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)
PHẨM “TÙY HỶ CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI TÁM
隨喜功德品第十八
Tùy hỷ công đức phẩm đệ thập bát
PHẨM “TÙY HỶ CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI TÁM
爾時,彌勒菩薩摩訶薩白佛言:「世尊!若有善男子、善女人,聞是法華經隨喜者,得幾所福?」而說偈言:「世尊滅度後,其有聞是經,若能隨喜者,為得幾所福?」
Nhĩ thời, Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị pháp hoa kinh tùy hỷ giả, đắc kỷ sở phúc?” Nhi thuyết kệ ngôn: “Thế-tôn diệt độ hậu, kỳ hữu văn thị kinh, nhược năng tùy hỷ giả, vi đắc kỷ sở phúc?”
Lúc bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có thiện
nam tử, thiện nữ nhơn
nào nghe kinh Pháp Hoa
này mà tùy hỷ đó, được bao nhiêu phước đức? Liền nói kệ rằng: Sau khi Phật diệt độ Có người nghe kinh này Nếu hay tùy hỷ đó (1) Lại được bao nhiêu phước?
爾時,佛告彌勒菩薩摩訶薩:「阿逸多!如來滅後,若比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,及餘智者若長若幼,聞是經隨喜已,從法會出,至於餘處,若在僧坊,若空閑地,若城邑、巷陌、聚落、田里,如其所聞,為父母、宗親、善友、知識,隨力演說。是諸人等,聞已隨喜,復行轉教;餘人聞已,亦隨喜轉教。如是展轉,至第五十。
Nhĩ thời, Phật cáo Di-lặc Bồ-tát Ma-ha tát: “A-dật-đa! Như-lai diệt hậu, nhược tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cập dư trí giả nhược trường nhược ấu, văn thị kinh tùy hỷ dĩ, tùng pháp hội xuất, chí ư dư xứ, nhược tại Tăng phường, nhược không nhàn địa, nhược thành ấp, hạng mạch, tụ lạc, điền lý, như kỳ sở văn, vi phụ mẫu, tông thân, thiện hữu, tri thức, tùy lực diễn thuyết. Thị chư nhân đẳng, văn dĩ tùy hỷ, phục hành chuyển giáo; dư nhân văn dĩ, diệc tùy hỷ chuyển giáo. Như thị triển chuyển, chí đệ ngũ thập.
Khi đó Phật bảo ngài Di Lặc Bồ Tát rằng: “A Dật Đa! Sau khi Như Lai diệt độ nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và người trí khác, hoặc lớn, hoặc nhỏ nghe kinh này mà tùy hỷ rồi, từ trong pháp hội ra đến chỗ khác, hoặc tại tăng phường, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc thành ấp, đường xá, xóm làng, ruộng rẫy, đem pháp đúng như chỗ đã nghe mà vì cha mẹ tôn thân, thiện hữu tri thức tùy sức diễn nói. Các người đó nghe rồi tùy hỷ lại đi truyền dạy người khác, người khác nghe rồi cũng tùy hỷ truyền dạy, xoay vần như thế đến người thứ năm mươi.
「阿逸多!其第五十善男子、善女人,隨喜功德,我今說之,汝當善聽。若四百萬億阿僧祇世界,六趣四生眾生——卵生、胎生、濕生、化生,若有形、無形,有想、無想,非有想、非無想,無足、二足、四足、多足,如是等在眾生數者——有人求福,隨其所欲娛樂之具,皆給與之。一一眾生,與滿閻浮提金、銀、琉璃、車𤦲馬腦、珊瑚、虎珀,諸妙珍寶,及象、馬車乘,七寶所成宮殿樓閣等。是大施主,如是布施滿八十年已,而作是念:『我已施眾生娛樂之具,隨意所欲,然此眾生,皆已衰老年過八十,髮白面皺,將死不久,我當以佛法而訓導之。』即集此眾生,宣布法化,示教利喜,一時皆得須陀洹道、斯陀含道、阿那含道、阿羅漢道,盡諸有漏,於深禪定皆得自在,具八解脫。於汝意云何,是大施主所得功德寧為多不?」彌勒白佛言:「世尊!是人功德甚多,無量無邊。若是施主,但施眾生一切樂具,功德無量;何況令得阿羅漢果。」佛告彌勒:「我今分明語汝,是人以一切樂具,施於四百萬億阿僧祇世界六趣眾生,又令得阿羅漢果,所得功德,不如是第五十人,聞法華經一偈隨喜功德,百分、千分、百千萬億分、不及其一,乃至算數譬喻所不能知。「阿逸多!如是第五十人展轉聞法華經隨喜功德,尚無量無邊阿僧祇,何況最初於會中聞而隨喜者,其福復勝,無量無邊阿僧祇,不可得比。
“A-dật-đa! Kỳ đệ ngũ thập thiện nam tử, thiện nữ nhân, tùy hỷ công đức, ngã kim thuyết chi, nhữ đương thiện thính. Nhược tứ bách vạn ức a-tăng-kỳ thế giới, lục thú tứ sinh chúng sinh——noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, nhược hữu hình, vô hình, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, vô túc, nhị túc, tứ túc, đa túc, như thị đẳng tại chúng sinh số giả——hữu nhân cầu phúc, tùy kỳ sở dục ngu lạc chi cụ, giai cấp dữ chi. Nhất nhất chúng sinh, dữ mãn Diêm-phù-đề kim, ngân, lưu-ly, xa cừ mã não, san hô, hổ phách, chư diệu trân bảo, cập tượng, mã xa thừa, thất bảo sở thành cung điện lâu các đẳng. Thị đại thi chủ, như thị bố thi mãn bát thập niên dĩ, nhi tác thị niệm: ‘Ngã dĩ thi chúng sinh ngu lạc chi cụ, tùy ý sở dục, nhiên thử chúng sinh, giai dĩ suy lão niên quá bát thập, phát bạch diện trứu, tương tử bất cửu, ngã đương dĩ Phật pháp nhi huấn đạo chi.’ Tức tập thử chúng sinh, tuyên bố pháp hóa, thị giáo lợi hỷ, nhất thời giai đắc Tu-đà-hoàn đạo, tư đà hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo, tận chư hữu lậu, ư thâm thiền định giai đắc tự tại, cụ bát giải thoát. Ư nhữ ý vân hà, thị đại thi chủ sở đắc công đức ninh vi đa phủ?” Di-lặc bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Thị nhân công đức thậm đa, vô lượng vô biên. Nhược thị thi chủ, đãn thi chúng sinh nhất thiết lạc cụ, công đức vô lượng; hà huống lệnh đắc A-la-hán quả.” Phật cáo Di-lặc: “Ngã kim phân minh ngữ nhữ, thị nhân dĩ nhất thiết lạc cụ, thi ư tứ bách vạn ức a-tăng-kỳ thế giới lục thú chúng sinh, hựu lệnh đắc A-la-hán quả, sở đắc công đức, bất như thị đệ ngũ thập nhân, văn pháp hoa kinh nhất kệ tùy hỷ công đức, bách phân, thiên phân, bách thiên vạn ức phân, bất cập kỳ nhất, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng tri. “A-dật-đa! Như thị đệ ngũ thập nhân triển chuyển văn pháp hoa kinh tùy hỷ công đức, thượng vô lượng vô biên a-tăng-kỳ, hà huống tối sơ ư hội trung văn nhi tùy hỷ giả, kỳ phúc phục thắng, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ, bất khả đắc tỷ.
A Dật Đa! Công đức tùy hỷ của thiện nam tử, thiện nữ nhơn thứ năm mươi đó, ta nay nói, ông phải lóng nghe. Nếu bốn trăm muôn ức vô số thế giới có sáu đường chúng sanh trong bốn loài sanh (2): Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hoặc có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, tất cả trong số chúng sanh như thế, có người cầu phước tùy theo đồ ưa thích của chúng muốn đều cung cấp cho đó. Mỗi mỗi chúng sanh cho các trân bảo tốt: Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách đầy cả Diêm phù đề và voi, ngựa, xe cộ, bảy báu, làm thành những cung điện lầu gác v.v... Vị đại thí chủ đó bố thí như thế đủ tám mươi năm rồi mà nghĩ rằng: “Ta đã ban cho chúng sanh những đồ ưa thích tùy theo ý muốn, những chúng sanh này đều đã già suy tuổi quá tám mươi, tóc bạc mặt nhăn gần chết chẳng lâu, ta phải dùng Phật Pháp mà dạy bảo dìu dắt chúng”. Liền nhóm chúng sanh đó tuyên bày pháp giáo hóa, chỉ dạy lợi ích vui mừng. Đồng thời được đạo Tu đà hoàn, đạo Tư đà hàm, đạo A na hàm, đạo A la hán dứt hết cả hữu lậu, với những thiền định sâu đều được tự tại, đủ tám món giải thoát. Ý ông nghĩ sao? Công đức của vị đại thí chủ đó được, có nhiều chăng? Ngài Di Lặc bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Công đức của người đó rất nhiều vô lượng vô biên. Nếu vị thí chủ đó chỉ thí tất cả đồ ưa thích cho chúng sanh công đức đã vô lượng rồi, huống là làm cho đều được quả A la hán”. Phật bảo ngài Di Lặc: “Ta nay rành rẽ nói cùng ông, người đó đem tất cả đồ vui thích thí cho sáu đường chúng sanh trong bốn trăm ức vô số thế giới lại khiến được quả A la hán, công đức của người đó được chẳng bằng công đức của người thứ năm mươi kia nghe một bài kệ kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ, trăm phần nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng bằng một phần, nhẫn đến tính, đếm, thí dụ không thể biết được”. A Dật Đa! Người thứ năm mươi như thế, xoay vần nghe kinh Pháp Hoa, công đức tùy hỷ còn vô lượng vô biên a tăng kỳ, huống là người tối sơ ở trong hội nghe kinh mà tùy hỷ, phước đó lại hơn vô lượng vô biên a tăng kỳ không có thể sánh được.
「又,阿逸多!若人為是經故,往詣僧坊,若坐、若立須臾聽受,緣是功德,轉身所生,得好上妙象、馬車乘、珍寶輦輿,及乘天宮。若復有人於講法處坐,更有人來,勸令坐聽,若分座令坐,是人功德,轉身得帝釋坐處,若梵王坐處,若轉輪聖王所坐之處。
“Hựu, A-dật-đa! Nhược nhân vi thị kinh cố, vãng nghệ Tăng phường, nhược tọa, nhược lập tu du thính thọ, duyên thị công đức, chuyển thân sở sinh, đắc hảo thượng diệu tượng, mã xa thừa, trân bảo liễn dư, cập thừa thiên cung. Nhược phục hữu nhân ư giảng pháp xứ tọa, cánh hữu nhân lai, khuyến lệnh tọa thính, nhược phân tòa lệnh tọa, thị nhân công đức, chuyển thân đắc đế thích tọa xứ, nhược phạm vương tọa xứ, nhược chuyển luân thánh vương sở tọa chi xứ.
Lại A Dật Đa! Nếu có người vì kinh này mà qua đến tăng phường, hoặc ngồi, hoặc đứng, trong chốc lát nghe nhận, nhờ công đức đó chuyển thân sanh ra được voi, ngựa, xe cộ, kiệu, cáng bằng trân bảo tốt đẹp bậc thượng và được ở thiên cung. Nếu có người ngồi trong chỗ giảng pháp, sau lại có người đến bèn khuyên mời ngồi nghe, hoặc chia chỗ cho ngồi, công đức của người đó chuyển thân được chỗ ngồi của Đế Thích, hoặc chỗ ngồi của Phạm vương, hoặc chỗ ngồi của Chuyển luân thánh vương.
「阿逸多!若復有人,語餘人言:『有經,名法華,可共往聽。』即受其教,乃至須臾間聞,是人功德,轉身得與陀羅尼菩薩共生一處,利根智慧,百千萬世終不瘖瘂,口氣不臭,舌常無病,口亦無病,齒不垢黑、不黃、不踈,亦不缺落,不差、不曲,脣不下垂亦不褰縮、不麁澁、不瘡胗,亦不缺壞,亦不喎斜,不厚、不大,亦不黧黑,無諸可惡。鼻不匾㔸,亦不曲戾,面色不黑,亦不狹長,亦不窊曲,無有一切不可喜相。脣舌牙齒悉皆嚴好,鼻修高直,面貌圓滿,眉高而長,額廣平正,人相具足,世世所生,見佛聞法、信受教誨。「阿逸多!汝且觀是,勸於一人令往聽法,功德如此,何況一心聽說、讀誦,而於大眾為人分別、如說修行?」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“A-dật-đa! Nhược phục hữu nhân, ngữ dư nhân ngôn: ‘Hữu kinh, danh pháp hoa, khả cộng vãng thính.’ Tức thọ kỳ giáo, nãi chí tu du gian văn, thị nhân công đức, chuyển thân đắc dữ đà-la-ni Bồ-tát cộng sinh nhất xứ, lợi căn trí tuệ, bách thiên vạn thế chung bất âm á, khẩu khí bất xú, thiệt thường vô bệnh, khẩu diệc vô bệnh, xỉ bất cấu hắc, bất hoàng, bất sơ, diệc bất khuyết lạc, bất sai, bất khúc, thần bất hạ thùy diệc bất khiên súc, bất thô sáp, bất sang chân, diệc bất khuyết hoại, diệc bất oai tà, bất hậu, bất đại, diệc bất lê hắc, vô chư khả ác. Tỵ bất biển sỉ, diệc bất khúc lệ, diện sắc bất hắc, diệc bất hẹp trường, diệc bất oa khúc, vô hữu nhất thiết bất khả hỷ tướng. Thần thiệt nha xỉ tất giai nghiêm hảo, tỵ tu cao trực, diện mạo viên mãn, mi cao nhi trường, ngạch quảng bình chính, nhân tướng cụ túc, thế thế sở sinh, kiến Phật văn pháp, tín thọ giáo hối. “A-dật-đa! Nhữ thả quán thị, khuyến ư nhất nhân lệnh vãng thính pháp, công đức như thử, hà huống nhất tâm thính thuyết, độc tụng, nhi ư đại chúng vi nhân phân biệt, như thuyết tu hành?” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
A Dật Đa! Nếu lại có người nói với người khác rằng: “Có kinh tên Pháp Hoa nên cùng nhau qua nghe”. Liền nhận lời bảo nhẫn đến nghe trong giây lát, công đức của người đó, chuyển thân được với Đà la ni Bồ Tát, sanh chung một chỗ, căn tánh lanh lợi, có trí huệ, trăm nghìn muôn đời, trọn chẳng ngọng câm, hơi miệng chẳng hôi, lưỡi thường không bệnh, miệng cũng không bệnh, răng chẳng đen dơ, chẳng vàng, chẳng thưa, cũng chẳng thiếu rụng, chẳng so le, chẳng sếu gãy, môi chẳng trớt, cũng chẳng rút túm, chẳng thô rít, chẳng ghẻ mụn, cũng chẳng sứt hư, cũng chẳng cong vẹo, chẳng dày chẳng lớn, cũng chẳng đen nám, không có các tướng đáng chê. Mũi chẳng xẹp giẹp, cũng chẳng cong gãy, sắc mặt chẳng đen, chẳng hẹp dài, cũng chẳng hóm gãy, không có tất cả tướng chẳng đáng ưa, môi lưỡi răng nướu thảy đều nghiêm tốt, mũi lớn cao thẳng, diện mạo tròn đầy, mày cao mà dài, trán rộng bằng thẳng, tướng người đầy đủ, đời đời sanh ra thấy Phật, nghe pháp tin nhận lời dạy bảo. A Dật Đa! Người hãy xem khuyên nơi một người khiến qua nghe pháp mà công đức như thế, huống là một lòng nghe, nói, đọc, tụng, lại ở trong đại chúng vì người phân biệt, đúng như lời dạy mà tu hành. Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若人於法會,得聞是經典,乃至於一偈,隨喜為他說,如是展轉教,至于第五十,最後人獲福,今當分別之。如有大施主,供給無量眾,具滿八十歲,隨意之所欲。見彼衰老相,髮白而面皺,齒踈形枯竭,念其死不久,我今應當教,令得於道果。即為方便說,涅槃真實法,世皆不牢固,如水沫泡焰,汝等咸應當,疾生厭離心。諸人聞是法,皆得阿羅漢,具足六神通,三明八解脫。最後第五十,聞一偈隨喜,是人福勝彼,不可為譬喻。如是展轉聞,其福尚無量,何況於法會,初聞隨喜者。若有勸一人,將引聽法華,言此經深妙,千萬劫難遇,即受教往聽,乃至須臾聞,斯人之福報,今當分別說。世世無口患,齒不踈黃黑,脣不厚褰缺,無有可惡相,舌不乾黑短,鼻高修且直,額廣而平正,面目悉端嚴,為人所喜見,口氣無臭穢,優鉢華之香、常從其口出。若故詣僧坊,欲聽法華經,須臾聞歡喜,今當說其福。後生天人中,得妙象馬車,珍寶之輦輿,及乘天宮殿。若於講法處,勸人坐聽經,是福因緣得,釋梵轉輪座。何況一心聽,解說其義趣,如說而修行,其福不可量。」
“Nhược nhân ư pháp hội, đắc văn thị kinh điển, nãi chí ư nhất kệ, tùy hỷ vi tha thuyết, như thị triển chuyển giáo, chí vu đệ ngũ thập, tối hậu nhân hoạch phúc, kim đương phân biệt chi. Như hữu đại thi chủ, cúng cấp vô lượng chúng, cụ mãn bát thập tuế, tùy ý chi sở dục. Kiến bỉ suy lão tướng, phát bạch nhi diện trứu, xỉ sơ hình khô kiệt, niệm kỳ tử bất cửu, ngã kim ưng đương giáo, lệnh đắc ư đạo quả. Tức vi phương tiện thuyết, Niết-bàn chân thực pháp, thế giai bất lao cố, như thủy mạt bào diễm, nhữ đẳng hàm ưng đương, tật sinh yếm ly tâm. Chư nhân văn thị pháp, giai đắc A-la-hán, cụ túc lục thần thông, tam minh bát giải thoát. Tối hậu đệ ngũ thập, văn nhất kệ tùy hỷ, thị nhân phúc thắng bỉ, bất khả vi thí dụ. Như thị triển chuyển văn, kỳ phúc thượng vô lượng, hà huống ư pháp hội, sơ văn tùy hỷ giả. Nhược hữu khuyến nhất nhân, tương dẫn thính pháp hoa, ngôn thử kinh thâm diệu, thiên vạn kiếp nan ngộ, tức thọ giáo vãng thính, nãi chí tu du văn, tư nhân chi phúc báo, kim đương phân biệt thuyết. Thế thế vô khẩu hoạn, xỉ bất sơ hoàng hắc, thần bất hậu khiên khuyết, vô hữu khả ác tướng, thiệt bất can hắc đoản, tỵ cao tu thả trực, ngạch quảng nhi bình chính, diện mục tất đoan nghiêm, vi nhân sở hỷ kiến, khẩu khí vô xú uế, ưu bát hoa chi hương, thường tùng kỳ khẩu xuất. Nhược cố nghệ Tăng phường, dục thính pháp hoa kinh, tu du văn hoan hỷ, kim đương thuyết kỳ phúc. Hậu sinh thiên nhân trung, đắc diệu tượng mã xa, trân bảo chi liễn dư, cập thừa thiên cung điện. Nhược ư giảng pháp xứ, khuyến nhân tọa thính kinh, thị phúc nhân duyên đắc, thích phạm chuyển luân tòa. Hà huống nhất tâm thính, giải thuyết kỳ nghĩa thú, như thuyết nhi tu hành, kỳ phúc bất khả lượng.”
Nếu người trong pháp hội
Được nghe kinh điển này
Nhẫn đến một bài kệ
Tùy hỷ vì người nói
Xoay vần dạy như thế
Đến người thứ năm mươi
Người rốt sau được phước
Nay sẽ phân biệt đó.
Như có đại thí chủ
Cung cấp vô lượng chúng
Đầy đủ tám mươi năm
Tùy ý chúng ưa muốn
Thấy chúng: Tướng già suy
Tóc bạc và mặt nhăn
Răng thưa, thân khô gầy
Nghĩ họ sắp phải chết
Ta nay phải nên dạy
Cho chúng được đạo quả
Liền vì phương tiện nói
Pháp Niết bàn chân thật
Đời đều chẳng bền chắc
Như bọt bóng ánh nắng
Các ngươi đều nên phải
Mau sanh lòng nhàm lìa.
Các người nghe pháp đó
Đều được A la hán
Đầy đủ sáu thần thông
Ba minh tám giải thoát.
Người năm mươi rốt sau
Nghe một kệ tùy hỷ
Người này phước hơn kia
Không thể thí dụ được
Xoay vần nghe như thế
Phúc đó còn vô lượng
Huống là trong pháp hội
Người tùy hỷ ban đầu.
Nếu có khuyên một người
Dắt đến nghe Pháp Hoa
Rằng: Kinh này rất mầu
Nghìn muôn kiếp khó gặp
Liền nhận lời qua nghe
Nhẫn đến nghe giây lát
Phước báo của người đó
Nay nên phân biệt nói.
Đời đời miệng không bệnh
Răng chẳng thưa, vàng, đen,
Môi chẳng dày teo thiếu
Không có tướng đáng chê.
Lưỡi chẳng khô đen ngắn
Mũi cao lớn mà ngay
Trán rộng và bằng thẳng
Mặt, mắt đều đoan nghiêm
Được người thấy ưa mến
Hơi miệng không hôi nhơ
Mùi thơm hoa ưu bát
Thường từ trong miệng ra.
Nếu cố đến tăng phường
Muốn nghe kinh Pháp Hoa
Giây lát nghe vui mừng
Nay sẽ nói phước đó:
Sau sanh trong trời người
Được voi, ngựa, xe tốt
Kiệu, cáng bằng trân báu,
Cùng ở cung điện trời.
Nếu trong chỗ giảng pháp
Khuyên người ngồi nghe kinh
Nhân vì phước đó được
Tòa Thích, Phạm, Chuyển Luân
Huống là một lòng nghe
Giải nói nghĩa thú kinh
Đúng như pháp mà tu
Phước đó chẳng lường được.
PHẨM “PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI CHÍN
妙法蓮華經法師功德品第十九
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh pháp sư công đức phẩm đệ thập cửu
PHẨM “PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI CHÍN
爾時佛告常精進菩薩摩訶薩:「若善男子、善女人,受持是法華經,若讀、若誦、若解說、若書寫,是人當得八百眼功德、千二百耳功德、八百鼻功德、千二百舌功德、八百身功德、千二百意功德,以是功德、莊嚴六根,皆令清淨。是善男子、善女人,父母所生清淨肉眼,見於三千大千世界內外所有山林河海,下至阿鼻地獄,上至有頂,亦見其中一切眾生,及業因緣、果報生處,悉見悉知。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Phật cáo thường tinh tiến Bồ-tát Ma-ha tát: “Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì thị pháp hoa kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, thị nhân đương đắc bát bách nhãn công đức, thiên nhị bách nhĩ công đức, bát bách tỵ công đức, thiên nhị bách thiệt công đức, bát bách thân công đức, thiên nhị bách ý công đức, dĩ thị công đức, trang nghiêm lục căn, giai lệnh thanh tịnh. Thị thiện nam tử, thiện nữ nhân, phụ mẫu sở sinh thanh tịnh nhục nhãn, kiến ư tam thiên đại thiên thế giới nội ngoại sở hữu sơn lâm hà hải, hạ chí A-tỳ địa ngục, thượng chí hữu đỉnh, diệc kiến kỳ trung nhất thiết chúng sinh, cập nghiệp nhân duyên, quả báo sinh xứ, tất kiến tất tri.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Thường Tinh Tấn đại Bồ Tát rằng: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ được tám trăm công đức nơi mắt, một nghìn hai trăm công đức nơi tai, tám trăm công đức nơi mũi, một nghìn hai trăm công đức nơi lưỡi, tám trăm công đức nơi thân, một nghìn hai trăm công đức nơi ý, dùng những công đức này trang nghiêm sáu căn đều được thanh tịnh. Thiện nam tử và thiện nữ nhơn đó, nhục nhãn thanh tịnh của cha mẹ sanh ra, thấy khắp cõi tam thiên đại thiên, trong ngoài có những núi, rừng, sông, biển, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến cõi trời Hữu Đảnh, cũng thấy tất cả chúng sanh trong đó và nghiệp nhân duyên quả báo chỗ sanh ra thảy đều thấy biết. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若於大眾中,以無所畏心、說是法華經,汝聽其功德。是人得八百、功德殊勝眼,以是莊嚴故,其目甚清淨。父母所生眼,悉見三千界,內外彌樓山,須彌及鐵圍,并諸餘山林、大海江河水,下至阿鼻獄,上至有頂處,其中諸眾生,一切皆悉見。雖未得天眼,肉眼力如是。
“Nhược ư đại chúng trung, dĩ vô sở úy tâm, thuyết thị pháp hoa kinh, nhữ thính kỳ công đức. Thị nhân đắc bát bách, công đức thù thắng nhãn, dĩ thị trang nghiêm cố, kỳ mục thậm thanh tịnh. Phụ mẫu sở sinh nhãn, tất kiến tam thiên giới, nội ngoại di lâu sơn, Tu-di cập thiết vi, tinh chư dư sơn lâm, đại hải giang hà thủy, hạ chí A-tỳ ngục, thượng chí hữu đỉnh xứ, kỳ trung chư chúng sinh, nhất thiết giai tất kiến. Tuy vị đắc thiên nhãn, nhục nhãn lực như thị.
Nếu người ở trong chúng
Dùng tâm không sợ sệt
Nói kinh Pháp Hoa này
Ông nghe công đức đó
Người đó được tám trăm
Công đức thù thắng nhãn
Do dùng đây trang nghiêm
Mắt kia rất thanh tịnh
Mắt thịt cha mẹ sanh
Thấy cả cõi tam thiên
Trong ngoài núi Di lâu
Núi Tu di, Thiết vi
Và các núi rừng khác
Biển lớn nước sông ngòi
Dưới đến ngục A tỳ
Trên đến trời Hữu Đảnh
Chúng sanh ở trong đó
Tất cả đều thấy rõ
Dầu chưa được thiên nhãn
Sức nhục nhãn như thế.
「復次,常精進!若善男子、善女人,受持此經,若讀、若誦、若解說、若書寫,得千二百耳功德。以是清淨耳,聞三千大千世界,下至阿鼻地獄,上至有頂,其中內外種種語言音聲——象聲、馬聲、牛聲、車聲,啼哭聲、愁歎聲,螺聲、鼓聲、鍾聲、鈴聲,笑聲、語聲,男聲、女聲、童子聲、童女聲,法聲、非法聲,苦聲、樂聲,凡夫聲、聖人聲,喜聲、不喜聲,天聲、龍聲、夜叉聲、乾闥婆聲、阿修羅聲、迦樓羅聲、緊那羅聲、摩睺羅伽聲,火聲、水聲、風聲,地獄聲、畜生聲、餓鬼聲,比丘聲、比丘尼聲,聲聞聲、辟支佛聲,菩薩聲、佛聲——以要言之,三千大千世界中一切內外所有諸聲,雖未得天耳,以父母所生清淨常耳,皆悉聞知,如是分別種種音聲而不壞耳根。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, thường tinh tiến! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì thử kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, đắc thiên nhị bách nhĩ công đức. Dĩ thị thanh tịnh nhĩ, văn tam thiên đại thiên thế giới, hạ chí A-tỳ địa ngục, thượng chí hữu đỉnh, kỳ trung nội ngoại chủng chủng ngữ ngôn âm thanh——tượng thanh, mã thanh, ngưu thanh, xa thanh, đề khóc thanh, sầu thán thanh, loa thanh, cổ thanh, chung thanh, linh thanh, tiếu thanh, ngữ thanh, nam thanh, nữ thanh, đồng tử thanh, đồng nữ thanh, pháp thanh, phi pháp thanh, khổ thanh, lạc thanh, phàm phu thanh, thánh nhân thanh, hỷ thanh, bất hỷ thanh, thiên thanh, long thanh, dạ-xoa thanh, càn-thát-bà thanh, a-tu-la thanh, ca-lâu-la thanh, khẩn-na-la thanh, ma-hầu-la-già thanh, hỏa thanh, thủy thanh, phong thanh, địa ngục thanh, súc sinh thanh, ngạ quỷ thanh, tỳ-kheo thanh, tỳ-kheo ni thanh, thanh văn thanh, Bích-chi Phật thanh, Bồ-tát thanh, Phật thanh——dĩ yếu ngôn chi, tam thiên đại thiên thế giới trung nhất thiết nội ngoại sở hữu chư thanh, tuy vị đắc thiên nhĩ, dĩ phụ mẫu sở sinh thanh tịnh thường nhĩ, giai tất văn tri, như thị phân biệt chủng chủng âm thanh nhi bất hoại nhĩ căn.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu người thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc biên chép, hoặc giải nói, được một nghìn hai trăm nhĩ công đức, dùng tai thanh tịnh đó, nghe khắp cõi tam thiên, dưới đến địa ngục vô gián, trên đến trời Hữu Đảnh, trong ngoài các thứ lời lẽ giọng tiếng. Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc la, tiếng buồn than, tiếng ốc; tiếng trống, tiếng chuông, tiếng linh, tiếng cười, tiếng nói, tiếng trai, tiếng gái, tiếng đồng tử, tiếng đồng nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng thánh nhân, tiếng đáng ưa, tiếng chẳng đáng ưa, tiếng trời, tiếng rồng, tiếng Dạ xoa, tiếng Càn thát bà, tiếng A tu la, tiếng Ca lâu la, tiếng Khẩn na la, tiếng Ma hầu la dà, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng địa ngục, tiếng súc sanh, tiếng ngạ quỷ, tiếng Tỳ kheo, tiếng Tỳ kheo ni, tiếng Thanh văn, tiếng Bích chi Phật, tiếng Bồ Tát, tiếng Phật. Nói tóm đó, trong cõi tam thiên đại thiên, tất cả trong ngoài có các thứ tiếng, dầu chưa được thiên nhĩ dùng tai tầm thường thanh tịnh của cha mẹ sanh thảy đều nghe biết, phân biệt các thứ tiếng tăm như thế, mà chẳng hư nhĩ căn. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「父母所生耳,清淨無濁穢,以此常耳聞,三千世界聲。象馬車牛聲,鍾鈴螺鼓聲,琴瑟箜篌聲,簫笛之音聲,清淨好歌聲,聽之而不著,無數種人聲,聞悉能解了。又聞諸天聲,微妙之歌音,及聞男女聲,童子童女聲。山川嶮谷中,迦陵頻伽聲,命命等諸鳥,悉聞其音聲。地獄眾苦痛,種種楚毒聲,餓鬼飢渴逼,求索飲食聲,諸阿修羅等,居在大海邊,自共語言時,出于大音聲。如是說法者,安住於此間,遙聞是眾聲,而不壞耳根。十方世界中,禽獸鳴相呼,其說法之人,於此悉聞之。其諸梵天上,光音及遍淨,乃至有頂天,言語之音聲,法師住於此,悉皆得聞之。一切比丘眾,及諸比丘尼,若讀誦經典,若為他人說,法師住於此,悉皆得聞之。復有諸菩薩,讀誦於經法,若為他人說,撰集解其義,如是諸音聲,悉皆得聞之。諸佛大聖尊,教化眾生者,於諸大會中,演說微妙法,持此法華者,悉皆得聞之。三千大千界,內外諸音聲,下至阿鼻獄,上至有頂天,皆聞其音聲,而不壞耳根,其耳聰利故,悉能分別知。持是法花者,雖未得天耳,但用所生耳,功德已如是。
“Phụ mẫu sở sinh nhĩ, thanh tịnh vô trọc uế, dĩ thử thường nhĩ văn, tam thiên thế giới thanh. Tượng mã xa ngưu thanh, chung linh loa cổ thanh, cầm sắt không-hầu thanh, tiêu địch chi âm thanh, thanh tịnh hảo ca thanh, thính chi nhi bất trước, vô số chủng nhân thanh, văn tất năng giải liễu. Hựu văn chư thiên thanh, vi diệu chi ca âm, cập văn nam nữ thanh, đồng tử đồng nữ thanh. Sơn xuyên hiểm cốc trung, ca-lăng-tần-già thanh, mệnh mệnh đẳng chư điểu, tất văn kỳ âm thanh. Địa ngục chúng khổ thống, chủng chủng sở độc thanh, ngạ quỷ cơ khát bức, cầu sách ẩm thực thanh, chư a-tu-la đẳng, cư tại đại hải biên, tự cộng ngữ ngôn thời, xuất vu đại âm thanh. Như thị thuyết pháp giả, an trụ ư thử gian, dao văn thị chúng thanh, nhi bất hoại nhĩ căn. Thập phương thế giới trung, cầm thú minh tướng hô, kỳ thuyết pháp chi nhân, ư thử tất văn chi. Kỳ chư phạm thiên thượng, quang âm cập biến tịnh, nãi chí hữu đỉnh thiên, ngôn ngữ chi âm thanh, pháp sư trụ ư thử, tất giai đắc văn chi. Nhất thiết tỳ-kheo chúng, cập chư tỳ-kheo ni, nhược độc tụng kinh điển, nhược vi tha nhân thuyết, pháp sư trụ ư thử, tất giai đắc văn chi. Phục hữu chư Bồ-tát, độc tụng ư kinh pháp, nhược vi tha nhân thuyết, soạn tập giải kỳ nghĩa, như thị chư âm thanh, tất giai đắc văn chi. Chư Phật đại thánh tôn, giáo hóa chúng sinh giả, ư chư đại hội trung, diễn thuyết vi diệu pháp, trì thử pháp hoa giả, tất giai đắc văn chi. Tam thiên đại thiên giới, nội ngoại chư âm thanh, hạ chí A-tỳ ngục, thượng chí hữu đỉnh thiên, giai văn kỳ âm thanh, nhi bất hoại nhĩ căn, kỳ nhĩ thông lợi cố, tất năng phân biệt tri. Trì thị pháp hoa giả, tuy vị đắc thiên nhĩ, đãn dụng sở sinh nhĩ, công đức dĩ như thị.
Tai cha mẹ sanh ra
Trong sạch không đục nhơ
Dùng tai thường này nghe
Cả tiếng cõi tam thiên
Tiếng voi, ngựa, trâu, xe
Tiếng chung linh loa cổ
Tiếng cầm, sắt không hầu
Tiếng ống tiêu, ống địch
Tiếng ca hay thanh tịnh
Nghe đó mà chẳng ham.
Tiếng vô số giống người
Nghe đều hiểu rõ được
Lại nghe tiếng các trời
Tiếng ca rất nhiệm mầu
Và nghe tiếng trai, gái,
Tiếng đồng tử, đồng nữ
Trong núi sông hang hiểm
Tiếng Ca lăng tần già
Cộng mạng các chim thảy
Đều nghe tiếng của nó.
Địa ngục các đau đớn
Các thứ tiếng độc khổ
Ngạ quỷ đói khát bức
Tiếng tìm cầu uống ăn
Các hàng A tu la
Ở nơi bên biển lớn
Lúc cùng nhau nói năng
Vang ra tiếng tăm lớn
Như thế người nói pháp
An trụ ở trong đây
Xa nghe các tiếng đó
Mà chẳng hư nhĩ căn
Trong cõi nước mười phương
Cầm thú kêu hô nhau
Người nói kinh Pháp Hoa
Ở đây đều nghe đó
Trên các trời Phạm Thế
Quang Âm cùng Biến Tịnh
Nhẫn đến trời Hữu Đảnh
Tiếng tăm của kia nói
Pháp sư ở nơi đây
Thảy đều được nghe đó.
Tất cả chúng Tỳ kheo
Và các Tỳ kheo ni
Hoặc đọc tụng kinh điển,
Hoặc vì người khác nói
Pháp sư ở nơi đây
Thảy đều được nghe đó.
Lại có các Bồ Tát
Đọc tụng nơi kinh pháp
Hoặc vì người khác nói
Soạn tập giải nghĩa kinh
Các tiếng tăm như thế
Thảy đều được nghe đó.
Các Phật đấng Đại Thánh
Giáo hóa hàng chúng sanh
Ở trong các đại hội
Diễn nói pháp nhiệm mầu
Người trì Pháp Hoa này
Thảy đều được nghe đó.
Cõi tam thiên đại thiên
Các tiếng tăm trong ngoài
Dưới đến ngục A tỳ
(3) Trên đến trời Hữu Đảnh
(4) Đều nghe tiếng tăm kia
Mà chẳng hư nhĩ căn
Vì tai kia sáng lẹ
Đều hay phân biệt biết
Người trì kinh Pháp Hoa
Dầu chưa được thiên nhĩ
Chỉ dùng tai sanh ra
Công đức đã như thế.
「復次,常精進!若善男子、善女人,受持是經,若讀、若誦、若解說、若書寫,成就八百鼻功德。以是清淨鼻根,聞於三千大千世界上下內外種種諸香——須曼那華香、闍提華香、末利華香、瞻蔔華香、波羅羅華香,赤蓮華香、青蓮華香、白蓮華香,華樹香、菓樹香,栴檀香、沈水香、多摩羅跋香、多伽羅香,及千萬種和香,若末、若丸、若塗香——持是經者,於此間住,悉能分別。又復別知眾生之香——象香、馬香、牛羊等香,男香、女香、童子香、童女香,及草木叢林香——若近、若遠、所有諸香,悉皆得聞,分別不錯。持是經者,雖住於此,亦聞天上諸天之香——波利質多羅、拘鞞陀羅樹香,及曼陀羅華香、摩訶曼陀羅華香、曼殊沙華香、摩訶曼殊沙華香、栴檀、沈水、種種末香,諸雜華香——如是等天香和合所出之香,無不聞知。又聞諸天身香——釋提桓因在勝殿上,五欲娛樂嬉戲時香;若在妙法堂上,為忉利諸天說法時香;若於諸園遊戲時香;及餘天等男女身香,皆悉遙聞。如是展轉乃至梵世,上至有頂諸天身香,亦皆聞之,并聞諸天所燒之香。及聲聞香、辟支佛香、菩薩香、諸佛身香,亦皆遙聞,知其所在。雖聞此香,然於鼻根不壞不錯,若欲分別為他人說,憶念不謬。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, thường tinh tiến! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì thị kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, thành tựu bát bách tỵ công đức. Dĩ thị thanh tịnh tỵ căn, văn ư tam thiên đại thiên thế giới thượng hạ nội ngoại chủng chủng chư hương——tu mạn na hoa hương, xà đề hoa hương, mạt lợi hoa hương, chiêm bặc hoa hương, ba la la hoa hương, xích liên hoa hương, thanh liên hoa hương, bạch liên hoa hương, hoa thụ hương, quả thụ hương, chiên-đàn hương, trầm thủy hương, đa-ma-la-bạt hương, đa già la hương, cập thiên vạn chủng hòa hương, nhược mạt, nhược hoàn, nhược đồ hương——trì thị kinh giả, ư thử gian trụ, tất năng phân biệt. Hựu phục biệt tri chúng sinh chi hương——tượng hương, mã hương, ngưu dương đẳng hương, nam hương, nữ hương, đồng tử hương, đồng nữ hương, cập thảo mộc tùng lâm hương——nhược cận, nhược viễn, sở hữu chư hương, tất giai đắc văn, phân biệt bất thác. Trì thị kinh giả, tuy trụ ư thử, diệc văn thiên thượng chư thiên chi hương——ba lợi chất đa la, câu bỉnh đà la thụ hương, cập mạn-đà-la hoa hương, Ma-ha mạn-đà-la hoa hương, mạn-thù-sa hoa hương, Ma-ha mạn-thù-sa hoa hương, chiên-đàn, trầm thủy, chủng chủng mạt hương, chư tạp hoa hương——như thị đẳng thiên hương hòa hợp sở xuất chi hương, vô bất văn tri. Hựu văn chư thiên thân hương——Thích-đề-hoàn-nhân tại thắng điện thượng, ngũ dục ngu lạc hi hí thời hương; nhược tại diệu pháp đường thượng, vi đao lợi chư thiên thuyết pháp thời hương; nhược ư chư viên du hí thời hương; cập dư thiên đẳng nam nữ thân hương, giai tất dao văn. Như thị triển chuyển nãi chí phạm thế, thượng chí hữu đỉnh chư thiên thân hương, diệc giai văn chi, tinh văn chư thiên sở thiêu chi hương. Cập thanh văn hương, Bích-chi Phật hương, Bồ-tát hương, chư Phật thân hương, diệc giai dao văn, tri kỳ sở tại. Tuy văn thử hương, nhiên ư tỵ căn bất hoại bất thác, nhược dục phân biệt vi tha nhân thuyết, ức niệm bất mậu.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn, thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, trọn nên tám trăm tỷ công đức, dùng tỹ căn thanh tịnh đó, ngửi khắp cõi tam thiên đại thiên, trên dưới trong ngoài các thứ mùi: Mùi hoa tu mạn na, mùi hoa xà đề, mùi hoa mạt lợi, mùi hoa chiêm bặc, mùi hoa ba la la, mùi hoa sen đỏ, mùi hoa sen xanh, mùi hoa sen trắng, mùi cây có hoa, mùi cây có trái, mùi chiên đàn, mùi trầm thủy, mùi đa ma la bạt, mùi đa dà la, đến trăm nghìn thứ hòa lộn, hoặc là bột, hoặc là viên, hoặc là hương xoa, người trì kinh này ở trong đây đều có thể phân biệt. Và lại rõ biết mùi chúng sanh: Mùi voi, mùi ngựa, mùi dê, trâu v.v... mùi trai, mùi gái, mùi đồng nữ và mùi cỏ cây lùm rừng, hoặc gần, hoặc xa, bao nhiêu thứ mùi có ra, thảy đều được ngửi rõ biết chẳng nhầm. Người trì kinh này dầu ở nơi đây cũng ngửi mùi trên các cõi trời: Mùi cây ba lợi chất đa la, cây câu bệ đà la, cùng mùi hoa mạn đà la, hoa đại mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa đại mạn thù sa, mùi gỗ chiên đàn, trầm thủy các thứ hương bột, mùi các hoa đẹp. Các thứ hương trời như thế hòa hợp thoảng ra mùi thơm đều ngửi biết. Lại ngửi mùi nơi thân của các vị trời: Mùi của Thích Đề Hoàn Nhơn lúc ở trên thắng điện, năm món dục vui chơi, hoặc mùi lúc ở trên Diệu Pháp Đường vì các vị trời Đao Lợi nói pháp, hoặc mùi lúc dạo chơi trong vườn, cùng mùi nơi thân của các vị trời nam nữ khác, thảy đều xa ngửi biết. Xoay vần như thế nhẫn đến trời Phạm Thế, trên đến mùi nơi thân các vị trời Hữu Đảnh cũng đều ngửi biết. Và ngửi mùi hương của các vị trời đốt và mùi Thanh văn, mùi Bích chi Phật, mùi Bồ Tát, mùi nơi thân các đức Phật, cũng đều xa ngửi biết chỗ ở của đó. Dầu ngửi biết hương ấy, nhưng nơi tỹ căn không hư không sai, nếu muốn phân biệt vì người khác nói nghi nhớ không nhầm. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「是人鼻清淨,於此世界中,若香若臭物,種種悉聞知。須曼那闍提、多摩羅栴檀、沈水及桂香,種種華菓香,及知眾生香,男子女人香,說法者遠住,聞香知所在。大勢轉輪王,小轉輪及子,群臣諸宮人,聞香知所在。身所著珍寶,及地中寶藏,轉輪王寶女,聞香知所在。諸人嚴身具,衣服及瓔珞,種種所塗香,聞香知其身。諸天若行坐,遊戲及神變,持是法華者,聞香悉能知。諸樹華菓實,及酥油香氣,持經者住此,悉知其所在。諸山深嶮處,栴檀樹花敷,眾生在中者,聞香皆能知。鐵圍山大海,地中諸眾生,持經者聞香,悉知其所在。阿修羅男女,及其諸眷屬,鬪諍遊戲時,聞香皆能知。曠野險隘處,師子象虎狼,野牛水牛等,聞香知所在。若有懷妊者,未辯其男女,無根及非人,聞香悉能知。以聞香力故,知其初懷妊,成就不成就,安樂產福子。以聞香力故,知男女所念,染欲癡恚心,亦知修善者。地中眾伏藏,金銀諸珍寶,銅器之所盛,聞香悉能知。種種諸瓔珞,無能識其價,聞香知貴賤,出處及所在。天上諸華等,曼陀曼殊沙、波利質多樹,聞香悉能知。天上諸宮殿,上中下差別,眾寶花莊嚴,聞香悉能知。天園林勝殿,諸觀妙法堂,在中而娛樂,聞香悉能知。諸天若聽法,或受五欲時,來往行坐臥,聞香悉能知。天女所著衣,好華香莊嚴,周旋遊戲時,聞香悉能知。如是展轉上,乃至於梵世,入禪出禪者,聞香悉能知。光音遍淨天,乃至于有頂,初生及退沒,聞香悉能知。諸比丘眾等,於法常精進,若坐若經行,及讀誦經法,或在林樹下,專精而坐禪,持經者聞香,悉知其所在。菩薩志堅固,坐禪若讀誦,或為人說法,聞香悉能知。在在方世尊,一切所恭敬,愍眾而說法,聞香悉能知。眾生在佛前,聞經皆歡喜,如法而修行,聞香悉能知。雖未得菩薩,無漏法生鼻,而是持經者,先得此鼻相。」
“Thị nhân tỵ thanh tịnh, ư thử thế giới trung, nhược hương nhược xú vật, chủng chủng tất văn tri. Tu mạn na xà đề, đa ma la chiên-đàn, trầm thủy cập quế hương, chủng chủng hoa quả hương, cập tri chúng sinh hương, nam tử nữ nhân hương, thuyết pháp giả viễn trụ, văn hương tri sở tại. Đại thế chuyển luân vương, tiểu chuyển luân cập tử, quần thần chư cung nhân, văn hương tri sở tại. Thân sở trước trân bảo, cập địa trung bảo tàng, chuyển luân vương bảo nữ, văn hương tri sở tại. Chư nhân nghiêm thân cụ, y phục cập anh lạc, chủng chủng sở đồ hương, văn hương tri kỳ thân. Chư thiên nhược hành tọa, du hí cập thần biến, trì thị pháp hoa giả, văn hương tất năng tri. Chư thụ hoa quả thực, cập tô dầu hương khí, trì kinh giả trụ thử, tất tri kỳ sở tại. Chư sơn thâm hiểm xứ, chiên-đàn thụ hoa phu, chúng sinh tại trung giả, văn hương giai năng tri. Thiết vi sơn đại hải, địa trung chư chúng sinh, trì kinh giả văn hương, tất tri kỳ sở tại. A-tu-la nam nữ, cập kỳ chư quyến thuộc, đấu tránh du hí thời, văn hương giai năng tri. Khoáng dã hiểm ải xứ, sư tử tượng hổ lang, dã ngưu thủy ngưu đẳng, văn hương tri sở tại. Nhược hữu hoài nhâm giả, vị biện kỳ nam nữ, vô căn cập phi nhân, văn hương tất năng tri. Dĩ văn hương lực cố, tri kỳ sơ hoài nhâm, thành tựu bất thành tựu, an lạc sản phúc tử. Dĩ văn hương lực cố, tri nam nữ sở niệm, nhiễm dục si huệ tâm, diệc tri tu thiện giả. Địa trung chúng phục tàng, kim ngân chư trân bảo, đồng khí chi sở thịnh, văn hương tất năng tri. Chủng chủng chư anh lạc, vô năng thức kỳ giá, văn hương tri quý tiện, xuất xứ cập sở tại. Thiên thượng chư hoa đẳng, mạn đà mạn-thù-sa, ba lợi chất đa thụ, văn hương tất năng tri. Thiên thượng chư cung điện, thượng trung hạ sai biệt, chúng bảo hoa trang nghiêm, văn hương tất năng tri. Thiên viên lâm thắng điện, chư quán diệu pháp đường, tại trung nhi ngu lạc, văn hương tất năng tri. Chư thiên nhược thính pháp, hoặc thọ ngũ dục thời, lai vãng hành tọa ngọa, văn hương tất năng tri. Thiên nữ sở trước y, hảo hoa hương trang nghiêm, chu toàn du hí thời, văn hương tất năng tri. Như thị triển chuyển thượng, nãi chí ư phạm thế, nhập thiền xuất thiền giả, văn hương tất năng tri. Quang âm biến tịnh thiên, nãi chí vu hữu đỉnh, sơ sinh cập thoái một, văn hương tất năng tri. Chư tỳ-kheo chúng đẳng, ư pháp thường tinh tiến, nhược tọa nhược kinh hành, cập độc tụng kinh pháp, hoặc tại lâm thụ hạ, chuyên tinh nhi tọa thiền, trì kinh giả văn hương, tất tri kỳ sở tại. Bồ-tát chí kiên cố, tọa thiền nhược độc tụng, hoặc vi nhân thuyết pháp, văn hương tất năng tri. Tại tại phương Thế-tôn, nhất thiết sở cung kính, mẫn chúng nhi thuyết pháp, văn hương tất năng tri. Chúng sinh tại Phật tiền, văn kinh giai hoan hỷ, như pháp nhi tu hành, văn hương tất năng tri. Tuy vị đắc Bồ-tát, vô lậu pháp sinh tỵ, nhi thị trì kinh giả, tiên đắc thử tỵ tướng.”
Người đó mũi thanh tịnh
Ở trong thế giới này
Hoặc vật thơm hoặc hôi
Các thứ đều ngửi biết.
Tu mạn na, xa đề
Đa ma la, chiên đàn
Trầm thủy và mùi quế
Mùi các thứ hoa trái
Và mùi các chúng sanh:
Mùi nam tử, nữ nhơn
Người nói pháp ở xa
Ngửi mùi biết chỗ nào.
Đại Thế Chuyển luân vương
Tiểu chuyển luân và con
Bầy tôi, các cung nhân
Ngửi mùi biết chỗ nào.
Trân bảo đeo nơi thân
Cùng tạng báu trong đất
Bảo nữ của Luân vương
Ngửi hương biết chỗ nào.
Mọi người đồ nghiêm thân
Y phục và chuỗi ngọc
Các thứ hương xoa thân
Ngửi mùi biết thân kia.
Các trời hoặc đi, ngồi
Dạo chơi và thần biến
Người trì Pháp Hoa này
Ngửi mùi đều biết được.
Các cây hoa trái hột
Và mùi thơm dầu tô
Người trì kinh ở đây
Đều biết ở chỗ nào.
Các núi, chỗ sâu hiểm
Cây chiên đàn nở hoa
Chúng sanh ở trong đó
Ngửi mùi đều biết được.
Núi Thiết vi, biển lớn
Các chúng sanh trong đất
Người trì kinh ngửi mùi
Đều biết đó ở đâu.
Trai gái A tu la
Và quyến thuộc của chúng
Lúc đánh cãi, dạo chơi
Ngửi hương đều biết được.
Đồng trống, chỗ hiểm trở
Sư tử, voi, hùm, sói
Bò rừng, trâu nước thảy
Ngửi hương biết chỗ ở.
Nếu có người nghén chửa
Chưa rõ trai hay gái
Không căn và phi nhơn
Ngửi mùi đều biết được.
Do vì sức ngửi mùi
Biết người mới nghén chửa
Thành tựu hay chẳng thành
An vui đẻ con phước.
Do vì sức ngửi mùi
Biết tâm niệm trai, gái
Lòng nhiễm dục ngu, hờn
Cũng biết người tu hành
Các phục tàng trong đất
Vàng, bạc, các trân bảo
Đồ đồng chỗ đựng chứa
Nghe nói đều biết được
Các thứ chuỗi ngọc báu
Không ai biết giá mấy
Ngửi mùi biết mắc rẻ
Chỗ sản xuất ở đâu.
Các thứ hoa trên trời
Mạn đà, mạn thù sa
Cây Ba lợi chất đa
Ngửi mùi đều biết được.
Các cung điện trên trời
Thượng, trung, hạ sai khác
Các hoa báu trang nghiêm
Ngửi hương đều biết được.
Thắng điện vườn rừng trời
Các nhà Diệu Pháp Đường
Ở trong đó vui chơi
Ngửi mùi đều biết được.
Các trời hoặc nghe pháp
Hoặc lúc hưởng ngũ dục
Lại, qua, đi, ngồi, nằm
Ngửi mùi đều biết được.
Thiên nữ mặc y phục
Hoa hương tốt trang nghiêm
Lúc quanh khắp dạo chơi
Ngửi mùi đều biết được.
Lần lượt lên như thế
Nhẫn đến trời Phạm Thế
Nhập thiền cùng xuất thiền
Ngửi mùi đều biết được.
Trời Quang Âm, Biến Tịnh
(5) Nhẫn đến trời Hữu Đảnh
Mới sanh và lui chết
Ngửi hương đều biết được.
Các hàng Tỳ kheo chúng
Nơi pháp thường tinh tấn
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Và đọc tụng kinh điển
Hoặc ở dưới rừng cây
Chuyên ròng mà ngồi thiền
Người trì kinh ngửi mùi
Đều biết ở tại đâu.
Bồ Tát chí bền chắc
Ngồi thiền hoặc đọc tụng
Hoặc vì người nói pháp
Ngửi mùi đều biết được.
Nơi nơi chỗ Thế Tôn
Được mọi người cung kính
Thương chúng mà nói pháp
Ngửi mùi đều biết được.
Chúng sanh ở trước Phật
Nghe kinh đều vui mừng
Đúng pháp mà tu hành
Ngửi mùi đều biết được.
Dầu chưa được vô lậu
Pháp sanh tỹ Bồ Tát
Mà người trì kinh đây
Trước được tướng mũi này.
「復次,常精進!若善男子、善女人,受持是經,若讀、若誦、若解說、若書寫,得千二百舌功德。若好、若醜,若美、不美,及諸苦澁物,在其舌根,皆變成上味,如天甘露,無不美者。若以舌根於大眾中有所演說,出深妙聲,能入其心,皆令歡喜快樂。又諸天子、天女,釋梵諸天,聞是深妙音聲,有所演說言論次第,皆悉來聽。及諸龍、龍女,夜叉、夜叉女,乾闥婆、乾闥婆女,阿修羅、阿修羅女,迦樓羅、迦樓羅女,緊那羅、緊那羅女,摩睺羅伽、摩睺羅伽女,為聽法故,皆來親近恭敬供養。及比丘、比丘尼,優婆塞、優婆夷,國王、王子、群臣、眷屬,小轉輪王、大轉輪王、七寶千子內外眷屬,乘其宮殿,俱來聽法,以是菩薩善說法故。婆羅門、居士、國內人民、盡其形壽,隨侍供養。又諸聲聞、辟支佛、菩薩、諸佛,常樂見之。是人所在方面,諸佛皆向其處說法,悉能受持一切佛法,又能出於深妙法音。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, thường tinh tiến! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì thị kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, đắc thiên nhị bách thiệt công đức. Nhược hảo, nhược xú, nhược mỹ, bất mỹ, cập chư khổ sáp vật, tại kỳ thiệt căn, giai biến thành thượng vị, như thiên cam lộ, vô bất mỹ giả. Nhược dĩ thiệt căn ư đại chúng trung hữu sở diễn thuyết, xuất thâm diệu thanh, năng nhập kỳ tâm, giai lệnh hoan hỷ khoái lạc. Hựu chư thiên tử, thiên nữ, thích phạm chư thiên, văn thị thâm Diệu Âm thanh, hữu sở diễn thuyết ngôn luận thứ đệ, giai tất lai thính. Cập chư long, long nữ, dạ-xoa, dạ-xoa nữ, càn-thát-bà, càn-thát-bà nữ, a-tu-la, a-tu-la nữ, ca-lâu-la, ca-lâu-la nữ, khẩn-na-la, khẩn-na-la nữ, ma-hầu-la-già, ma-hầu-la-già nữ, vi thính pháp cố, giai lai thân cận cung kính cúng dường. Cập tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, vương tử, quần thần, quyến thuộc, tiểu chuyển luân vương, đại chuyển luân vương, thất bảo thiên tử nội ngoại quyến thuộc, thừa kỳ cung điện, câu lai thính pháp, dĩ thị Bồ-tát thiện thuyết pháp cố. Bà-la-môn, cư sĩ, quốc nội nhân dân, tận kỳ hình thọ, tùy thị cúng dường. Hựu chư thanh văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát, chư Phật, thường nhạo kiến chi. Thị nhân sở tại phương diện, chư Phật giai hướng kỳ xứ thuyết pháp, tất năng thọ trì nhất thiết Phật pháp, hựu năng xuất ư thâm diệu pháp âm.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử, cùng thiện nữ nhơn thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm thiệt công đức. Những món hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc ngon, hoặc dở và các vật đắng chát, ở trên lưỡi của người đó, đều biến thành vị ngon như vị cam lồ trên trời không món nào là chẳng ngon. Nếu được thiệt căn đó ở trong đại chúng nói pháp có chỗ diễn ra tiếng sâu mầu có thể vào tâm chúng, đều làm cho vui mừng sướng thích. Lại các vị thiên tử, thiên nữ, các trời Thích, Phạm, nghe tiếng tăm thâm diệu này diễn nói ngôn luận thứ đệ, thảy đều đến nghe. Và các hàng Long, Long nữ, Dạ xoa, Dạ xoa nữ, Càn thát bà, Càn thát bà nữ, A tu la, A tu la nữ, Ca lầu la, Ca lầu la nữ, Khẩn na la, Khẩn na la nữ, Ma hầu la dà, Ma hầu la dà nữ, vì để nghe pháp mà đều đến gần gũi cung kính cúng dường. Và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Quốc vương, Vương tử, quần thần quyến thuộc, tiểu Chuyển luân vương, đại Chuyển luân vương, bảy báu, nghìn người con, cùng quyến thuộc trong ngoài, ngồi cung điện đồng đến nghe pháp. Vì vị Bồ Tát này khéo nói pháp, nên hàng Bà la môn, cư sĩ, nhân dân trong nước trọn đời theo hầu cúng dường. Lại các Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ Tát, các đức Phật thường ưa thấy người đó, người đó ở chỗ nào, các đức Phật đều xoay về phía đó nói pháp, người đó đều hay thọ trì tất cả Phật Pháp, lại có thể nói ra tiếng pháp sâu mầu. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「是人舌根淨,終不受惡味,其有所食噉,悉皆成甘露。以深淨妙聲,於大眾說法,以諸因緣喻,引導眾生心,聞者皆歡喜,設諸上供養。諸天龍夜叉,及阿修羅等,皆以恭敬心,而共來聽法,是說法之人,若欲以妙音,遍滿三千界,隨意即能至。大小轉輪王,及千子眷屬,合掌恭敬心,常來聽受法。諸天龍夜叉、羅剎毘舍闍,亦以歡喜心,常樂來供養。梵天王魔王,自在大自在,如是諸天眾,常來至其所。諸佛及弟子,聞其說法音,常念而守護,或時為現身。
“Thị nhân thiệt căn tịnh, chung bất thọ ác vị, kỳ hữu sở thực đạm, tất giai thành cam lộ. Dĩ thâm tịnh diệu thanh, ư đại chúng thuyết pháp, dĩ chư nhân duyên dụ, dẫn đạo chúng sinh tâm, văn giả giai hoan hỷ, thiết chư thượng cúng dường. Chư thiên long dạ-xoa, cập a-tu-la đẳng, giai dĩ cung kính tâm, nhi cộng lai thính pháp, thị thuyết pháp chi nhân, nhược dục dĩ Diệu Âm, biến mãn tam thiên giới, tùy ý tức năng chí. Đại tiểu chuyển luân vương, cập thiên tử quyến thuộc, hợp chưởng cung kính tâm, thường lai thính thọ pháp. Chư thiên long dạ-xoa, la-sát tỳ-xá xà, diệc dĩ hoan hỷ tâm, thường nhạo lai cúng dường. Phạm thiên vương ma vương, tự tại đại tự tại, như thị chư thiên chúng, thường lai chí kỳ sở. Chư Phật cập đệ tử, văn kỳ thuyết pháp âm, thường niệm nhi thủ hộ, hoặc thời vi hiện thân.
Người đó lưỡi thanh tịnh
Trọn không thọ vị xấu
Người đó ăn uống chi
Đều biến thành cam lồ.
Dùng tiếng hay thâm tịnh
Ở trong chúng nói pháp
Đem các nhân duyên dụ
Dẫn dắt lòng chúng sanh
Người nghe đều vui mừng
Bày đồ cúng dường tốt.
Các trời, rồng, Dạ xoa
Cùng A tu la thảy
Đều dùng lòng cung kính
Mà đồng đến nghe pháp
Người nói kinh pháp đó
Nếu muốn dùng tiếng mầu
Khắp cùng cõi Tam thiên
Tùy ý liền được đến.
Đại, Tiểu Chuyển luân vương
Và nghìn con quyến thuộc
Chắp tay lòng cung kính
Thường đến nghe thọ pháp,
Các trời, rồng, Dạ xoa
La sát, Tỳ xá xà
Cũng dùng lòng vui mừng
Thường ưa đến cúng dường,
Phạm thiên vương, Ma vương,
Tự tại, Đại tự tại
Các chúng trời như thế
Thường đến chỗ người đó.
Các Phật cùng đệ tử
Nghe người nói tiếng pháp
Thương nhớ giữ gìn cho
Hoặc lúc vì hiện thân.
「復次,常精進!若善男子、善女人,受持是經,若讀、若誦,若解說、若書寫,得八百身功德。得清淨身、如淨琉璃,眾生憙見。其身淨故,三千大千世界眾生,生時、死時,上下、好醜,生善處、惡處,悉於中現。及鐵圍山、大鐵圍山、彌樓山、摩訶彌樓山等諸山,及其中眾生,悉於中現。下至阿鼻地獄,上至有頂,所有及眾生,悉於中現。若聲聞、辟支佛、菩薩、諸佛說法,皆於身中現其色像。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, thường tinh tiến! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì thị kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, đắc bát bách thân công đức. Đắc thanh tịnh thân, như tịnh lưu-ly, chúng sinh hỷ kiến. Kỳ thân tịnh cố, tam thiên đại thiên thế giới chúng sinh, sinh thời, tử thời, thượng hạ, hảo xú, sinh thiện xứ, ác xứ, tất ư trung hiện. Cập thiết vi sơn, đại thiết vi sơn, di lâu sơn, Ma-ha di lâu sơn đẳng chư sơn, cập kỳ trung chúng sinh, tất ư trung hiện. Hạ chí A-tỳ địa ngục, thượng chí hữu đỉnh, sở hữu cập chúng sinh, tất ư trung hiện. Nhược thanh văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát, chư Phật thuyết pháp, giai ư thân trung hiện kỳ sắc tượng.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn thọ trì, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép được tám trăm thân công đức, được thân thanh tịnh như lưu ly sạch chúng sanh ưa thấy. Vì thân đó trong sạch nên chúng sanh trong cõi tam thiên đại thiên, lúc sanh lúc chết, trên dưới, tốt xấu, sanh chỗ lành, chỗ dữ v.v... đều hiện rõ trong đó. Và núi Thiết vi, núi Đại thiết vi, núi Di lâu, núi Đại di lâu v.v... các núi cùng chúng sanh ở trong đó đều hiện rõ trong thân, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh cảnh vật cùng chúng sanh đều hiện rõ trong thân. Hoặc là Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát cùng chư Phật nói pháp đều hiện sắc tượng ở trong thân. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「若持法花者,其身甚清淨,如彼淨琉璃,眾生皆憙見。又如淨明鏡,悉見諸色像,菩薩於淨身,皆見世所有,唯獨自明了,餘人所不見。三千世界中,一切諸群萌,天人阿修羅、地獄鬼畜生,如是諸色像,皆於身中現。諸天等宮殿,乃至於有頂,鐵圍及彌樓、摩訶彌樓山,諸大海水等,皆於身中現。諸佛及聲聞,佛子菩薩等,若獨若在眾,說法悉皆現。雖未得無漏,法性之妙身,以清淨常體,一切於中現。
“Nhược trì pháp hoa giả, kỳ thân thậm thanh tịnh, như bỉ tịnh lưu-ly, chúng sinh giai hỷ kiến. Hựu như tịnh minh kính, tất kiến chư sắc tượng, Bồ-tát ư tịnh thân, giai kiến thế sở hữu, duy độc tự minh liễu, dư nhân sở bất kiến. Tam thiên thế giới trung, nhất thiết chư quần manh, thiên nhân a-tu-la, địa ngục quỷ súc sinh, như thị chư sắc tượng, giai ư thân trung hiện. Chư thiên đẳng cung điện, nãi chí ư hữu đỉnh, thiết vi cập di lâu, Ma-ha di lâu sơn, chư đại hải thủy đẳng, giai ư thân trung hiện. Chư Phật cập thanh văn, Phật tử Bồ-tát đẳng, nhược độc nhược tại chúng, thuyết pháp tất giai hiện. Tuy vị đắc vô lậu, pháp tính chi diệu thân, dĩ thanh tịnh thường thể, nhất thiết ư trung hiện.
Nếu người trì Pháp Hoa
Thân thể rất thanh tịnh
Như lưu ly sạch kia
Chúng sanh đều ưa thấy.
Lại như gương sáng sạch
Đều thấy các sắc tượng
Bồ Tát nơi tịnh thân
Thấy cả vật trong đời
Chỉ riêng mình thấy rõ
Người khác không thấy được,
Trong cõi nước tam thiên
Tất cả các chúng sanh
Trời, người, A tu la
Địa ngục, quỷ, súc sanh
Các sắc tượng như thế
Đều hiện rõ trong thân.
Cung điện của các trời
Nhẫn đến trời Hữu Đảnh
Núi Thiết vi, Di lâu
Núi Ma ha Di lâu
Các biển nước lớn thảy
Đều hiện ở trong thân.
Các Phật cùng Thanh văn
Phật tử Bồ Tát thảy
Hoặc riêng, hoặc tại chúng
Nói pháp thảy đều hiện.
Dầu chưa được diệu thân
Pháp tánh sạch các lậu
Dùng thân thanh tịnh thường
Tất cả hiện trong đó.
「復次,常精進!若善男子、善女人,如來滅後、受持是經,若讀、若誦、若解說、若書寫,得千二百意功德。以是清淨意根,乃至聞一偈一句,通達無量無邊之義,解是義已,能演說一句一偈至於一月、四月乃至一歲,諸所說法,隨其義趣,皆與實相不相違背。若說俗間經書、治世語言、資生業等,皆順正法。三千大千世界六趣眾生,心之所行、心所動作、心所戲論,皆悉知之。雖未得無漏智慧,而其意根、清淨如此。是人有所思惟、籌量、言說,皆是佛法,無不真實,亦是先佛經中所說。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Phục thứ, thường tinh tiến! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, Như-lai diệt hậu, thọ trì thị kinh, nhược độc, nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, đắc thiên nhị bách ý công đức. Dĩ thị thanh tịnh ý căn, nãi chí văn nhất kệ nhất cú, thông đạt vô lượng vô biên chi nghĩa, giải thị nghĩa dĩ, năng diễn thuyết nhất cú nhất kệ chí ư nhất nguyệt, tứ nguyệt nãi chí nhất tuế, chư sở thuyết pháp, tùy kỳ nghĩa thú, giai dữ thực tướng bất tướng vi bối. Nhược thuyết tục gian kinh thư, trị thế ngữ ngôn, tư sinh nghiệp đẳng, giai thuận chính pháp. Tam thiên đại thiên thế giới lục thú chúng sinh, tâm chi sở hành, tâm sở động tác, tâm sở hí luận, giai tất tri chi. Tuy vị đắc vô lậu trí tuệ, nhi kỳ ý căn, thanh tịnh như thử. Thị nhân hữu sở tư duy, trù lượng, ngôn thuyết, giai thị Phật pháp, vô bất chân thực, diệc thị tiên Phật kinh trung sở thuyết.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lại nữa Thường Tinh Tấn! Sau khi Đức Như Lai diệt độ, nếu có người thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thời được một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh đó nhẫn đến nghe một kệ, một câu, suốt thấu vô lượng vô biên nghĩa, hiểu nghĩa đó rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến một tháng, bốn tháng nhẫn đến một năm. Các pháp nói ra tùy nghĩa thú kia đều cùng thật tướng chẳng trái nhau. Nếu nói kinh sách trong đời, lời lẽ trị thế, nghề nghiệp nuôi sống v.v... đều thuận chánh pháp. Sáu đường chúng sanh trong cõi tam thiên đại thiên, lòng nghĩ, tưởng, lòng động tác, lòng hý luận, thảy đều biết đó. Dầu chưa được trí huệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh như thế, người đó có suy nghĩ, tính lường, nói năng những chi thời đều là Phật pháp cả, không có gì là chẳng chân thật, cũng là lời trong kinh của các Phật thuở trước nói. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「是人意清淨,明利無穢濁,以此妙意根,知上中下法,乃至聞一偈,通達無量義,次第如法說,月四月至歲。是世界內外,一切諸眾生,若天龍及人、夜叉鬼神等,其在六趣中,所念若干種,持法花之報,一時皆悉知。十方無數佛,百福莊嚴相,為眾生說法,悉聞能受持。思惟無量義,說法亦無量,終始不忘錯,以持法華故。悉知諸法相,隨義識次第,達名字語言,如所知演說。此人有所說,皆是先佛法,以演此法故,於眾無所畏。持法花經者,意根淨若斯,雖未得無漏,先有如是相。是人持此經,安住希有地,為一切眾生,歡喜而愛敬。能以千萬種,善巧之語言,分別而說法,持法花經故。」
“Thị nhân ý thanh tịnh, minh lợi vô uế trọc, dĩ thử diệu ý căn, tri thượng trung hạ pháp, nãi chí văn nhất kệ, thông đạt vô lượng nghĩa, thứ đệ như pháp thuyết, nguyệt tứ nguyệt chí tuế. Thị thế giới nội ngoại, nhất thiết chư chúng sinh, nhược thiên long cập nhân, dạ-xoa quỷ thần đẳng, kỳ tại lục thú trung, sở niệm nhược can chủng, trì pháp hoa chi báo, nhất thời giai tất tri. Thập phương vô số Phật, bách phúc trang nghiêm tướng, vi chúng sinh thuyết pháp, tất văn năng thọ trì. Tư duy vô lượng nghĩa, thuyết pháp diệc vô lượng, chung thủy bất vong thác, dĩ trì pháp hoa cố. Tất tri chư pháp tướng, tùy nghĩa thức thứ đệ, đạt danh tự ngữ ngôn, như sở tri diễn thuyết. Thử nhân hữu sở thuyết, giai thị tiên Phật pháp, dĩ diễn thử pháp cố, ư chúng vô sở úy. Trì pháp hoa kinh giả, ý căn tịnh nhược tư, tuy vị đắc vô lậu, tiên hữu như thị tướng. Thị nhân trì thử kinh, an trụ hy hữu địa, vi nhất thiết chúng sinh, hoan hỷ nhi ái kính. Năng dĩ thiên vạn chủng, thiện xảo chi ngữ ngôn, phân biệt nhi thuyết pháp, trì pháp hoa kinh cố.”
Ý người đó thanh tịnh
Sáng lanh không đục nhơ
Dùng ý căn tốt đó
Biết pháp: Thượng, trung, hạ
Nhẫn đến nghe một kệ
Thông đạt vô lượng nghĩa
Thứ đệ nói đúng pháp
Tháng, bốn tháng, đến năm.
Trong ngoài của cõi này
Tất cả các chúng sanh
Hoặc trời rồng và người
Dạ xoa, quỷ, thần thảy
Kia ở trong sáu đường
Nghĩ tưởng bao nhiêu điều
Phước báo trì Pháp Hoa
Đồng thời thảy đều biết.
Vô số Phật mười phương
Trăm phước tướng trang nghiêm
Vì chúng sanh nói pháp
Đều nghe hay thọ trì.
Suy gẫm vô lượng nghĩa
Nói pháp cũng vô lượng
Sau trước chẳng quên lộn
Bởi thọ trì Pháp Hoa
Trọn biết các pháp tướng
Theo nghĩa rõ thứ đệ.
Suốt danh tự ngữ ngôn
Như chỗ biết diễn nói.
Người đó có nói ra
Là pháp của Phật trước
Vì diễn nói pháp này
Ở trong chúng không sợ.
Người trì kinh Pháp Hoa
Ý căn tịnh như thế
Dầu chưa được vô lậu
Trước có tướng dường ấy.
Người đó trì kinh này
An trụ bậc hy hữu
Được tất cả chúng sanh
Vui mừng mà mến kính.
Hay dùng nghìn muôn ức
Lời lẽ rất hay khéo
Phân biệt mà nói pháp
Bởi trì kinh Pháp Hoa.
PHẨM “THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI
妙法蓮華經常不輕菩薩品第二十
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thường Bất Khinh Bồ-tát phẩm đệ nhị thập
PHẨM “THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI
爾時,佛告得大勢菩薩摩訶薩:「汝今當知!若比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷持法花經者,若有惡口、罵詈、誹謗,獲大罪報,如前所說;
Nhĩ thời, Phật cáo đắc đại thế Bồ-tát Ma-ha tát: “Nhữ kim đương tri! Nhược tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di trì pháp hoa kinh giả, nhược hữu ác khẩu, mạ lị, phỉ báng, hoạch đại tội báo, như tiền sở thuyết;
Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài đại Bồ Tát Đắc Đại Thế rằng: “Ông nay nên biết! Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào thọ trì kinh Pháp Hoa này được công đức như trước đã nói, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cùng ý thanh tịnh, như có người nói lời thô ác mắng nhiếc chê bai, mắc tội báo lớn cũng như trước đã nói.
其所得功德,如向所說,眼、耳、鼻、舌、身、意清淨。「得大勢!乃往古昔,過無量無邊不可思議阿僧祇劫,有佛名威音王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。劫名離衰,國名大成。其威音王佛,於彼世中,為天、人、阿修羅說法,為求聲聞者,說應四諦法,度生老病死,究竟涅槃;為求辟支佛者,說應十二因緣法;為諸菩薩,因阿耨多羅三藐三菩提,說應六波羅蜜法,究竟佛慧。「得大勢!是威音王佛,壽四十萬億那由他恒河沙劫;正法住世劫數,如一閻浮提微塵;像法住世劫數,如四天下微塵。其佛饒益眾生已,然後滅度。正法、像法滅盡之後,於此國土復有佛出,亦號威音王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。如是次第有二萬億佛,皆同一號。
Kỳ sở đắc công đức, như hướng sở thuyết, nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý thanh tịnh. “Đắc đại thế! Nãi vãng cổ tích, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp, hữu Phật danh Uy Âm Vương Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kiếp danh ly suy, quốc danh đại thành. Kỳ Uy Âm Vương Phật, ư bỉ thế trung, vi thiên, nhân, a-tu-la thuyết pháp, vi cầu thanh văn giả, thuyết ưng tứ đế pháp, độ sinh lão bệnh tử, cứu cánh Niết-bàn; vi cầu Bích-chi Phật giả, thuyết ưng thập nhị nhân duyên pháp; vi chư Bồ-tát, nhân a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thuyết ưng lục ba-la-mật pháp, cứu cánh Phật tuệ. “Đắc đại thế! Thị Uy Âm Vương Phật, thọ tứ thập vạn ức na-do-tha hằng hà sa kiếp; chính pháp trụ thế kiếp số, như nhất Diêm-phù-đề vi trần; tượng pháp trụ thế kiếp số, như tứ thiên hạ vi trần. Kỳ Phật nhiêu ích chúng sinh dĩ, nhiên hậu diệt độ. Chính pháp, tượng pháp diệt tận chi hậu, ư thử quốc độ phục hữu Phật xuất, diệc hiệu Uy Âm Vương Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Như thị thứ đệ hữu nhị vạn ức Phật, giai đồng nhất hiệu.
Đắc Đại Thế! Về thuở xưa quá vô lượng vô biên bất khả tư nghì, vô số kiếp, có Phật hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên là Ly Suy, nước đó tên là Đại Thành. Đức Oai Âm Vương Phật trong đời đó vì hàng trời, người, A tu la mà nói pháp, vì người cầu Thanh văn mà nói pháp Tứ Đế, thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết bàn; vì người cầu Bích chi Phật mà nói pháp mười hai nhân duyên; vì các Bồ Tát nhân vô thượng chánh đẳng chánh giác mà nói sáu pháp ba la mật, rốt ráo trí huệ của Phật. Đắc Đại Thế! Đức Oai Âm Vương Phật đó sống lâu bốn mươi vạn ức na do tha hằng hà sa kiếp. Chánh pháp trụ ở đời kiếp số như vi trần trong một Diêm phù đề; tượng pháp trụ ở đời kiếp số như số vi trần trong bốn châu thiên hạ. Đức Phật đó lợi ích chúng sanh, vậy sau mới diệt độ, sau khi chánh pháp tượng pháp diệt hết, trong cõi nước đó lại có Phật ra đời, cũng hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, cứ thứ lớp như thế có hai muôn ức đức Phật đều đồng một hiệu.
「最初威音王如來既已滅度,正法滅後,於像法中,增上慢比丘有大勢力。爾時有一菩薩比丘名常不輕。得大勢!以何因緣名常不輕?是比丘,凡有所見——若比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷——皆悉禮拜讚歎而作是言:『我深敬汝等,不敢輕慢。所以者何?汝等皆行菩薩道,當得作佛。』而是比丘,不專讀誦經典,但行禮拜,乃至遠見四眾,亦復故往禮拜讚歎而作是言:『我不敢輕於汝等,汝等皆當作佛。』四眾之中,有生瞋恚、心不淨者,惡口罵詈言:『是無智比丘從何所來?自言:「我不輕汝。」而與我等授記,當得作佛。我等不用如是虛妄授記。』如此經歷多年,常被罵詈,不生瞋恚,常作是言:『汝當作佛。』說是語時,眾人或以杖木瓦石而打擲之,避走遠住,猶高聲唱言:『我不敢輕於汝等,汝等皆當作佛。』以其常作是語故,增上慢比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,號之為常不輕。
“Tối sơ Uy Âm Vương Như-lai ký dĩ diệt độ, chính pháp diệt hậu, ư tượng pháp trung, tăng thượng mạn tỳ-kheo hữu đại thế lực. Nhĩ thời hữu nhất Bồ-tát tỳ-kheo danh Thường Bất Khinh. Đắc đại thế! Dĩ hà nhân duyên danh Thường Bất Khinh? Thị tỳ-kheo, phàm hữu sở kiến——nhược tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di——giai tất lễ bái tán thán nhi tác thị ngôn: ‘Ngã thâm kính nhữ đẳng, bất cảm khinh mạn. Sở dĩ giả hà? Nhữ đẳng giai hành Bồ-tát đạo, đương đắc tác Phật.’ Nhi thị tỳ-kheo, bất chuyên độc tụng kinh điển, đãn hành lễ bái, nãi chí viễn kiến tứ chúng, diệc phục cố vãng lễ bái tán thán nhi tác thị ngôn: ‘Ngã bất cảm khinh ư nhữ đẳng, nhữ đẳng giai đương tác Phật.’ Tứ chúng chi trung, hữu sinh sân huệ, tâm bất tịnh giả, ác khẩu mạ lị ngôn: ‘Thị vô trí tỳ-kheo tùng hà sở lai? Tự ngôn: “Ngã bất khinh nhữ.” Nhi dữ ngã đẳng thụ ký, đương đắc tác Phật. Ngã đẳng bất dụng như thị hư vọng thụ ký.’ Như thử kinh lịch đa niên, thường bị mạ lị, bất sinh sân huệ, thường tác thị ngôn: ‘Nhữ đương tác Phật.’ Thuyết thị ngữ thời, chúng nhân hoặc dĩ trượng mộc ngõa thạch nhi đả trịch chi, tị tẩu viễn trụ, do cao thanh xướng ngôn: ‘Ngã bất cảm khinh ư nhữ đẳng, nhữ đẳng giai đương tác Phật.’ Dĩ kỳ thường tác thị ngữ cố, tăng thượng mạn tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hiệu chi vi Thường Bất Khinh.
Đức Oai Âm Vương Như Lai đầu hết diệt độ rồi, sau lúc chánh pháp đã diệt trong đời tượng pháp những Tỳ kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Bấy giờ, có vị Bồ Tát Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh. Đắc Đại Thế! Vì cớ gì tên là Thường Bất Khinh? Vì vị Tỳ kheo đó phàm khi ngó thấy hoặc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, hoặc Ưu bà tắc, Ưu bà di, thảy đều lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: “Tôi rất kính quý Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý Ngài đều tu hành đạo Bồ Tát sẽ được làm Phật”. Mà vị Tỳ kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ đi lễ lạy, nhẫn đến xa thấy hàng tứ chúng, cũng cố qua lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: “Tôi chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ làm Phật”. Trong hàng tứ chúng có người lòng bất tịnh sanh giận hờn, buông lời ác mắng nhiếc rằng: “Ông vô trí Tỳ kheo này từ đâu đến đây tự nói ta chẳng khinh Ngài, mà thọ ký cho chúng ta sẽ được làm Phật, chúng ta chẳng dùng lời thọ ký hư dối như thế”. Trải qua nhiều năm như vậy, thường bị mắng nhiếc chẳng sanh lòng giận hờn, thường nói: “Ngài sẽ làm Phật”. Lúc nói lời đó, chúng nhân hoặc lấy gậy cây ngói đá để đánh ném. Ông liền chạy tránh đứng xa mà vẫn to tiếng xướng rằng: “Ta chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ thành Phật”. Bởi ông thường nói lời đó, nên hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di gọi ông là Thường Bất Khinh.
是比丘臨欲終時,於虛空中,具聞威音王佛先所說法華經二十千萬億偈,悉能受持,即得如上眼根清淨、耳鼻舌身意根清淨。得是六根清淨已,更增壽命二百萬億那由他歲,廣為人說是法華經。於時增上慢四眾——比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷——輕賤是人,為作不輕名者,見其得大神通力、樂說辯力、大善寂力,聞其所說,皆信伏隨從。是菩薩復化千萬億眾,令住阿耨多羅三藐三菩提。命終之後,得值二千億佛,皆號日月燈明,於其法中,說是法華經。以是因緣,復值二千億佛,同號雲自在燈王,於此諸佛法中,受持讀誦,為諸四眾說此經典故,得是常眼清淨,耳、鼻、舌、身、意諸根清淨,於四眾中說法,心無所畏。「得大勢!是常不輕菩薩摩訶薩,供養如是若干諸佛,恭敬、尊重、讚歎、種諸善根,於後復值千萬億佛,亦於諸佛法中說是經典,功德成就,當得作佛。
Thị tỳ-kheo lâm dục chung thời, ư hư không trung, cụ văn Uy Âm Vương Phật tiên sở thuyết pháp hoa kinh nhị thập thiên vạn ức kệ, tất năng thọ trì, tức đắc như thượng nhãn căn thanh tịnh, nhĩ tỵ thiệt thân ý căn thanh tịnh. Đắc thị lục căn thanh tịnh dĩ, cánh tăng thọ mệnh nhị bách vạn ức na-do-tha tuế, quảng vi nhân thuyết thị pháp hoa kinh. Ư thời tăng thượng mạn tứ chúng——tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di——khinh tiện thị nhân, vi tác bất khinh danh giả, kiến kỳ đắc đại thần thông lực, nhạo thuyết biện lực, đại thiện tịch lực, văn kỳ sở thuyết, giai tín phục tùy tùng. Thị Bồ-tát phục hóa thiên vạn ức chúng, lệnh trụ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Mệnh chung chi hậu, đắc trị nhị thiên ức Phật, giai hiệu nhật nguyệt đăng minh, ư kỳ pháp trung, thuyết thị pháp hoa kinh. Dĩ thị nhân duyên, phục trị nhị thiên ức Phật, đồng hiệu vân tự tại đăng vương, ư thử chư Phật pháp trung, thọ trì độc tụng, vi chư tứ chúng thuyết thử kinh điển cố, đắc thị thường nhãn thanh tịnh, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý chư căn thanh tịnh, ư tứ chúng trung thuyết pháp, tâm vô sở úy. “Đắc đại thế! Thị Thường Bất Khinh Bồ-tát Ma-ha tát, cúng dường như thị nhược can chư Phật, cung kính, tôn trọng, tán thán, chủng chư thiện căn, ư hậu phục trị thiên vạn ức Phật, diệc ư chư Phật pháp trung thuyết thị kinh điển, công đức thành tựu, đương đắc tác Phật.
Vị Tỳ kheo đó lúc sắp chết, nơi giữa hư không nghe trọn hai mươi nghìn muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa của đức Oai Âm Vương Phật đã nói thuở trước, nghe xong đều có thể thọ trì, liền được nhãn căn thanh tịnh, nhĩ, tỹ, thiệt, thân cùng ý căn thanh tịnh như trên. Được sáu căn thanh tịnh đó rồi lại sống thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi, rộng vì người nói kinh Pháp Hoa đó. Lúc đó hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di khinh tiện vị đó đặt cho tên “Bất Khinh” nay thấy vị đó được sức thần thông lớn, sức nhạo thuyết biện, sức đại thiện tịch (6) nghe vị đó nói pháp đều tin phục tùy tùng. Vị Bồ Tát đó giáo hóa nghìn muôn chúng khiến trụ trong vô thượng chánh đẳng chánh giác. Sau khi mạng chung được gặp hai nghìn ức Phật đều hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, ở trong pháp hội đó nói kinh Pháp Hoa này. Do nhân duyên đó lại gặp hai nghìn ức Phật đồng hiệu là Vân Tự Tại Đăng Vương, ở trong pháp hội của các đức Phật đó thọ trì, đọc tụng, vì hàng tứ chúng nói kinh điển này, cho nên được mắt thanh tịnh thường trên đó, tai mũi lưỡi thân cùng ý các căn thanh tịnh, ở bốn chúng nói pháp lòng không sợ sệt. Đắc Đại Thế! Vị Thường Bất Khinh đại Bồ Tát đó cúng dường, bao nhiêu đức Phật như thế, cung kính tôn trọng ngợi khen, trồng các gốc lành. Lúc sau lại gặp nghìn muôn ức Phật cũng ở trong pháp hội các đức Phật nói kinh điển này, công đức thành tựu sẽ được làm Phật.
「得大勢!於意云何?爾時常不輕菩薩豈異人乎?則我身是。若我於宿世不受持讀誦此經、為他人說者,不能疾得阿耨多羅三藐三菩提。我於先佛所,受持讀誦此經、為人說故,疾得阿耨多羅三藐三菩提。
“Đắc đại thế! Ư ý vân hà? Nhĩ thời Thường Bất Khinh Bồ-tát khởi dị nhân hồ? Tắc ngã thân thị. Nhược ngã ư túc thế bất thọ trì độc tụng thử kinh, vi tha nhân thuyết giả, bất năng tật đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Ngã ư tiên Phật sở, thọ trì độc tụng thử kinh, vi nhân thuyết cố, tật đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Thường Bất Khinh Bồ Tát thuở đó đâu phải người nào lạ, chính là thân ta. Nếu ta ở đời trước chẳng thọ trì đọc tụng kinh này, vì người khác giải nói đó, thời chẳng có thể mau được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Do ta ở chỗ các đức Phật thuở trước thọ trì đọc tụng kinh này vì người khác nói, nên mau được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
「得大勢!彼時四眾——比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷——以瞋恚意輕賤我故,二百億劫常不值佛、不聞法、不見僧,千劫於阿鼻地獄受大苦惱。畢是罪已,復遇常不輕菩薩,教化阿耨多羅三藐三菩提。「得大勢,於汝意云何?爾時四眾常輕是菩薩者,豈異人乎?今此會中跋陀婆羅等五百菩薩、師子月等五百比丘、尼思佛等五百優婆塞,皆於阿耨多羅三藐三菩提不退轉者是。「得大勢!當知是法華經,大饒益諸菩薩摩訶薩,能令至於阿耨多羅三藐三菩提。是故諸菩薩摩訶薩,於如來滅後,常應受持、讀誦、解說、書寫是經。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Đắc đại thế! Bỉ thời tứ chúng——tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di——dĩ sân huệ ý khinh tiện ngã cố, nhị bách ức kiếp thường bất trị Phật, bất văn pháp, bất kiến tăng, thiên kiếp ư A-tỳ địa ngục thọ đại khổ não. Tất thị tội dĩ, phục ngộ Thường Bất Khinh Bồ-tát, giáo hóa a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. “Đắc đại thế, ư nhữ ý vân hà? Nhĩ thời tứ chúng thường khinh thị Bồ-tát giả, khởi dị nhân hồ? Kim thử hội trung Bạt-đà-bà-la đẳng ngũ bách Bồ-tát, sư tử nguyệt đẳng ngũ bách tỳ-kheo, ni tư Phật đẳng ngũ bách ưu-bà-tắc, giai ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề bất thoái chuyển giả thị. “Đắc đại thế! Đương tri thị pháp hoa kinh, đại nhiêu ích chư Bồ-tát Ma-ha tát, năng lệnh chí ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố chư Bồ-tát Ma-ha tát, ư Như-lai diệt hậu, thường ưng thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả thị kinh.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Đắc Đại Thế! Thuở đó bốn chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, do lòng giận hờn khinh tiện ta, nên trong hai trăm ức kiếp thường chẳng gặp Phật, chẳng nghe pháp, chẳng thấy Tăng, nghìn kiếp ở địa ngục A tỳ chịu khổ não lớn. Hết tội đó rồi lại gặp Thường Bất Khinh Bồ Tát giáo hóa đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Bốn chúng thường khinh vị Bồ Tát thuở đó đâu phải người nào lạ chính là nay trong hội này bọn ông Bạt Đà Bà La năm trăm vị Bồ Tát, bọn ông Sư Tử Nguyệt năm trăm vị Tỳ kheo, bọn ông Ni Tư Phật năm trăm Ưu bà tắc, đều bất thối chuyển ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đắc Đại Thế! Phải biết kinh Pháp Hoa này rất lợi ích các vị đại Bồ Tát, có thể làm cho đến nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên các vị đại Bồ Tát sau khi Phật diệt độ phải thường thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép kinh này. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「過去有佛,號威音王,神智無量,將導一切,天人龍神,所共供養。是佛滅後,法欲盡時,有一菩薩,名常不輕。時諸四眾,計著於法。不輕菩薩,往到其所,而語之言:『我不輕汝,汝等行道,皆當作佛。』諸人聞已,輕毀罵詈;不輕菩薩,能忍受之。其罪畢已,臨命終時,得聞此經,六根清淨。神通力故,增益壽命,復為諸人,廣說是經。諸著法眾,皆蒙菩薩,教化成就,令住佛道。不輕命終,值無數佛,說是經故,得無量福,漸具功德,疾成佛道。彼時不輕,則我身是。時四部眾,著法之者,聞不輕言:『汝當作佛。』以是因緣,值無數佛。此會菩薩,五百之眾,并及四部,清信士女,今於我前,聽法者是。我於前世,勸是諸人,聽受斯經,第一之法。開示教人,令住涅槃,世世受持,如是經典。億億萬劫,至不可議,時乃得聞,是法華經。億億萬劫,至不可議,諸佛世尊、時說是經。是故行者,於佛滅後,聞如是經,勿生疑惑。應當一心、廣說此經,世世值佛,疾成佛道。」
“Quá khứ hữu Phật, hiệu Uy Âm Vương, thần trí vô lượng, tương đạo nhất thiết, thiên nhân long thần, sở cộng cúng dường. Thị Phật diệt hậu, pháp dục tận thời, hữu nhất Bồ-tát, danh Thường Bất Khinh. Thời chư tứ chúng, kế trước ư pháp. Bất khinh Bồ-tát, vãng đáo kỳ sở, nhi ngữ chi ngôn: ‘Ngã bất khinh nhữ, nhữ đẳng hành đạo, giai đương tác Phật.’ Chư nhân văn dĩ, khinh hủy mạ lị; bất khinh Bồ-tát, năng nhẫn thọ chi. Kỳ tội tất dĩ, lâm mệnh chung thời, đắc văn thử kinh, lục căn thanh tịnh. Thần thông lực cố, tăng ích thọ mệnh, phục vi chư nhân, quảng thuyết thị kinh. Chư trước pháp chúng, giai mông Bồ-tát, giáo hóa thành tựu, lệnh trụ Phật đạo. Bất khinh mệnh chung, trị vô số Phật, thuyết thị kinh cố, đắc vô lượng phúc, tiệm cụ công đức, tật thành Phật đạo. Bỉ thời bất khinh, tắc ngã thân thị. Thời tứ bộ chúng, trước pháp chi giả, văn bất khinh ngôn: ‘Nhữ đương tác Phật.’ Dĩ thị nhân duyên, trị vô số Phật. Thử hội Bồ-tát, ngũ bách chi chúng, tinh cập tứ bộ, thanh tín sĩ nữ, kim ư ngã tiền, thính pháp giả thị. Ngã ư tiền thế, khuyến thị chư nhân, thính thọ tư kinh, đệ nhất chi pháp. Khai thị giáo nhân, lệnh trụ Niết-bàn, thế thế thọ trì, như thị kinh điển. Ức ức vạn kiếp, chí bất khả nghị, thời nãi đắc văn, thị pháp hoa kinh. Ức ức vạn kiếp, chí bất khả nghị, chư Phật Thế-tôn, thời thuyết thị kinh. Thị cố hành giả, ư Phật diệt hậu, văn như thị kinh, vật sinh nghi hoặc. Ưng đương nhất tâm, quảng thuyết thử kinh, thế thế trị Phật, tật thành Phật đạo.”
Thuở quá khứ có Phật
Hiệu là Oai Âm Vương
Sức trí thần vô lượng
Dìu dắt tất cả chúng
Hàng trời, người, long, thần
Đều chung nhau cúng dường.
Sau khi Phật diệt độ
Lúc pháp muốn dứt hết
Có một vị Bồ Tát
Tên là Thường Bất Khinh.
Bấy giờ hàng tứ chúng
Chấp mê nơi các pháp
Thường Bất Khinh Bồ Tát
Qua đến chỗ của họ
Mà nói với đó rằng:
Ta chẳng dám khinh Ngài
Quý Ngài tu đạo nghiệp
Đều sẽ được làm Phật.
Những người đó nghe rồi
Khinh chê thêm mắng nhiếc
Thường Bất Khinh Bồ Tát
Đều hay nhẫn thọ đó.
Tội Bồ Tát hết rồi
Đến lúc gần mạng chung
Được nghe kinh pháp này
Sáu căn đều thanh tịnh
Vì sức thần thông vậy
Sống lâu thêm nhiều tuổi
Lại vì các hạng người
Rộng nói kinh pháp này.
Các chúng chấp nói pháp
Đều nhờ Bồ Tát đó
Giáo hóa được thành tựu
Khiến trụ nơi Phật đạo.
Thường Bất Khinh mạng chung
Gặp vô số đức Phật
Vì nói kinh này vậy
Được vô lượng phước đức
Lần lần đủ công đức
Mau chứng thành Phật đạo.
Thuở đó Thường Bất Khinh
Thời chính là thân ta
Bốn bộ chúng khi ấy
Những người chấp nơi pháp
Nghe Thường Bất Khinh nói:
Ngài sẽ được làm Phật
Do nhờ nhân duyên đó
Mà gặp vô số Phật,
Chính trong pháp hội này
Năm trăm chúng Bồ Tát
Và cùng bốn bộ chúng
Thanh tín nam nữ thảy
Nay ở nơi trước ta
Nghe kinh Pháp Hoa đó.
Ta ở trong đời trước
Khuyên những hạng người đó
Nghe thọ kinh Pháp Hoa
Là pháp bậc thứ nhất
Mở bày dạy cho người
Khiến trụ nơi Niết bàn
Đời đời thọ trì luôn
Những kinh điển như thế.
Trải ức ức muôn kiếp
Cho đến bất khả nghì
Lâu lắm mới nghe được
Kinh Diệu Pháp Hoa này.
Trải ức ức muôn kiếp
Cho đến bất khả nghì
Các đức Phật Thế Tôn
Lâu mới nói kinh này
Cho nên người tu hành
Sau khi Phật diệt độ
Nghe kinh pháp như thế
Chớ sanh lòng nghi hoặc.
Nên phải chuyên một lòng
Rộng nói kinh điển này
Đời đời được gặp Phật
Mau chứng thành Phật đạo.
PHẨM “NHƯ LAI THẦN LỰC” THỨ HAI MƯƠI MỐT
妙法蓮華經如來神力品第二十一
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh như-lai thần lực phẩm đệ nhị thập nhất
PHẨM “NHƯ LAI THẦN LỰC” THỨ HAI MƯƠI MỐT
爾時,千世界微塵等菩薩摩訶薩,從地踊出者,皆於佛前一心合掌,瞻仰尊顏,而白佛言:「世尊!我等於佛滅後,世尊分身所在國土滅度之處,當廣說此經。所以者何?我等亦自欲得是真淨大法,受持、讀誦、解說、書寫,而供養之。」
Nhĩ thời, thiên thế giới vi trần đẳng Bồ-tát Ma-ha tát, tùng địa dũng xuất giả, giai ư Phật tiền nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng tôn nhan, nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã đẳng ư Phật diệt hậu, Thế-tôn phân thân sở tại quốc độ diệt độ chi xứ, đương quảng thuyết thử kinh. Sở dĩ giả hà? Ngã đẳng diệc tự dục đắc thị chân tịnh đại pháp, thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả, nhi cúng dường chi.”
Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ Tát như số vi trần trong nghìn thế giới từ dưới đất vọt lên đó, đều ở trước đức Phật một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mà bạch cùng Phật rằng: “Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, ở nơi cõi nước của đức Thế Tôn phân thân diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh này. Vì sao? Chúng con cũng tự muốn được pháp lớn thanh tịnh này để thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép mà cúng dường đó”.
爾時世尊,於文殊師利等無量百千萬億舊住娑婆世界菩薩摩訶薩,及諸比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,天、龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等,一切眾前,現大神力,出廣長舌上至梵世,一切毛孔放於無量無數色光,皆悉遍照十方世界。眾寶樹下、師子座上諸佛,亦復如是,出廣長舌,放無量光。釋迦牟尼佛及寶樹下諸佛現神力時,滿百千歲,然後還攝舌相。一時謦欬、俱共彈指,是二音聲,遍至十方諸佛世界,地皆六種震動。其中眾生,天、龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等,以佛神力故,皆見此娑婆世界,無量無邊百千萬億眾寶樹下、師子座上諸佛;及見釋迦牟尼佛共多寶如來,在寶塔中、坐師子座;又見無量無邊百千萬億菩薩摩訶薩及諸四眾,恭敬圍繞釋迦牟尼佛。既見是已,皆大歡喜,得未曾有。即時諸天、於虛空中、高聲唱言:「過此無量無邊百千萬億阿僧祇世界,有國名娑婆,是中有佛名釋迦牟尼,今為諸菩薩摩訶薩說大乘經,名妙法蓮華,教菩薩法,佛所護念。汝等當深心隨喜,亦當禮拜供養釋迦牟尼佛。」彼諸眾生,聞虛空中聲已,合掌向娑婆世界作如是言:「南無釋迦牟尼佛!南無釋迦牟尼佛!」以種種華、香、瓔珞、幡蓋,及諸嚴身之具、珍寶妙物,皆共遙散娑婆世界。所散諸物,從十方來,譬如雲集,變成寶帳,遍覆此間諸佛之上。于時十方世界,通達無礙,如一佛土。
Nhĩ thời Thế-tôn, ư Văn-thù-sư-lợi đẳng vô lượng bách thiên vạn ức cựu trụ Ta-bà thế giới Bồ-tát Ma-ha tát, cập chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng, nhất thiết chúng tiền, hiện đại thần lực, xuất quảng trường thiệt thượng chí phạm thế, nhất thiết mao khổng phóng ư vô lượng vô số sắc quang, giai tất biến chiếu thập phương thế giới. Chúng bảo thụ hạ, sư tử tòa thượng chư Phật, diệc phục như thị, xuất quảng trường thiệt, phóng vô lượng quang. Thích-ca Mâu-ni Phật cập bảo thụ hạ chư Phật hiện thần lực thời, mãn bách thiên tuế, nhiên hậu hoàn nhiếp thiệt tướng. Nhất thời khánh khái, câu cộng đàn chỉ, thị nhị âm thanh, biến chí thập phương chư Phật thế giới, địa giai lục chủng chấn động. Kỳ trung chúng sinh, thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng, dĩ Phật thần lực cố, giai kiến thử Ta-bà thế giới, vô lượng vô biên bách thiên vạn ức chúng bảo thụ hạ, sư tử tòa thượng chư Phật; cập kiến Thích-ca Mâu-ni Phật cộng đa bảo Như-lai, tại bảo tháp trung, tọa sư tử tòa; hựu kiến vô lượng vô biên bách thiên vạn ức Bồ-tát Ma-ha tát cập chư tứ chúng, cung kính vi nhiễu Thích-ca Mâu-ni Phật. Ký kiến thị dĩ, giai đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu. Tức thời chư thiên, ư hư không trung, cao thanh xướng ngôn: “Quá thử vô lượng vô biên bách thiên vạn ức a-tăng-kỳ thế giới, hữu quốc danh Ta-bà, thị trung hữu Phật danh Thích-ca Mâu-ni, kim vi chư Bồ-tát Ma-ha tát thuyết đại thừa kinh, danh diệu pháp liên hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm. Nhữ đẳng đương thâm tâm tùy hỷ, diệc đương lễ bái cúng dường Thích-ca Mâu-ni Phật.” Bỉ chư chúng sinh, văn hư không trung thanh dĩ, hợp chưởng hướng Ta-bà thế giới tác như thị ngôn: “Nam vô Thích-ca Mâu-ni Phật! Nam vô Thích-ca Mâu-ni Phật!” Dĩ chủng chủng hoa, hương, anh lạc, phướn cái, cập chư nghiêm thân chi cụ, trân bảo diệu vật, giai cộng dao tán Ta-bà thế giới. Sở tán chư vật, tùng thập phương lai, thí như vân tập, biến thành bảo trướng, biến phúc thử gian chư Phật chi thượng. Vu thời thập phương thế giới, thông đạt vô ngại, như nhất Phật thổ.
Lúc đó, Thế Tôn ở trước ngài Văn Thù Sư Lợi v.v... vô lượng trăm nghìn muôn ức vị đại Bồ Tát cửu trụ ở nơi cõi Ta bà và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... trước tất cả chúng, hiện sức thần thông lớn: Bày tướng lưỡi rộng dài lên đến trời Phạm Thế, tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng vô số tia sáng đủ màu sắc, thảy đều khắp soi cả cõi nước trong mười phương. Các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu cũng lại như thế: Bày tướng lưỡi rộng dài phóng vô lượng tia sáng. Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Phật và các đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn trăm nghìn năm vậy sau mới hoàn nhiếp tướng lưỡi, đồng thời tằng hắng cùng chung khảy móng tay, hai tiếng vang đó khắp đến cõi nước của các đức Phật trong mười phương, đất đều sáu điệu vang động, chúng sanh trong đó: Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... nhờ sức thần của Phật đều thấy trong cõi Ta bà này vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới những cây báu và thấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng đức Đa Bảo Như Lai, ngồi trên tòa sư tử trong tháp báu. Lại thấy vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vị đại Bồ Tát và hàng tứ chúng cung kính vây quanh đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đã thấy thế rồi đều rất vui mừng được điều chưa từng có. Tức thời hàng chư thiên ở giữa hư không lớn tiếng xướng rằng: “Cách đây vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số thế giới có nước tên Ta bà trong đó có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni hiện nay vì các đại Bồ Tát nói kinh Đại thừa tên “Diệu Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm, các ông phải thâm tâm tùy hỷ, cũng nên lễ bái cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật”. Các chúng sanh đó nghe tiếng nói giữa hư không rồi, chắp tay xoay về cõi Ta bà nói thế này: “Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật”. Dùng các món hoa hương, chuỗi ngọc, phan, lọng và các đồ trang nghiêm nơi thân, những vật tốt bằng trân báu, đều đồng vói rải vào cõi Ta bà. Các vật rải đó từ mười phương đến thí như mây nhóm, biến thành màn báu trùm khắp trên các đức Phật ở trong đây. Bấy giờ mười phương cõi nước thông đạt không ngại như một cõi Phật.
爾時,佛告上行等菩薩大眾:「諸佛神力如是,無量無邊、不可思議,若我以是神力,於無量無邊百千萬億阿僧祇劫,為囑累故,說此經功德,猶不能盡。以要言之,如來一切所有之法、如來一切自在神力、如來一切祕要之藏、如來一切甚深之事,皆於此經宣示顯說。是故汝等於如來滅後,應一心受持、讀誦、解說、書寫、如說修行。所在國土,若有受持、讀誦、解說、書寫、如說修行,若經卷所住之處,若於園中、若於林中、若於樹下、若於僧坊、若白衣舍、若在殿堂、若山谷曠野,是中皆應起塔供養。所以者何?當知是處、即是道場,諸佛於此得阿耨多羅三藐三菩提,諸佛於此轉于法輪,諸佛於此而般涅槃。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời, Phật cáo thượng hành đẳng Bồ-tát đại chúng: “Chư Phật thần lực như thị, vô lượng vô biên, bất khả tư nghị, nhược ngã dĩ thị thần lực, ư vô lượng vô biên bách thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, vi chúc lụy cố, thuyết thử kinh công đức, do bất năng tận. Dĩ yếu ngôn chi, Như-lai nhất thiết sở hữu chi pháp, Như-lai nhất thiết tự tại thần lực, Như-lai nhất thiết bí yếu chi tàng, Như-lai nhất thiết thậm thâm chi sự, giai ư thử kinh tuyên thị hiển thuyết. Thị cố nhữ đẳng ư Như-lai diệt hậu, ưng nhất tâm thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả, như thuyết tu hành. Sở tại quốc độ, nhược hữu thọ trì, độc tụng, giải thuyết, thư tả, như thuyết tu hành, nhược kinh quyển sở trụ chi xứ, nhược ư viên trung, nhược ư lâm trung, nhược ư thụ hạ, nhược ư Tăng phường, nhược bạch y xá, nhược tại điện đường, nhược sơn cốc khoáng dã, thị trung giai ưng khởi tháp cúng dường. Sở dĩ giả hà? Đương tri thị xứ, tức thị đạo tràng, chư Phật ư thử đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, chư Phật ư thử chuyển vu pháp luân, chư Phật ư thử nhi bát Niết-bàn.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Khi đó, Phật bảo đại chúng bậc thượng hạnh Bồ Tát thảy: “Thần lực của các đức Phật vô lượng vô biên bất khả tư nghì như thế; nếu ta dùng thần lực đó trong vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số kiếp, vì để chúc lũy mà nói công đức của kinh này vẫn chẳng hết được. Tóm nói đó, tất cả pháp của Như Lai có, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả tạng bí yếu của Như Lai, tất cả việc rất sâu của Như Lai, đều tuyên bày rõ nói trong kinh này, cho nên các ông sau khi Như Lai diệt độ, phải một lòng thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời nói mà tu hành. Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà bạch y (7), hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường. Vì sao? Phải biết chỗ đó, chính là đạo tràng, các đức Phật ở đây mà được vô thượng chánh đẳng chánh giác, các đức Phật ở đây mà chuyển pháp luân, các đức Phật ở đây mà nhập Niết bàn”. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「諸佛救世者,住於大神通,為悅眾生故,現無量神力,舌相至梵天,身放無數光,為求佛道者,現此希有事。諸佛謦欬聲,及彈指之聲,周聞十方國,地皆六種動。以佛滅度後,能持是經故,諸佛皆歡喜,現無量神力。囑累是經故,讚美受持者,於無量劫中,猶故不能盡。是人之功德,無邊無有窮,如十方虛空,不可得邊際。能持是經者,則為已見我,亦見多寶佛,及諸分身者,又見我今日,教化諸菩薩。能持是經者,令我及分身,滅度多寶佛,一切皆歡喜。十方現在佛,并過去未來,亦見亦供養,亦令得歡喜。諸佛坐道場,所得祕要法,能持是經者,不久亦當得。能持是經者,於諸法之義,名字及言辭,樂說無窮盡,如風於空中,一切無障礙。於如來滅後,知佛所說經,因緣及次第,隨義如實說,如日月光明,能除諸幽冥。斯人行世間,能滅眾生闇,教無量菩薩,畢竟住一乘。是故有智者,聞此功德利,於我滅度後,應受持斯經,是人於佛道,決定無有疑。」
“Chư Phật cứu thế giả, trụ ư đại thần thông, vi duyệt chúng sinh cố, hiện vô lượng thần lực, thiệt tướng chí phạm thiên, thân phóng vô số quang, vi cầu Phật đạo giả, hiện thử hy hữu sự. Chư Phật khánh khái thanh, cập đàn chỉ chi thanh, chu văn thập phương quốc, địa giai lục chủng động. Dĩ Phật diệt độ hậu, năng trì thị kinh cố, chư Phật giai hoan hỷ, hiện vô lượng thần lực. Chúc lụy thị kinh cố, tán mỹ thọ trì giả, ư vô lượng kiếp trung, do cố bất năng tận. Thị nhân chi công đức, vô biên vô hữu cùng, như thập phương hư không, bất khả đắc biên tế. Năng trì thị kinh giả, tắc vi dĩ kiến ngã, diệc kiến đa bảo Phật, cập chư phân thân giả, hựu kiến ngã kim nhật, giáo hóa chư Bồ-tát. Năng trì thị kinh giả, lệnh ngã cập phân thân, diệt độ đa bảo Phật, nhất thiết giai hoan hỷ. Thập phương hiện tại Phật, tinh quá khứ vị lai, diệc kiến diệc cúng dường, diệc lệnh đắc hoan hỷ. Chư Phật tọa đạo tràng, sở đắc bí yếu pháp, năng trì thị kinh giả, bất cửu diệc đương đắc. Năng trì thị kinh giả, ư chư pháp chi nghĩa, danh tự cập ngôn từ, nhạo thuyết vô cùng tận, như phong ư không trung, nhất thiết vô chướng ngại. Ư Như-lai diệt hậu, tri Phật sở thuyết kinh, nhân duyên cập thứ đệ, tùy nghĩa như thực thuyết, như nhật nguyệt quang minh, năng trừ chư u minh. Tư nhân hành thế gian, năng diệt chúng sinh ám, giáo vô lượng Bồ-tát, tất cánh trụ nhất thừa. Thị cố hữu trí giả, văn thử công đức lợi, ư ngã diệt độ hậu, ưng thọ trì tư kinh, thị nhân ư Phật đạo, quyết định vô hữu nghi.”
Các Phật, đấng cứu thế
Trụ trong thần thông lớn
Vì vui đẹp chúng sanh
Hiện vô lượng thần lực:
Tướng lưỡi đến Phạm thiên
Thân phóng vô số quang
Vì người cầu Phật đạo
Hiện việc ít có này.
Tiếng tằng hắng của Phật
Cùng tiếng khảy móng tay
Khắp vang mười phương cõi
Đất đều sáu món động.
Sau khi Phật diệt độ
Người trì được kinh này
Các Phật đều vui mừng
Hiện vô lượng thần lực.
Vì chúc lũy kinh này
Khen ngợi người thọ trì
Ở trong vô lượng kiếp
Vẫn còn chẳng hết được.
Công đức của người đó
Vô biên vô cùng tận
Như mười phương hư không
Chẳng thể được ngằn mé.
Người trì được kinh này
Thời là đã thấy Ta
Cũng thấy Phật Đa Bảo
Và các Phật phân thân.
Lại thấy ta ngày nay
Giáo hóa các Bồ Tát
Người trì được kinh này
Khiến ta và phân thân
Phật Đa Bảo diệt độ
Tất cả đều vui mừng.
Mười phương Phật hiện tại
Cùng quá khứ vị lai
Cũng thấy cũng cúng dường
Cũng khiến được vui mừng.
Các Phật ngồi đạo tràng
Pháp bí yếu đã được
Người trì đọc kinh này
Chẳng lâu cũng sẽ được
Người trì được kinh này
Nơi nghĩa của các pháp
Danh tự và lời lẽ
Ưa nói không cùng tận.
Như gió trong hư không
Tất cả không chướng ngại.
Sau khi Như Lai diệt
Biết kinh của Phật nói
Nhân duyên và thứ đệ
Theo nghĩa nói như thật.
Như ánh sáng nhật nguyệt
Hay trừ các tối tăm
Người đó đi trong đời
Hay dứt tối chúng sanh
Dạy vô lượng Bồ Tát
Rốt ráo trụ nhứt thừa.
Cho nên người có trí
Nghe công đức lợi này
Sau khi ta diệt độ
Nên thọ trì kinh này
Người đó ở Phật đạo
Quyết định không có nghi.
PHẨM “CHÚC LỤY” THỨ HAI MƯƠI HAI
妙法蓮華經囑累品第二十二
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh chúc lụy phẩm đệ nhị thập nhị
PHẨM “CHÚC LỤY” THỨ HAI MƯƠI HAI
爾時,釋迦牟尼佛從法座起,現大神力,以右手摩無量菩薩摩訶薩頂,而作是言:「我於無量百千萬億阿僧祇劫,修習是難得阿耨多羅三藐三菩提法,今以付囑汝等。汝等應當一心流布此法,廣令增益。」如是三摩諸菩薩摩訶薩頂,而作是言:「我於無量百千萬億阿僧祇劫,修習是難得阿耨多羅三藐三菩提法,今以付囑汝等。汝等當受持、讀誦、廣宣此法,令一切眾生普得聞知。所以者何?如來有大慈悲,無諸慳悋,亦無所畏,能與眾生,佛之智慧、如來智慧、自然智慧,如來是一切眾生之大施主。汝等亦應隨學如來之法,勿生慳悋。於未來世,若有善男子、善女人,信如來智慧者,當為演說此法華經,使得聞知,為令其人得佛慧故。若有眾生不信受者,當於如來餘深法中,示教利喜。汝等若能如是,則為已報諸佛之恩。」
Nhĩ thời, Thích-ca Mâu-ni Phật tùng pháp tòa khởi, hiện đại thần lực, dĩ hữu thủ ma vô lượng Bồ-tát Ma-ha tát đỉnh, nhi tác thị ngôn: “Ngã ư vô lượng bách thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, tu tập thị nan đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề pháp, kim dĩ phó chúc nhữ đẳng. Nhữ đẳng ưng đương nhất tâm lưu bố thử pháp, quảng lệnh tăng ích.” Như thị tam-ma chư Bồ-tát Ma-ha tát đỉnh, nhi tác thị ngôn: “Ngã ư vô lượng bách thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, tu tập thị nan đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề pháp, kim dĩ phó chúc nhữ đẳng. Nhữ đẳng đương thọ trì, độc tụng, quảng tuyên thử pháp, lệnh nhất thiết chúng sinh phổ đắc văn tri. Sở dĩ giả hà? Như-lai hữu đại từ bi, vô chư khan lận, diệc vô sở úy, năng dữ chúng sinh, Phật chi trí tuệ, Như-lai trí tuệ, tự nhiên trí tuệ, Như-lai thị nhất thiết chúng sinh chi đại thi chủ. Nhữ đẳng diệc ưng tùy học Như-lai chi pháp, vật sinh khan lận. Ư vị lai thế, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tín Như-lai trí tuệ giả, đương vi diễn thuyết thử pháp hoa kinh, sử đắc văn tri, vi lệnh kỳ nhân đắc Phật tuệ cố. Nhược hữu chúng sinh bất tín thọ giả, đương ư Như-lai dư thâm pháp trung, thị giáo lợi hỷ. Nhữ đẳng nhược năng như thị, tắc vi dĩ báo chư Phật chi ân.”
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ nơi pháp tòa đứng dậy, hiện sức thần thông lớn: Dùng tay mặt xoa đảnh của vô lượng đại Bồ Tát mà nói rằng: “Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác khó được này, nay đem phó chúc cho các ông, các ông nên phải một lòng lưu bố pháp này làm cho thêm nhiều rộng”. Phật ba phen xoa đảnh các đại Bồ Tát như thế mà nói rằng: “Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác khó được này, nay đem phó chúc cho các ông; các ông phải thọ trì, đọc tụng rộng tuyên nói pháp này cho tất cả chúng sanh đều được nghe biết”. Vì sao? Đức Như Lai có lòng từ bi lớn, không có tánh bỏn sẻn, cũng không sợ sệt, có thể cho chúng sanh trí huệ của Phật, trí huệ của Như Lai, trí huệ tự nhiên. Như Lai là vị đại thí chủ cho tất cả chúng sanh, các ông cũng nên thọ học pháp của Như Lai, chớ sanh lòng bỏn sẻn. Ở đời vị lai nếu có người thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào tin trí huệ của Như Lai, thời các ông phải vì đó diễn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này khiến đều được nghe biết, vì muốn cho người đó được trí huệ của Phật vậy. Nếu có chúng sanh nào chẳng tin nhận thì phải ở trong pháp sâu khác của Như Lai chỉ dạy cho được lợi ích vui mừng, các ông nếu được như thế thì là đã báo được ơn của các đức Phật.
時諸菩薩摩訶薩,聞佛作是說已,皆大歡喜遍滿其身,益加恭敬,曲躬、低頭,合掌向佛,俱發聲言:「如世尊勅,當具奉行。唯然,世尊!願不有慮。」諸菩薩摩訶薩眾,如是三反,俱發聲言:「如世尊勅,當具奉行。唯然,世尊!願不有慮。」爾時釋迦牟尼佛令十方來諸分身佛各還本土,而作是言:「諸佛各隨所安,多寶佛塔還可如故。」
Thời chư Bồ-tát Ma-ha tát, văn Phật tác thị thuyết dĩ, giai đại hoan hỷ biến mãn kỳ thân, ích gia cung kính, khúc cung, đê đầu, hợp chưởng hướng Phật, câu phát thanh ngôn: “Như Thế-tôn sắc, đương cụ phụng hành. Duy nhiên, Thế-tôn! Nguyện bất hữu lự.” Chư Bồ-tát Ma-ha tát chúng, như thị tam phản, câu phát thanh ngôn: “Như Thế-tôn sắc, đương cụ phụng hành. Duy nhiên, Thế-tôn! Nguyện bất hữu lự.” Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Phật lệnh thập phương lai chư phân thân Phật các hoàn bản thổ, nhi tác thị ngôn: “Chư Phật các tùy sở an, đa bảo Phật tháp hoàn khả như cố.”
Lúc đó, các vị đại Bồ Tát nghe Phật nói thế rồi, đều rất vui mừng khắp đầy nơi thân càng thêm cung kính, nghiêng mình cúi đầu chắp tay hướng Phật, đồng lên tiếng bạch rằng: “Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin Thế Tôn chớ có lo”. Các chúng đại Bồ Tát ba phen như thế, đều lên tiếng bạch rằng: “Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin đức Thế Tôn chớ có lo”. Khi đó đức Thích Ca Mâu Ni Phật khiến các đức Phật phân thân ở mười phương đến, đều trở về bổn độ mà nói rằng: “Các Phật đều về yên chỗ, tháp của Phật Đa Bảo được hoàn như cũ”.
說是語時,十方無量分身諸佛——坐寶樹下師子座上者,及多寶佛,并上行等無邊阿僧祇菩薩大眾,舍利弗等聲聞四眾,及一切世間天、人、阿修羅等,聞佛所說,皆大歡喜。
Thuyết thị ngữ thời, thập phương vô lượng phân thân chư Phật——tọa bảo thụ hạ sư tử tòa thượng giả, cập đa bảo Phật, tinh thượng hành đẳng vô biên a-tăng-kỳ Bồ-tát đại chúng, Xá-lợi-phất đẳng thanh văn tứ chúng, cập nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ.
Phật nói lời đó rồi, vô lượng các đức Phật phân thân ở mười phương ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu, và Phật Đa Bảo, cùng vô biên vô số đại chúng Bồ tát, bậc thượng hạnh thảy, ngài Xá Lợi Phất v.v... bốn chúng hàng Thanh văn và tất cả trong đời: Trời, người, A tu la v.v... nghe Phật nói rồi đều rất vui mừng.
PHẨM “DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT BỔN SỰ” THỨ HAI MƯƠI BA
妙法蓮華經藥王菩薩本事品第二十三
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh dược vương Bồ-tát bản sự phẩm đệ nhị thập tam
PHẨM “DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT BỔN SỰ” THỨ HAI MƯƠI BA
爾時宿王華菩薩白佛言:「世尊!藥王菩薩云何遊於娑婆世界?世尊!是藥王菩薩有若干百千萬億那由他難行苦行?善哉,世尊!願少解說。」諸天、龍、神、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等,又他國土諸來菩薩,及此聲聞眾,聞皆歡喜。
Nhĩ thời Tú Vương Hoa Bồ-tát bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Dược vương Bồ-tát vân hà du ư Ta-bà thế giới? Thế-tôn! Thị dược vương Bồ-tát hữu nhược can bách thiên vạn ức na-do-tha nan hành khổ hành? Thiện tai, Thế-tôn! Nguyện thiểu giải thuyết.” Chư thiên, long, thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng, hựu tha quốc độ chư lai Bồ-tát, cập thử thanh văn chúng, văn giai hoan hỷ.
Lúc bấy giờ, ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Ngài Dược Vương Bồ Tát dạo đi nơi cõi Ta bà như thế nào? Thế Tôn! Ngài Dược Vương Bồ Tát đó, có bao nhiêu nghìn muôn ức na do tha hạnh khổ khó làm? Hay thay Thế Tôn! Nguyện giải nói cho một ít, các hàng trời, rồng, thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... và các vị Bồ Tát ở các nước khác đến, cùng chúng Thanh văn đây nghe đều vui mừng”.
爾時佛告宿王華菩薩:「乃往過去無量恒河沙劫,有佛號日月淨明德如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。其佛有八十億大菩薩摩訶薩,七十二恒河沙大聲聞眾,佛壽四萬二千劫,菩薩壽命亦等。彼國無有女人、地獄、餓鬼、畜生、阿修羅等,及以諸難;地平如掌,琉璃所成,寶樹莊嚴,寶帳覆上,垂寶華幡,寶瓶香爐周遍國界,七寶為臺,一樹一臺,其樹去臺盡一箭道。此諸寶樹,皆有菩薩、聲聞而坐其下。諸寶臺上,各有百億諸天作天伎樂,歌歎於佛,以為供養。
Nhĩ thời Phật cáo Tú Vương Hoa Bồ-tát: “Nãi vãng quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp, hữu Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như-lai, ưng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Kỳ Phật hữu bát thập ức đại Bồ-tát Ma-ha tát, thất thập nhị hằng hà sa đại thanh văn chúng, Phật thọ tứ vạn nhị thiên kiếp, Bồ-tát thọ mệnh diệc đẳng. Bỉ quốc vô hữu nữ nhân, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la đẳng, cập dĩ chư nan; địa bình như chưởng, lưu-ly sở thành, bảo thụ trang nghiêm, bảo trướng phúc thượng, thùy bảo hoa phướn, bảo bình hương lò chu biến quốc giới, thất bảo vi đài, nhất thụ nhất đài, kỳ thụ khứ đài tận nhất tiễn đạo. Thử chư bảo thụ, giai hữu Bồ-tát, thanh văn nhi tọa kỳ hạ. Chư bảo đài thượng, các hữu bách ức chư thiên tác thiên kỹ nhạc, ca thán ư Phật, dĩ vi cúng dường.
Lúc đó, Phật bảo ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát rằng: “Về thuở quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp trước, có Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Phật đó có tám mươi ức đại Bồ Tát, bảy mươi hai hằng hà sa chúng đại Thanh văn. Phật sống lâu bốn muôn hai nghìn kiếp, Bồ Tát sống lâu cũng bằng Phật. Nước đó không có người nữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la v.v... và với các khổ nạn. Đất bằng như bàn tay, chất lưu ly làm thành, cây báu trang nghiêm, màn báu trùm lên, thòng các phan báu đẹp, bình báu, lò hương khắp cùng cả nước, bảy món báu làm đài, một cây có một đài, cây đó cách đài đều một lằn tên. Các cây báu đó đều có Bồ Tát, Thanh văn ngồi ở dưới. Trên các đài báu đều có trăm ức chư thiên trổi kỹ nhạc trời, ca khen đức Phật để làm việc cúng dường.
爾時彼佛為一切眾生憙見菩薩,及眾菩薩、諸聲聞眾,說法華經。「是一切眾生憙見菩薩,樂習苦行,於日月淨明德佛法中,精進經行,一心求佛,滿萬二千歲已,得現一切色身三昧。得此三昧已,心大歡喜,即作念言:『我得現一切色身三昧,皆是得聞法華經力,我今當供養日月淨明德佛及法華經。』即時入是三昧,於虛空中,雨曼陀羅華、摩訶曼陀羅華、細末堅黑栴檀,滿虛空中,如雲而下,又雨海此岸栴檀之香——此香六銖,價直娑婆世界——以供養佛。作是供養已,從三昧起,而自念言:『我雖以神力供養於佛,不如以身供養。』即服諸香——栴檀、薰陸、兜樓婆、畢力迦、沈水、膠香,又飲瞻蔔諸華香油,滿千二百歲已,香油塗身,於日月淨明德佛前,以天寶衣而自纏身,灌諸香油,以神通力願而自然身,光明遍照八十億恒河沙世界。其中諸佛同時讚言:『善哉,善哉!善男子!是真精進,是名真法供養如來。若以華、香、瓔珞、燒香、末香、塗香、天繒、幡蓋及海此岸栴檀之香,如是等種種諸物供養,所不能及;假使國城、妻子布施,亦所不及。善男子!是名第一之施,於諸施中最尊最上,以法供養諸如來故。』作是語已而各默然。其身火燃千二百歲,過是已後,其身乃盡。
Nhĩ thời bỉ Phật vi Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát, cập chúng Bồ-tát, chư thanh văn chúng, thuyết pháp hoa kinh. “Thị Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát, lạc tập khổ hành, ư Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật pháp trung, tinh tiến kinh hành, nhất tâm cầu Phật, mãn vạn nhị thiên tuế dĩ, đắc hiện nhất thiết sắc thân tam-muội. Đắc thử tam-muội dĩ, tâm đại hoan hỷ, tức tác niệm ngôn: ‘Ngã đắc hiện nhất thiết sắc thân tam-muội, giai thị đắc văn pháp hoa kinh lực, ngã kim đương cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật cập pháp hoa kinh.’ Tức thời nhập thị tam-muội, ư hư không trung, vũ mạn-đà-la hoa, Ma-ha mạn-đà-la hoa, tế mạt kiên hắc chiên-đàn, mãn hư không trung, như vân nhi hạ, hựu vũ hải thử ngạn chiên-đàn chi hương——thử hương lục thù, giá trực Ta-bà thế giới——dĩ cúng dường Phật. Tác thị cúng dường dĩ, tùng tam-muội khởi, nhi tự niệm ngôn: ‘Ngã tuy dĩ thần lực cúng dường ư Phật, bất như dĩ thân cúng dường.’ Tức phục chư hương——chiên-đàn, huân lục, đâu-lâu-bà, tất lực ca, trầm thủy, giao hương, hựu ẩm chiêm bặc chư hoa hương dầu, mãn thiên nhị bách tuế dĩ, hương dầu đồ thân, ư Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật tiền, dĩ thiên bảo y nhi tự triền thân, quán chư hương dầu, dĩ thần thông lực nguyện nhi tự nhiên thân, quang minh biến chiếu bát thập ức hằng hà sa thế giới. Kỳ trung chư Phật đồng thời tán ngôn: ‘Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử! Thị chân tinh tiến, thị danh chân pháp cúng dường Như-lai. Nhược dĩ hoa, hương, anh lạc, thiêu hương, mạt hương, đồ hương, thiên tăng, phướn cái cập hải thử ngạn chiên-đàn chi hương, như thị đẳng chủng chủng chư vật cúng dường, sở bất năng cập; giả sử quốc thành, thê tử bố thi, diệc sở bất cập. Thiện nam tử! Thị danh đệ nhất chi thi, ư chư thi trung tối tôn tối thượng, dĩ pháp cúng dường chư Như-lai cố.’ Tác thị ngữ dĩ nhi các mặc nhiên. Kỳ thân hỏa nhiên thiên nhị bách tuế, quá thị dĩ hậu, kỳ thân nãi tận.
Bấy giờ, đức Phật đó vì ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát cùng chúng Bồ Tát và chúng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa. Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát đó ưa tu tập khổ hạnh, ở trong pháp hội của đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật, tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn một muôn hai nghìn năm được “Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội”. Được tam muội đó rồi lòng rất vui mừng, liền nghĩ rằng: “Ta được “Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội” này đều là do sức được nghe kinh Pháp Hoa, ta nay nên cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật và kinh Pháp Hoa”. Tức thời nhập tam muội đó, ở giữa hư không rưới hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, cùng bột kiên hắc chiên đàn đầy trong hư không như mây mà rưới xuống. Lại rưới hương hải thử ngạn chiên đàn, sáu thù (8) hương này giá trị cõi Ta bà để cúng dường Phật. Cúng dường thế đó rồi, từ tam muội dậy mà tự nghĩ rằng: “Ta dầu dùng thần lực cúng dường nơi Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường”. Liền uống các chất thơm; chiên đàn, huân lục, đâu lâu bà, tất lực ca, trầm thủy giao hương; lại uống dầu thơm các thứ hoa chiêm bặc v.v... mãn một nghìn hai trăm năm, rồi lấy dầu thơm xoa thân ở trước đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật dùng y báu cõi trời mà tự quấn thân, rưới các thứ dầu thơm, dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân. Ánh sáng khắp soi cả tám mươi ức hằng hà sa thế giới, các đức Phật trong đó đồng thời khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Đó là chân thật tinh tấn gọi là chân pháp cúng dường Như Lai. Nếu dùng hoa hương chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, bằng lụa cõi trời và hương hải thử ngạn chiên đàn, dùng các món vật cúng dường như thế đều chẳng bằng được. Giả sử quốc thành thê tử bố thí cũng chẳng bằng. Thiện nam tử! Đó gọi là món thí thứ nhất, ở trong các món thí rất tôn rất thượng, bởi dùng pháp cúng dường các đức Như Lai vậy”, các đức Phật nói lời đó rồi đều yên lặng. Thân của Bồ Tát lửa cháy một nghìn hai trăm năm, qua sau đó lúc đó thân Bồ Tát mới hết.
「一切眾生憙見菩薩作如是法供養已,命終之後,復生日月淨明德佛國中,於淨德王家結加趺坐,忽然化生。即為其父而說偈言:「『大王今當知,我經行彼處,即時得一切,現諸身三昧。懃行大精進,捨所愛之身,供養於世尊,為求無上慧。』「說是偈已,而白父言:『日月淨明德佛,今故現在。我先供養佛已,得解一切眾生語言陀羅尼,復聞是法華經八百千萬億那由他甄迦羅、頻婆羅、阿閦婆等偈。大王!我今當還供養此佛。』白已,即坐七寶之臺,上昇虛空,高七多羅樹,往到佛所,頭面禮足,合十指爪,以偈讚佛:「『容顏甚奇妙,光明照十方,我適曾供養,今復還親覲。』
“Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát tác như thị pháp cúng dường dĩ, mệnh chung chi hậu, phục sinh Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật quốc trung, ư tịnh đức vương gia kết gia phu tọa, hốt nhiên hóa sinh. Tức vi kỳ phụ nhi thuyết kệ ngôn: “ ‘Đại vương kim đương tri, ngã kinh hành bỉ xứ, tức thời đắc nhất thiết, hiện chư thân tam-muội. Cần hành đại tinh tiến, xả sở ái chi thân, cúng dường ư Thế-tôn, vi cầu vô thượng tuệ.’ “Thuyết thị kệ dĩ, nhi bạch phụ ngôn: ‘Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật, kim cố hiện tại. Ngã tiên cúng dường Phật dĩ, đắc giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn đà-la-ni, phục văn thị pháp hoa kinh bát bách thiên vạn ức na-do-tha chân ca la, tần bà la, A-súc bà đẳng kệ. Đại vương! Ngã kim đương hoàn cúng dường thử Phật.’ Bạch dĩ, tức tọa thất bảo chi đài, thượng thăng hư không, cao thất đa la thụ, vãng đáo Phật sở, đầu diện lễ túc, hợp thập chỉ trảo, dĩ kệ tán Phật: “ ‘Dung nhan thậm kỳ diệu, quang minh chiếu thập phương, ngã thích tằng cúng dường, kim phục hoàn thân cận.’
Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát làm việc pháp cúng dường như thế xong, sau khi mạng chung, lại sanh trong nước của Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật, ở nơi nhà vua Tịnh Đức bỗng nhiên ngồi xếp bằng hóa sanh ra, liền vì vua cha mà nói kệ rằng: Đại vương nay nên biết!
Tôi kinh hành chốn kia
Tức thời được nhứt thiết
Hiện chư thân tam muội
Siêng tu rất tinh tấn
Bỏ thân thể đáng yêu
Cúng dường đức Thế Tôn
Để cầu huệ vô thượng. Nói kệ đó rồi thưa vua cha rằng: “Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Đức Phật nay vẫn hiện
còn, tôi trước cúng dường
Phật xong, được “Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn đà la ni” lại nghe kinh Pháp Hoa này tám trăm nghìn muôn ức na do tha, chân ca la, tần bà la, a súc bà (A) các bài kệ. Đại Vương! Tôi nay lại nên cúng dường đức Phật đó”. Thưa xong, liền ngồi đài bảy báu, bay lên hư không cao bằng bảy cây đa la, qua đến chỗ Phật đầu mặt lạy chân, chắp tay nói kệ khen Phật: Dung nhan rất đẹp lạ Ánh sáng soi mười phương Con vừa từng cúng dường Nay lại về thân thấy.
「爾時,一切眾生憙見菩薩說是偈已,而白佛言:『世尊!世尊猶故在世。』爾時日月淨明德佛,告一切眾生憙見菩薩:『善男子!我涅槃時到、滅盡時至,汝可安施床座,我於今夜當般涅槃。』又勅一切眾生憙見菩薩:『善男子!我以佛法囑累於汝及諸菩薩大弟子,并阿耨多羅三藐三菩提法,亦以三千大千七寶世界諸寶樹、寶臺及給侍諸天,悉付於汝。我滅度後,所有舍利亦付囑汝,當令流布,廣設供養,應起若干千塔。』如是日月淨明德佛勅一切眾生憙見菩薩已,於夜後分入於涅槃。
“Nhĩ thời, Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát thuyết thị kệ dĩ, nhi bạch Phật ngôn: ‘Thế-tôn! Thế-tôn do cố tại thế.’ Nhĩ thời Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật, cáo Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát: ‘Thiện nam tử! Ngã Niết-bàn thời đáo, diệt tận thời chí, nhữ khả an thi sàng tòa, ngã ư kim dạ đương bát Niết-bàn.’ Hựu sắc Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát: ‘Thiện nam tử! Ngã dĩ Phật pháp chúc lụy ư nhữ cập chư Bồ-tát đại đệ tử, tinh a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề pháp, diệc dĩ tam thiên đại thiên thất bảo thế giới chư bảo thụ, bảo đài cập cấp thị chư thiên, tất phó ư nhữ. Ngã diệt độ hậu, sở hữu xá-lợi diệc phó chúc nhữ, đương lệnh lưu bố, quảng thiết cúng dường, ưng khởi nhược can thiên tháp.’ Như thị Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật sắc Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát dĩ, ư dạ hậu phân nhập ư Niết-bàn.
Lúc đó, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát nói kệ xong và bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Đức Thế Tôn vẫn còn ở đời ư?” Bấy giờ, đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật bảo ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Giờ ta nhập Niết bàn đã đến, giờ diệt tận đã đến, ông nên sắp đặt giường tòa. Ta trong đêm nay sẽ nhập Niết bàn”. Phật lại bảo ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Ta đem Phật pháp giao phó cho ông, và các Bồ Tát đại đệ tử cùng pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng đem cõi thất bảo tam thiên đại thiên, các cây báu, đài báu và hàng chư thiên cung cấp hầu hạ đều giao phó cho ông. Sau khi ta diệt độ có bao nhiêu xá lợi cũng phó chúc cho ông, nên làm lưu bố rộng bày các việc cúng dường, nên xây bao nhiêu nghìn tháp”. Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật bảo ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát như thế rồi, vào khoảng cuối đêm nhập Niết bàn.
「爾時,一切眾生憙見菩薩見佛滅度,悲感、懊惱,戀慕於佛,即以海此岸栴檀為𧂐,供養佛身,而以燒之。火滅已後,收取舍利,作八萬四千寶瓶,以起八萬四千塔,高三世界,表剎莊嚴,垂諸幡蓋,懸眾寶鈴。「爾時一切眾生憙見菩薩復自念言:『我雖作是供養,心猶未足,我今當更供養舍利。』便語諸菩薩大弟子及天、龍、夜叉等一切大眾:『汝等當一心念,我今供養日月淨明德佛舍利。』作是語已,即於八萬四千塔前,燃百福莊嚴臂七萬二千歲而以供養,令無數求聲聞眾、無量阿僧祇人,發阿耨多羅三藐三菩提心,皆使得住現一切色身三昧。「爾時,諸菩薩、天、人、阿修羅等,見其無臂,憂惱悲哀而作是言:『此一切眾生憙見菩薩,是我等師,教化我者,而今燒臂,身不具足。』于時一切眾生憙見菩薩,於大眾中立此誓言:『我捨兩臂,必當得佛金色之身,若實不虛,令我兩臂還復如故。』作是誓已,自然還復,由斯菩薩福德智慧淳厚所致。當爾之時,三千大千世界六種震動,天雨寶華,一切人、天得未曾有。」
“Nhĩ thời, Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát kiến Phật diệt độ, bi cảm, áo não, luyến mộ ư Phật, tức dĩ hải thử ngạn chiên-đàn vi tích, cúng dường Phật thân, nhi dĩ thiêu chi. Hỏa diệt dĩ hậu, thu thủ xá-lợi, tác bát vạn tứ thiên bảo bình, dĩ khởi bát vạn tứ thiên tháp, cao tam thế giới, biểu sát trang nghiêm, thùy chư phướn cái, huyền chúng bảo linh. “Nhĩ thời Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát phục tự niệm ngôn: ‘Ngã tuy tác thị cúng dường, tâm do vị túc, ngã kim đương cánh cúng dường xá-lợi.’ Tiện ngữ chư Bồ-tát đại đệ tử cập thiên, long, dạ-xoa đẳng nhất thiết đại chúng: ‘Nhữ đẳng đương nhất tâm niệm, ngã kim cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật xá-lợi.’ Tác thị ngữ dĩ, tức ư bát vạn tứ thiên tháp tiền, nhiên bách phúc trang nghiêm tý thất vạn nhị thiên tuế nhi dĩ cúng dường, lệnh vô số cầu thanh văn chúng, vô lượng a-tăng-kỳ nhân, phát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, giai sử đắc trụ hiện nhất thiết sắc thân tam-muội. “Nhĩ thời, chư Bồ-tát, thiên, nhân, a-tu-la đẳng, kiến kỳ vô tý, ưu não bi ai nhi tác thị ngôn: ‘Thử Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát, thị ngã đẳng sư, giáo hóa ngã giả, nhi kim thiêu tý, thân bất cụ túc.’ Vu thời Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát, ư đại chúng trung lập thử thệ ngôn: ‘Ngã xả lưỡng tý, tất đương đắc Phật kim sắc chi thân, nhược thực bất hư, lệnh ngã lưỡng tý hoàn phục như cố.’ Tác thị thệ dĩ, tự nhiên hoàn phục, do tư Bồ-tát phúc đức trí tuệ thuần hậu sở trí. Đương nhĩ chi thời, tam thiên đại thiên thế giới lục chủng chấn động, thiên vũ bảo hoa, nhất thiết nhân, thiên đắc vị tằng hữu.”
Lúc đó, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát thấy Phật diệt độ buồn cảm sầu khổ, luyến mộ nơi Phật, liền dùng hải thử ngạn chiên đàn làm giàn để cúng dường thân Phật mà thiêu đó. Sau khi lửa tắt, thâu lấy xá lợi đựng trong tám muôn bốn nghìn bình báu, để xây tám muôn bốn nghìn tháp cao ba thế giới, chưng dọn trang nghiêm thòng các phan lọng treo các linh báu. Bấy giờ, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát lại tự nghĩ rằng: “Ta dầu làm việc cúng dường đó lòng còn chưa đủ, ta nay lại nên cúng dường xá lợi”. Liền nói với các Bồ Tát đại đệ tử và trời, rồng, Dạ xoa v.v... tất cả đại chúng rằng: “Các ông phải một lòng ghi nhớ, tôi nay cúng dường xá lợi của đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật”. Nói xong liền ở trước tám muôn bốn nghìn tháp đốt cánh tay trăm phước trang nghiêm, mãn bảy muôn hai nghìn năm để cúng dường. Khiến vô số chúng cầu Thanh văn, vô lượng vô số người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều làm cho trụ trong “Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội”. Lúc đó, các Bồ Tát, trời, người, A tu la v.v... thấy ngài không có tay bèn sầu khổ buồn thương mà nói rằng: “Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát này là thầy chúng ta, giáo hóa chúng ta, mà nay đốt tay, thân chẳng đầy đủ”. Lúc ấy, Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát ở trong đại chúng lập lời thề rằng: “Tôi bỏ hai tay ắt sẽ được thân sắc vàng của Phật, nếu thật không dối, thời khiến hai tay tôi hoàn phục như cũ”. Nói lời thề xong, hai tay tự nhiên hoàn phục, đó là do phước đức trí huệ thuần hậu của Bồ tát cảm nên. Đương lúc đó cõi tam thiên đại thiên thế giới sáu điệu vang động, trời rưới hoa báu, tất cả người, trời được việc chưa từng có.
佛告宿王華菩薩:「於汝意云何?一切眾生憙見菩薩,豈異人乎?今藥王菩薩是也。其所捨身布施,如是無量百千萬億那由他數。「宿王華!若有發心欲得阿耨多羅三藐三菩提者,能燃手指,乃至足一指,供養佛塔,勝以國城、妻子,及三千大千國土山林河池、諸珍寶物而供養者,若復有人,以七寶滿三千大千世界,供養於佛,及大菩薩、辟支佛、阿羅漢,是人所得功德,不如受持此法華經,乃至一四句偈,其福最多。
Phật cáo Tú Vương Hoa Bồ-tát: “Ư nhữ ý vân hà? Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ-tát, khởi dị nhân hồ? Kim dược vương Bồ-tát thị dã. Kỳ sở xả thân bố thi, như thị vô lượng bách thiên vạn ức na-do-tha số. “Tú Vương Hoa! Nhược hữu phát tâm dục đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề giả, năng nhiên thủ chỉ, nãi chí túc nhất chỉ, cúng dường Phật tháp, thắng dĩ quốc thành, thê tử, cập tam thiên đại thiên quốc độ sơn lâm hà trì, chư trân bảo vật nhi cúng dường giả, nhược phục hữu nhân, dĩ thất bảo mãn tam thiên đại thiên thế giới, cúng dường ư Phật, cập đại Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán, thị nhân sở đắc công đức, bất như thọ trì thử pháp hoa kinh, nãi chí nhất tứ cú kệ, kỳ phúc tối đa.
Đức Phật bảo ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát: “Ý ông nghĩ sao? Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát đâu phải người nào lạ, chính nay là ông Dược Vương Bồ Tát đó. Ông ấy bỏ thân số nhiều vô lượng trăm nghìn muôn ức na do tha như thế. Tú Vương Hoa! Nếu người phát tâm muốn được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, có thể đốt một ngón tay nhẫn đến một ngón chân để cúng dường tháp của Phật, hơn đem quốc thành, thê tử và cõi tam thiên đại thiên: Núi, rừng, sông, ao, các vật trân báu mà cúng dường. Nếu lại có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên cúng dường nơi Phật, cùng đại Bồ Tát, Duyên giác và A la hán, công đức của người đó được, chẳng bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa này nhẫn đến một bài kệ bốn câu, phước của người này rất nhiều.
「宿王華!譬如一切川流江河,諸水之中海為第一;此法華經亦復如是,於諸如來所說經中,最為深大。又如土山、黑山、小鐵圍山、大鐵圍山及十寶山,眾山之中,須彌山為第一;此法華經亦復如是,於諸經中最為其上。又如眾星之中,月天子最為第一;此法華經亦復如是,於千萬億種諸經法中最為照明。又如日天子能除諸闇;此經亦復如是,能破一切不善之闇。又如諸小王中,轉輪聖王最為第一;此經亦復如是,於眾經中最為其尊。又如帝釋於三十三天中王,此經亦復如是,諸經中王。又如大梵天王,一切眾生之父;此經亦復如是,一切賢聖,學、無學,及發菩薩心者之父。又如一切凡夫人中,須陀洹、斯陀含、阿那含、阿羅漢、辟支佛為第一;此經亦復如是,一切如來所說、若菩薩所說、若聲聞所說,諸經法中,最為第一。有能受持是經典者,亦復如是,於一切眾生中亦為第一。一切聲聞、辟支佛中,菩薩為第一;此經亦復如是,於一切諸經法中最為第一。如佛為諸法王;此經亦復如是,諸經中王。
“Tú Vương Hoa! Thí như nhất thiết xuyên lưu giang hà, chư thủy chi trung hải vi đệ nhất; thử pháp hoa kinh diệc phục như thị, ư chư Như-lai sở thuyết kinh trung, tối vi thâm đại. Hựu như thổ sơn, hắc sơn, tiểu thiết vi sơn, đại thiết vi sơn cập thập bảo sơn, chúng sơn chi trung, Tu-di sơn vi đệ nhất; thử pháp hoa kinh diệc phục như thị, ư chư kinh trung tối vi kỳ thượng. Hựu như chúng tinh chi trung, nguyệt thiên tử tối vi đệ nhất; thử pháp hoa kinh diệc phục như thị, ư thiên vạn ức chủng chư kinh pháp trung tối vi chiếu minh. Hựu như nhật thiên tử năng trừ chư ám; thử kinh diệc phục như thị, năng phá nhất thiết bất thiện chi ám. Hựu như chư tiểu vương trung, chuyển luân thánh vương tối vi đệ nhất; thử kinh diệc phục như thị, ư chúng kinh trung tối vi kỳ tôn. Hựu như đế thích ư tam thập tam thiên trung vương, thử kinh diệc phục như thị, chư kinh trung vương. Hựu như đại phạm thiên vương, nhất thiết chúng sinh chi phụ; thử kinh diệc phục như thị, nhất thiết hiền thánh, học, vô học, cập phát Bồ-tát tâm giả chi phụ. Hựu như nhất thiết phàm phu nhân trung, Tu-đà-hoàn, tư đà hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật vi đệ nhất; thử kinh diệc phục như thị, nhất thiết Như-lai sở thuyết, nhược Bồ-tát sở thuyết, nhược thanh văn sở thuyết, chư kinh pháp trung, tối vi đệ nhất. Hữu năng thọ trì thị kinh điển giả, diệc phục như thị, ư nhất thiết chúng sinh trung diệc vi đệ nhất. Nhất thiết thanh văn, Bích-chi Phật trung, Bồ-tát vi đệ nhất; thử kinh diệc phục như thị, ư nhất thiết chư kinh pháp trung tối vi đệ nhất. Như Phật vi chư pháp vương; thử kinh diệc phục như thị, chư kinh trung vương.
Tú Vương Hoa! Thí như trong các dòng nước: Sông, ngòi, kinh, rạch thời biển là lớn thứ nhất; kinh Pháp Hoa này cũng như thế ở trong các kinh của đức Như Lai nói rất là sâu lớn. Lại như trong các núi non: Thổ sơn, Hắc sơn, núi tiểu Thiết vi, núi đại Thiết vi, cùng mười núi báu thời núi Diệu Cao bậc nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh rất là bậc thượng. Lại như trong các ngôi sao, mặt trăng là bậc nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như thế ở trong nghìn muôn ức các kinh pháp rất là sáng. Lại như mặt trời hay trừ các chỗ tối tăm, kinh này cũng thế, hay phá tất cả sự tối bất thiện. Lại như trong các vua nhỏ, vua Chuyển luân thánh vương rất là bậc nhất, kinh này cũng như thế, ở trong các kinh là bậc tôn kính hơn cả. Lại như Đế Thích là vua trong ba mươi ba cõi trời (9), kinh này cũng thế, là vua trong các kinh. Lại như trời đại Phạm Thiên Vương là cha của tất cả chúng sanh, kinh này cũng thế, là cha của tất cả hiền thánh: Bậc hữu học, vô học cùng hàng phát lòng Bồ đề. Lại như trong tất cả phàm phu thời bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, Vô sanh, Duyên giác, (10) là bậc nhất. Kinh này cũng thế, tất cả Như Lai nói, hoặc Bồ Tát nói, hoặc Thanh văn nói, trong các kinh pháp là bậc nhất hơn cả, có người thọ trì được kinh điển này cũng lại như thế, ở trong tất cả chúng sanh cũng là bậc nhất. Trong tất cả Thanh văn cùng Duyên giác, Bồ Tát là bậc nhất, kinh này cũng thế trong tất cả các kinh pháp rất là bậc nhất. Như Phật là vua của các pháp, kinh này cũng thế là vua của các kinh.
「宿王華!此經能救一切眾生者,此經能令一切眾生離諸苦惱,此經能大饒益一切眾生,充滿其願。如清涼池!能滿一切諸渴乏者,如寒者得火,如裸者得衣,如商人得主,如子得母,如渡得船,如病得醫,如暗得燈,如貧得寶,如民得王,如賈客得海,如炬除暗;此法華經亦復如是,能令眾生離一切苦、一切病痛,能解一切生死之縛。若人得聞此法華經,若自書、若使人書,所得功德,以佛智慧籌量多少,不得其邊。若書是經卷,華、香、瓔珞、燒香、末香、塗香,幡蓋、衣服,種種之燈——酥燈、油燈、諸香油燈、瞻蔔油燈、須曼那油燈、波羅羅油燈、婆利師迦油燈、那婆摩利油燈——供養,所得功德,亦復無量。
“Tú Vương Hoa! Thử kinh năng cứu nhất thiết chúng sinh giả, thử kinh năng lệnh nhất thiết chúng sinh ly chư khổ não, thử kinh năng đại nhiêu ích nhất thiết chúng sinh, sung mãn kỳ nguyện. Như thanh lương trì! Năng mãn nhất thiết chư khát phạp giả, như hàn giả đắc hỏa, như lõa giả đắc y, như thương nhân đắc chủ, như tử đắc mẫu, như độ đắc thuyền, như bệnh đắc y, như ám đắc đăng, như bần đắc bảo, như dân đắc vương, như cổ khách đắc hải, như cự trừ ám; thử pháp hoa kinh diệc phục như thị, năng lệnh chúng sinh ly nhất thiết khổ, nhất thiết bệnh thống, năng giải nhất thiết sinh tử chi phược. Nhược nhân đắc văn thử pháp hoa kinh, nhược tự thư, nhược sử nhân thư, sở đắc công đức, dĩ Phật trí tuệ trù lượng đa thiểu, bất đắc kỳ biên. Nhược thư thị kinh quyển, hoa, hương, anh lạc, thiêu hương, mạt hương, đồ hương, phướn cái, y phục, chủng chủng chi đăng——tô đăng, dầu đăng, chư hương dầu đăng, chiêm bặc dầu đăng, tu mạn na dầu đăng, ba la la dầu đăng, bà lợi sư ca dầu đăng, na bà ma lợi dầu đăng——cúng dường, sở đắc công đức, diệc phục vô lượng.
Tú Vương Hoa! Kinh này có thể cứu tất cả chúng sanh, kinh này có thể làm cho tất cả chúng sanh xa rời các khổ não, kinh này có thể lợi ích cho tất cả chúng sanh, đầy mãn chỗ mong cầu của chúng như ao nước trong mát có thể đầy đủ cho những người khát nước, như kẻ lạnh được lửa, như kẻ trần truồng được y phục, như người buôn được chủ (11), như con gặp mẹ, như qua sông gặp thuyền, như người bệnh gặp thầy thuốc, như tối được đèn, như nghèo gặp của báu, như dân gặp vua (12), như khách được biển (13), như đuốc trừ tối. Kinh Pháp Hoa này cũng thế, có thể làm cho chúng sanh xa rời tất cả khổ, tất cả bệnh tật đau đớn, có thể mở sự trăng trói của tất cả sanh tử. Nếu người được nghe kinh Pháp Hoa này, hoặc chép, hoặc bảo người chép, được công đức, dùng trí huệ của Phật tính lường nhiều ít chẳng thể được ngằn mé đó. Nếu chép kinh sách này, dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, y phục, các thứ đèn: Đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu chiêm bặc, đèn dầu tu mạn na, đèn dầu ba la la, đèn dầu bà lợi sư ca, đèn dầu na bà ma lợi đem cúng dường được công đức cũng là vô lượng.
「宿王華!若有人聞是藥王菩薩本事品者,亦得無量無邊功德。若有女人聞是藥王菩薩本事品,能受持者,盡是女身,後不復受。若如來滅後後五百歲中,若有女人聞是經典,如說修行。於此命終,即往安樂世界,阿彌陀佛、大菩薩眾,圍繞住處,生蓮華中,寶座之上,不復為貪欲所惱,亦復不為瞋恚愚癡所惱,亦復不為憍慢嫉妬諸垢所惱,得菩薩神通、無生法忍。得是忍已,眼根清淨,以是清淨眼根,見七百萬二千億那由他恒河沙等諸佛如來。是時諸佛遙共讚言:『善哉,善哉!善男子!汝能於釋迦牟尼佛法中,受持讀誦思惟是經,為他人說,所得福德無量無邊,火不能燒,水不能漂,汝之功德,千佛共說不能令盡。汝今已能破諸魔賊,壞生死軍,諸餘怨敵皆悉摧滅。善男子!百千諸佛,以神通力共守護汝,於一切世間天、人之中無如汝者,唯除如來,其諸聲聞、辟支佛、乃至菩薩,智慧禪定無有與汝等者。』宿王華!此菩薩成就如是功德智慧之力。
“Tú Vương Hoa! Nhược hữu nhân văn thị dược vương Bồ-tát bản sự phẩm giả, diệc đắc vô lượng vô biên công đức. Nhược hữu nữ nhân văn thị dược vương Bồ-tát bản sự phẩm, năng thọ trì giả, tận thị nữ thân, hậu bất phục thọ. Nhược Như-lai diệt hậu hậu ngũ bách tuế trung, nhược hữu nữ nhân văn thị kinh điển, như thuyết tu hành. Ư thử mệnh chung, tức vãng an lạc thế giới, A-di-đà Phật, đại Bồ-tát chúng, vi nhiễu trụ xứ, sinh liên hoa trung, bảo tòa chi thượng, bất phục vi tham dục sở não, diệc phục bất vi sân huệ ngu si sở não, diệc phục bất vi kiêu mạn tật đố chư cấu sở não, đắc Bồ-tát thần thông, vô sinh pháp nhẫn. Đắc thị nhẫn dĩ, nhãn căn thanh tịnh, dĩ thị thanh tịnh nhãn căn, kiến thất bách vạn nhị thiên ức na-do-tha hằng hà sa đẳng chư Phật Như-lai. Thị thời chư Phật dao cộng tán ngôn: ‘Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử! Nhữ năng ư Thích-ca Mâu-ni Phật pháp trung, thọ trì độc tụng tư duy thị kinh, vi tha nhân thuyết, sở đắc phúc đức vô lượng vô biên, hỏa bất năng thiêu, thủy bất năng phiêu, nhữ chi công đức, thiên Phật cộng thuyết bất năng lệnh tận. Nhữ kim dĩ năng phá chư ma tặc, hoại sinh tử quân, chư dư oán địch giai tất tồi diệt. Thiện nam tử! Bách thiên chư Phật, dĩ thần thông lực cộng thủ hộ nhữ, ư nhất thiết thế gian thiên, nhân chi trung vô như nhữ giả, duy trừ Như-lai, kỳ chư thanh văn, Bích-chi Phật, nãi chí Bồ-tát, trí tuệ thiền định vô hữu dữ nhữ đẳng giả.’ Tú Vương Hoa! Thử Bồ-tát thành tựu như thị công đức trí tuệ chi lực.
Tú Vương Hoa! Nếu có người nghe phẩm “Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự” này cũng được vô lượng vô biên công đức. Nếu có người nữ nghe phẩm “Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự” này mà có thể thọ trì, thì sau khi dứt báo thân đàn bà đó không còn thọ lại nữa. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nữ nghe kinh điển này, đúng như lời mà tu hành, thì khi ở đây chết liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của đức A Di Đà Phật (14) cùng chúng đại Bồ Tát vây quanh, mà sanh trên tòa báu trong hoa sen. Chẳng còn bị lòng tham dục làm khổ cũng lại chẳng bị lòng giận dỗi, ngu si làm khổ, cũng lại chẳng bị lòng kiêu mạn ghen ghét các tánh nhơ làm khổ, được thần thông vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát, được pháp nhẫn đó thì nhãn căn thanh tịnh. Do nhãn căn thanh tịnh đó thấy bảy trăm muôn hai nghìn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật Như Lai. Bấy giờ, các đức Phật đồng nói khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ông có thể ở trong pháp hội của đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà thọ trì, đọc tụng, suy gẫm kinh này vì người khác nói, ông được công đức vô lượng vô biên, lửa chẳng đốt được, nước chẳng trôi được, công đức của ông, nghìn Phật chung nói chẳng thể hết được. Ông nay đã có thể phá các giặc ma, hoại quân sanh tử, các oán địch khác thảy đều trừ diệt. Thiện nam tử! Trăm nghìn các đức Phật dùng sức thần thông đồng chung thủ hộ ông, tất cả trời người trong đời không ai bằng ông. Chỉ trừ các đức Như Lai, bao nhiêu thiền định trí huệ của các Thanh văn, Duyên giác, nhẫn đến Bồ Tát không có ai bằng ông. Tú Vương Hoa! Vị Bồ Tát đó thành tựu sức công đức trí huệ như thế.
若有人聞是藥王菩薩本事品,能隨喜讚善者,是人現世口中常出青蓮華香,身毛孔中常出牛頭栴檀之香,所得功德,如上所說。是故,宿王華!以此藥王菩薩本事品囑累於汝。我滅度後後五百歲中,廣宣流布於閻浮提,無令斷絕,惡魔、魔民、諸天、龍、夜叉、鳩槃茶等,得其便也。「宿王華!汝當以神通之力守護是經。所以者何?此經則為閻浮提人,病之良藥。若人有病,得聞是經,病即消滅,不老不死。宿王華!汝若見有受持是經者,應以青蓮花盛滿末香,供散其上。散已,作是念言:『此人不久必當取草坐於道場,破諸魔軍,當吹法螺、擊大法鼓,度脫一切眾生老病死海。』是故求佛道者、見有受持是經典人,應當如是生恭敬心。」
Nhược hữu nhân văn thị dược vương Bồ-tát bản sự phẩm, năng tùy hỷ tán thiện giả, thị nhân hiện thế khẩu trung thường xuất thanh liên hoa hương, thân mao khổng trung thường xuất ngưu đầu chiên-đàn chi hương, sở đắc công đức, như thượng sở thuyết. Thị cố, Tú Vương Hoa! Dĩ thử dược vương Bồ-tát bản sự phẩm chúc lụy ư nhữ. Ngã diệt độ hậu hậu ngũ bách tuế trung, quảng tuyên lưu bố ư Diêm-phù-đề, vô lệnh đoạn tuyệt, ác ma, ma dân, chư thiên, long, dạ-xoa, cưu-bàn-trà đẳng, đắc kỳ tiện dã. “Tú Vương Hoa! Nhữ đương dĩ thần thông chi lực thủ hộ thị kinh. Sở dĩ giả hà? Thử kinh tắc vi Diêm-phù-đề nhân, bệnh chi lương dược. Nhược nhân hữu bệnh, đắc văn thị kinh, bệnh tức tiêu diệt, bất lão bất tử. Tú Vương Hoa! Nhữ nhược kiến hữu thọ trì thị kinh giả, ưng dĩ thanh liên hoa thịnh mãn mạt hương, cúng tán kỳ thượng. Tán dĩ, tác thị niệm ngôn: ‘Thử nhân bất cửu tất đương thủ thảo tọa ư đạo tràng, phá chư ma quân, đương xuy pháp loa, kích đại pháp cổ, độ thoát nhất thiết chúng sinh lão bệnh tử hải.’ Thị cố cầu Phật đạo giả, kiến hữu thọ trì thị kinh điển nhân, ưng đương như thị sinh cung kính tâm.”
Nếu có người nghe phẩm “Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự” này mà có thể tùy hỷ khen ngợi, thì người đó trong đời hiện tại trong miệng thường thoảng ra mùi thơm hoa sen xanh; trong lỗ chân lông nơi thân, thường thoảng ra mùi thơm ngưu đầu chiên đàn, được công đức như đã nói ở trên. Tú Vương Hoa! Vì thế ta đem phẩm “Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự” này chúc lũy cho ông. Năm trăm năm sau khi ta diệt độ phải tuyên nói lưu bố rộng truyền ở cõi Diêm Phù Đề, chớ để dứt mất. Chớ cho hàng ác ma, dân ma, các trời, rồng, Dạ xoa, Cưu bàn trà v.v... phá quấy đặng. Tú Vương Hoa! Ông hãy dùng sức thần thông giữ gìn kinh này. Vì sao? Vì kinh này là món lương dược của người bệnh trong cõi Diêm Phù Đề; nếu người có bệnh được nghe kinh này bệnh liền tiêu diệt, chẳng già, chẳng chết. Tú Vương Hoa! Nếu ông thấy có người thọ trì kinh này, phải dùng hoa sen xanh đựng đầy hương bột rải trên người đó. Rải xong nghĩ rằng: “Người này chẳng bao lâu quyết sẽ lấy cỏ trải ngồi nơi đạo tràng, phá các quân ma, sẽ thổi ốc pháp, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh, già, bệnh, chết. Cho nên người cầu Phật đạo thấy có người thọ trì kinh điển này, nên phải sanh lòng cung kính như thế.
說是藥王菩薩本事品時,八萬四千菩薩得解一切眾生語言陀羅尼。多寶如來於寶塔中讚宿王華菩薩言:「善哉,善哉!宿王華!汝成就不可思議功德,乃能問釋迦牟尼佛如此之事,利益無量一切眾生。」
Thuyết thị dược vương Bồ-tát bản sự phẩm thời, bát vạn tứ thiên Bồ-tát đắc giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn đà-la-ni. Đa bảo Như-lai ư bảo tháp trung tán Tú Vương Hoa Bồ-tát ngôn: “Thiện tai, thiện tai! Tú Vương Hoa! Nhữ thành tựu bất khả tư nghị công đức, nãi năng vấn Thích-ca Mâu-ni Phật như thử chi sự, lợi ích vô lượng nhất thiết chúng sinh.”
Lúc đức Phật nói phẩm “Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự” này, có tám muôn bốn nghìn Bồ Tát được pháp “Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn đà la ni”. Đức Đa Bảo Như Lai ỏ trong tháp báu khen ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Tú Vương Hoa! Ông thành tựu bất khả tư nghì công đức mới có thể hỏi đức Thích Ca Mâu Ni Phật việc như thế, làm vô lượng lợi ích cho tất cả chúng sanh”.
妙法蓮華經卷第六
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ lục
(Hết Quyển Thứ Sáu — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Sáu”)
THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ sáu)
- (1) Tùy hỷ: Vui theo, vui mừng ưng thuận tán thành.
- (2) Tứ sanh: 1. Loài từ trứng sanh ra như chim v.v... 2. Loài từ bào thai sanh ra như người v.v... 3. Loài từ ẩm ướt sanh ra như trùng, đom đóm v.v... 4. Loài từ biến hóa sanh ra như trời, địa ngục v.v...
- (3) A Tỳ: Vô gián địa ngục, người ở trong địa ngục này một ngày một đêm muôn lần chết muôn lần sống, bị khổ hình không có giây phút nào ngớt nghỉ nên gọi là Vô gián.
- (4) Trời Hữu Đảnh: Cõi trời cùng tột, cũng là chót của ba cõi.
- (5) Quang Âm Thiên, Biến Tịnh Thiên: Quang Âm Thiên là một trong ba từng trời nhị thiền, cũng là từng thứ ba. Biến Tịnh Thiên là một trong ba từng tam thiền, cũng là từng thứ ba.
- (6) Đại Thiện Tịch: Thiện là lành; Tịch là vắng bặt. Tức là môn thiền định vô lậu lớn.
- (7) Bạch y: Người thế tục ưa mặc y phục sắc trắng nên gọi là “bạch y”.
- (8) Sáu thù: Hai mươi bốn “thù” làm một lượng.
- (9) Đế Thích: Trên chót núi Tu di (Diệu cao sơn) bằng phẳng bốn phương có 32 cõi trời, mỗi cõi đều có một vị Thiên vương quản trị. Trung ương, có một cõi trời, ông Thích Đề Hoàn Nhơn (Đế Thích, ở trong đây, quyền quản lãnh cả 33 cõi trời, hợp lại là trời “Đao Lợi”).
- (10) Dự Lưu: Người tu hành theo Phật Pháp phá 88 món “kiến sở đoạn hoặc” thì rời phàm phu dự vào hàng Thánh nên gọi “Dự Lưu”. Cõi dục có 9 phẩm “tư hoặc”, cõi sắc có 36 phẩm “Tư Hoặc”. Cõi vô sắc có 36 phẩm “tư hoặc”. Cộng là 81 phẩm “tư hoặc”. Sau khi phá hết 88 món “kiến hoặc”, tu hành lần lần phá “tư hoặc”. Trong 9 phẩm cõi dục, phá được 6 phẩm trước thì chứng bậc “tư đà hàm” (Nhất Lai) nghĩa là còn một lần sanh xuống nhân gian. Phá cả 9 phẩm thì không còn sanh xuống nhân gian nữa nên gọi “Bất Lai” (A na hàm). Phá cả 81 phẩm tư hoặc thì dứt hẳn sanh tử luân hồi nên gọi “ Vô Sanh” (A La Hán).
- (11) Thương chủ: Người dẫn đạo cho các con buôn.
- (12) Vua: Vị cai trị một nước, người đem sự an ninh cho dân chúng.
- (13) Biển: Xưa các người buôn châu báu thường ra biển tìm châu báu.
- (14) Cõi An Lạc: An Lạc tức là nước Cực Lạc ở Tây phương, của đức Giáo Chủ A Di Đà Phật. (A) Na do tha, chân ca la, tần bà la, a súc bà: Tên những con số lớn của xứ Ấn Độ xưa. Từ nghìn muôn ức sắp lên. Như một Chân ca la: Một nghìn muôn ức.
Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)
Tạm trì tùy hỷ thanh tịnh các căn kíp quên “nhân” “pháp”, thể thường còn, thần lực khắp càn khôn trao phó ân cần: Liều thân mạng để báo ân rộng lớn. NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)
Ngài Di Lặc Bồ Tát so lường kinh nhân, sáu căn thanh tịnh hiện thiên chân, Bất Khinh thể thường còn, vì pháp thiêu thân cúng dường Phật Tịnh Minh. NAM MÔ TÚ VƯƠNG HOA BỒ TÁT. (3 lần)
Hết Quyển 6