Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinhkinh dieu phap lien hoa妙法蓮華經卷第二
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ nhị
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — QUYỂN THỨ HAI
後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉詔譯
Hậu tần Quy-tư quốc Tam tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch
(Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.)
PHẨM “THÍ DỤ” THỨ BA
譬喻品第三
Thí dụ phẩm đệ tam
PHẨM “THÍ DỤ” THỨ BA
爾時舍利弗踊躍歡喜,即起合掌,瞻仰尊顏而白佛言:「今從世尊聞此法音,心懷勇躍,得未曾有。所以者何?我昔從佛聞如是法,見諸菩薩授記作佛,而我等不豫斯事,甚自感傷,失於如來無量知見。世尊!我常獨處山林樹下,若坐若行,每作是念:『我等同入法性,云何如來以小乘法而見濟度?是我等咎,非世尊也。所以者何?若我等待說所因成就阿耨多羅三藐三菩提者,必以大乘而得度脫。然我等不解方便隨宜所說,初聞佛法,遇便信受、思惟、取證。』世尊!我從昔來,終日竟夜每自剋責,而今從佛聞所未聞未曾有法,斷諸疑悔,身意泰然,快得安隱。今日乃知真是佛子,從佛口生,從法化生,得佛法分。」爾時舍利弗欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời Xá-lợi-phất dũng dược hoan hỷ, tức khởi hợp chưởng, chiêm ngưỡng tôn nhan nhi bạch Phật ngôn: “Kim tùng Thế-tôn văn thử pháp âm, tâm hoài dũng dược, đắc vị tằng hữu. Sở dĩ giả hà? Ngã tích tùng Phật văn như thị pháp, kiến chư Bồ-tát thụ ký tác Phật, nhi ngã đẳng bất dự tư sự, thậm tự cảm thương, thất ư Như-lai vô lượng tri kiến. Thế-tôn! Ngã thường độc xứ sơn lâm thụ hạ, nhược tọa nhược hành, mỗi tác thị niệm: ‘Ngã đẳng đồng nhập pháp tính, vân hà Như-lai dĩ tiểu thừa pháp nhi kiến tế độ? Thị ngã đẳng cữu, phi Thế-tôn dã. Sở dĩ giả hà? Nhược ngã đẳng đãi thuyết sở nhân thành tựu a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề giả, tất dĩ đại thừa nhi đắc độ thoát. Nhiên ngã đẳng bất giải phương tiện tùy nghi sở thuyết, sơ văn Phật pháp, ngộ tiện tín thọ, tư duy, thủ chứng.’ Thế-tôn! Ngã tùng tích lai, chung nhật cánh dạ mỗi tự khắc trách, nhi kim tùng Phật văn sở vị văn vị tằng hữu pháp, đoạn chư nghi hối, thân ý thái nhiên, khoái đắc an ẩn. Kim nhật nãi tri chân thị Phật tử, tùng Phật khẩu sinh, tùng pháp hóa sinh, đắc Phật pháp phân.” Nhĩ thời Xá-lợi-phất dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng: “Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng vui thích được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ Tát được thọ ký thành Phật mà chúng con chẳng được dự việc đó tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến của Như Lai. Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vậy: Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp tiểu thừa mà tế độ cho? Đó là lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác thì chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy. Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. Khi ấy, Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「我聞是法音,得所未曾有,心懷大歡喜,疑網皆已除。昔來蒙佛教,不失於大乘,佛音甚希有,能除眾生惱,我已得漏盡,聞亦除憂惱。我處於山谷,或在林樹下,若坐若經行,常思惟是事,嗚呼深自責,云何而自欺?我等亦佛子,同入無漏法,不能於未來,演說無上道。金色三十二,十力諸解脫,同共一法中,而不得此事;八十種妙好,十八不共法,如是等功德,而我皆已失。
“Ngã văn thị pháp âm, đắc sở vị tằng hữu, tâm hoài đại hoan hỷ, nghi võng giai dĩ trừ. Tích lai mông Phật giáo, bất thất ư đại thừa, Phật âm thậm hy hữu, năng trừ chúng sinh não, ngã dĩ đắc lậu tận, văn diệc trừ ưu não. Ngã xử ư sơn cốc, hoặc tại lâm thụ hạ, nhược tọa nhược kinh hành, thường tư duy thị sự, ô hô thâm tự trách, vân hà nhi tự khi? Ngã đẳng diệc Phật tử, đồng nhập vô lậu pháp, bất năng ư vị lai, diễn thuyết vô thượng đạo. Kim sắc tam thập nhị, thập lực chư giải thoát, đồng cộng nhất pháp trung, nhi bất đắc thử sự; bát thập chủng diệu hảo, thập bát bất cộng pháp, như thị đẳng công đức, nhi ngã giai dĩ thất.
Con nghe tiếng pháp này
Được điều chưa từng có
Lòng rất đổi vui mừng
Lưới nghi đều đã trừ,
Xưa nay nhờ Phật dạy
Chẳng mất nơi Đại thừa.
Tiếng Phật rất ít có
Hay trừ khổ chúng sanh
Con đã được lậu tận
(1) Nghe cũng trừ lo khổ.
Con ở nơi hang núi
Hoặc dưới cụm cây rừng
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Thường suy nghĩ việc này,
Thôi ôi! Rất tự trách
Sao lại tự khi mình
Chúng ta cũng Phật tử
Đồng vào pháp vô lậu
Chẳng được ở vị lai
Nói pháp vô thượng đạo,
Sắc vàng, băm hai tướng
(2) Mười lực (3) các giải thoát.
Đồng chung trong một pháp
Mà chẳng được việc đây
Tám mươi tướng tốt đẹp
Mười tám pháp bất cộng
(4) Các công đức như thế
Mà ta đều đã mất
我獨經行時,見佛在大眾,名聞滿十方,廣饒益眾生。自惟失此利,我為自欺誑。我常於日夜,每思惟是事,欲以問世尊,為失為不失?我常見世尊,稱讚諸菩薩,以是於日夜,籌量如此事。
Ngã độc kinh hành thời, kiến Phật tại đại chúng, danh văn mãn thập phương, quảng nhiêu ích chúng sinh. Tự duy thất thử lợi, ngã vi tự khi cuống. Ngã thường ư nhật dạ, mỗi tư duy thị sự, dục dĩ vấn Thế-tôn, vi thất vi bất thất? Ngã thường kiến Thế-tôn, xưng tán chư Bồ-tát, dĩ thị ư nhật dạ, trù lượng như thử sự.
Lúc con kinh hành riêng
Thấy Phật ở trong chúng
Danh đồn khắp mười phương
Rộng lợi ích chúng sanh
Tự nghĩ mất lợi này
Chính con tự khi dối
Con thường trong ngày đêm
Hằng suy nghĩ việc đó
Muốn đem hỏi Thế Tôn?
Là mất hay không mất?
Con thường thấy Thế Tôn
Khen ngợi các Bồ Tát
(5) Vì thế nên ngày đêm
Suy lường việc như vậy
今聞佛音聲,隨宜而說法,無漏難思議,令眾至道場。我本著邪見,為諸梵志師,世尊知我心,拔邪說涅槃。我悉除邪見,於空法得證,爾時心自謂,得至於滅度;而今乃自覺,非是實滅度。若得作佛時,具三十二相,天人夜叉眾,龍神等恭敬,是時乃可謂,永盡滅無餘。佛於大眾中,說我當作佛,聞如是法音,疑悔悉已除。
Kim văn Phật âm thanh, tùy nghi nhi thuyết pháp, vô lậu nan tư nghị, lệnh chúng chí đạo tràng. Ngã bản trước tà kiến, vi chư phạm chí sư, Thế-tôn tri ngã tâm, bạt tà thuyết Niết-bàn. Ngã tất trừ tà kiến, ư không pháp đắc chứng, nhĩ thời tâm tự vị, đắc chí ư diệt độ; nhi kim nãi tự giác, phi thị thực diệt độ. Nhược đắc tác Phật thời, cụ tam thập nhị tướng, thiên nhân dạ-xoa chúng, long thần đẳng cung kính, thị thời nãi khả vị, vĩnh tận diệt vô dư. Phật ư đại chúng trung, thuyết ngã đương tác Phật, văn như thị pháp âm, nghi hối tất dĩ trừ.
Nay nghe tiếng Phật nói
Theo cơ nghi dạy Pháp
Vô lậu khó nghĩ bàn
Khiến chúng đến đạo tràng.
Con xưa chấp tà kiến
Làm thầy các Phạm chí
(6) Thế Tôn rõ tâm con
Trừ tà nói Niết bàn.
Con trừ hết tà kiến
Được chứng nơi pháp không
Bấy giờ lòng tự bảo
Được đến nơi diệt độ
Mà nay mới tự biết
Chẳng phải thật diệt độ.
Nếu lúc được thành Phật
Đủ ba mươi hai tướng
Trời, người, chúng Dạ xoa
Rồng, thần đều cung kính
Bấy giờ mới được nói
Dứt hẳn hết không thừa
Phật ở trong đại chúng
Nói con sẽ thành Phật
Nghe tiếng pháp như vậy
Lòng nghi hối đã trừ.
初聞佛所說,心中大驚疑,將非魔作佛,惱亂我心耶?佛以種種緣、譬喻巧言說,其心安如海,我聞疑網斷。佛說過去世,無量滅度佛,安住方便中,亦皆說是法。現在未來佛,其數無有量,亦以諸方便,演說如是法。如今者世尊,從生及出家、得道轉法輪,亦以方便說。世尊說實道,波旬無此事,以是我定知,非是魔作佛。我墮疑網故,謂是魔所為,聞佛柔軟音,深遠甚微妙,演暢清淨法。我心大歡喜,疑悔永已盡,安住實智中。我定當作佛,為天人所敬,轉無上法輪,教化諸菩薩。」
Sơ văn Phật sở thuyết, tâm trung đại kinh nghi, tương phi ma tác Phật, não loạn ngã tâm da? Phật dĩ chủng chủng duyên, thí dụ xảo ngôn thuyết, kỳ tâm an như hải, ngã văn nghi võng đoạn. Phật thuyết quá khứ thế, vô lượng diệt độ Phật, an trụ phương tiện trung, diệc giai thuyết thị pháp. Hiện tại vị lai Phật, kỳ số vô hữu lượng, diệc dĩ chư phương tiện, diễn thuyết như thị pháp. Như kim giả Thế-tôn, tùng sinh cập xuất gia, đắc đạo chuyển pháp luân, diệc dĩ phương tiện thuyết. Thế-tôn thuyết thực đạo, ba tuần vô thử sự, dĩ thị ngã định tri, phi thị ma tác Phật. Ngã đọa nghi võng cố, vị thị ma sở vi, văn Phật nhu nhuyễn âm, thâm viễn thậm vi diệu, diễn sướng thanh tịnh pháp. Ngã tâm đại hoan hỷ, nghi hối vĩnh dĩ tận, an trụ thực trí trung. Ngã định đương tác Phật, vi thiên nhân sở kính, chuyển vô thượng pháp luân, giáo hóa chư Bồ-tát.”
Khi mới nghe Phật nói
Trong lòng rất sợ nghi
Phải chăng ma giả Phật
Não loạn lòng ta ư?
Phật dùng các món duyên
Thí dụ khéo nói phô,
Lòng kia an như biển
Con nghe, lưới nghi dứt.
Phật nói thuở quá khứ
Vô lượng Phật diệt độ
An trụ trong phương tiện
Cũng đều nói pháp đó.
Phật hiện tại, vị lai.
Số nhiều cũng vô lượng
Cũng dùng các phương tiện
Diễn nói pháp như thế.
Như Thế Tôn ngày nay
Từ sanh đến xuất gia
Được đạo Chuyển pháp luân
Cũng dùng phương tiện nói
Thế Tôn nói đạo thật
Ba Tuần (7) không nói được
Vì thế con định biết
Không phải ma giả Phật
Con sa vào lưới nghi
Cho là ma làm ra.
Nghe tiếng Phật êm dịu
Sâu xa rất nhiệm mầu
Nói suốt pháp thanh tịnh
Tâm con rất vui mừng.
Nghi hối đã hết hẳn
An trụ trong thật trí
Con quyết sẽ thành Phật
Được trời, người cung kính
Chuyển pháp luân vô thượng
Giáo hóa các Bồ Tát.
爾時佛告舍利弗:「吾今於天、人、沙門、婆羅門等大眾中說,我昔曾於二萬億佛所,為無上道故,常教化汝,汝亦長夜隨我受學。我以方便引導汝故,生我法中。舍利弗!我昔教汝志願佛道,汝今悉忘,而便自謂已得滅度。我今還欲令汝憶念本願所行道故,為諸聲聞說是大乘經,名妙法蓮華,教菩薩法,佛所護念。
Nhĩ thời Phật cáo Xá-lợi-phất: “Ngô kim ư thiên, nhân, sa môn, bà-la-môn đẳng đại chúng trung thuyết, ngã tích tằng ư nhị vạn ức Phật sở, vi vô thượng đạo cố, thường giáo hóa nhữ, nhữ diệc trường dạ tùy ngã thọ học. Ngã dĩ phương tiện dẫn đạo nhữ cố, sinh ngã pháp trung. Xá-lợi-phất! Ngã tích giáo nhữ chí nguyện Phật đạo, nhữ kim tất vong, nhi tiện tự vị dĩ đắc diệt độ. Ngã kim hoàn dục lệnh nhữ ức niệm bản nguyện sở hành đạo cố, vi chư thanh văn thuyết thị đại thừa kinh, danh diệu pháp liên hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm.
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa môn, Bà la môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta”. Xá Lợi Phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là: “Diệu Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm.
「舍利弗!汝於未來世,過無量無邊不可思議劫,供養若干千萬億佛,奉持正法,具足菩薩所行之道,當得作佛,號曰華光如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。國名離垢,其土平正,清淨嚴飾,安隱豐樂,天人熾盛。琉璃為地,有八交道,黃金為繩以界其側。其傍各有七寶行樹,常有華菓。華光如來亦以三乘教化眾生。「舍利弗!彼佛出時,雖非惡世,以本願故,說三乘法。其劫名大寶莊嚴。何故名曰大寶莊嚴?其國中以菩薩為大寶故。彼諸菩薩,無量無邊,不可思議,算數譬喻所不能及,非佛智力無能知者。若欲行時,寶華承足。此諸菩薩,非初發意,皆久殖德本,於無量百千萬億佛所淨修梵行,恒為諸佛之所稱歎。常修佛慧,具大神通,善知一切諸法之門,質直無偽,志念堅固。如是菩薩,充滿其國。「舍利弗!華光佛壽十二小劫,除為王子未作佛時。其國人民,壽八小劫。華光如來過十二小劫,授堅滿菩薩阿耨多羅三藐三菩提記。告諸比丘:『是堅滿菩薩次當作佛,號曰華足安行多陀阿伽度、阿羅訶、三藐三佛陀,其佛國土亦復如是。』「舍利弗!是華光佛滅度之後,正法住世三十二小劫,像法住世亦三十二小劫。」爾時世尊欲重宣此義,而說偈言:
“Xá-lợi-phất! Nhữ ư vị lai thế, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường nhược can thiên vạn ức Phật, phụng trì chính pháp, cụ túc Bồ-tát sở hành chi đạo, đương đắc tác Phật, hiệu viết hoa quang Như-lai, Ứng cúng, chính biến tri, minh hành túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế-tôn. Quốc danh ly cấu, kỳ thổ bình chính, thanh tịnh nghiêm sức, an ẩn phong lạc, thiên nhân sí thịnh. Lưu-ly vi địa, hữu bát giao đạo, hoàng kim vi thằng dĩ giới kỳ trắc. Kỳ bàng các hữu thất bảo hành thụ, thường hữu hoa quả. Hoa quang Như-lai diệc dĩ tam thừa giáo hóa chúng sinh. “Xá-lợi-phất! Bỉ Phật xuất thời, tuy phi ác thế, dĩ bản nguyện cố, thuyết tam thừa pháp. Kỳ kiếp danh đại bảo trang nghiêm. Hà cố danh viết đại bảo trang nghiêm? Kỳ quốc trung dĩ Bồ-tát vi đại bảo cố. Bỉ chư Bồ-tát, vô lượng vô biên, bất khả tư nghị, toán số thí dụ sở bất năng cập, phi Phật trí lực vô năng tri giả. Nhược dục hành thời, bảo hoa thừa túc. Thử chư Bồ-tát, phi sơ phát ý, giai cửu thực đức bản, ư vô lượng bách thiên vạn ức Phật sở tịnh tu phạm hành, hằng vi chư Phật chi sở xưng thán. Thường tu Phật tuệ, cụ đại thần thông, thiện tri nhất thiết chư pháp chi môn, chất trực vô ngụy, chí niệm kiên cố. Như thị Bồ-tát, sung mãn kỳ quốc. “Xá-lợi-phất! Hoa quang Phật thọ thập nhị tiểu kiếp, trừ vi vương tử vị tác Phật thời. Kỳ quốc nhân dân, thọ bát tiểu kiếp. Hoa quang Như-lai quá thập nhị tiểu kiếp, thụ kiên mãn Bồ-tát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký. Cáo chư tỳ-kheo: ‘Thị kiên mãn Bồ-tát thứ đương tác Phật, hiệu viết hoa túc an hành đa-đà-a-già-độ, A-la-ha, tam-miệu tam-phật-đà, kỳ Phật quốc độ diệc phục như thị.’ “Xá-lợi-phất! Thị hoa quang Phật diệt độ chi hậu, chính pháp trụ thế tam thập nhị tiểu kiếp, tượng pháp trụ thế diệc tam thập nhị tiểu kiếp.” Nhĩ thời Thế-tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Xá Lợi Phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ Tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng thanh tịnh đẹp đẽ an ổn giàu vui, trời người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh. Xá Lợi Phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là “Đại Bảo Trang Nghiêm”. Vì sao gọi là Đại Bảo Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ Tát làm “Đại Bảo” vậy. Các Bồ Tát trong số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghì, tính kể hay thí dụ đều không đếm được, chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân. Các vị Bồ Tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững bậc Bồ Tát như thế, khắp đầy nước đó. Xá Lợi Phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký vô thượng chánh đẳng chánh giác cho Kiên Mãn Bồ Tát mà bảo các Tỳ kheo: Ông Kiên mãn Bồ Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây. Xá Lợi Phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp. Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「舍利弗來世,成佛普智尊,號名曰華光,當度無量眾。供養無數佛,具足菩薩行,十力等功德,證於無上道。過無量劫已,劫名大寶嚴,世界名離垢,清淨無瑕穢。以琉璃為地,金繩界其道,七寶雜色樹,常有華菓實。彼國諸菩薩,志念常堅固,神通波羅蜜,皆已悉具足。於無數佛所,善學菩薩道,如是等大士,華光佛所化。佛為王子時,棄國捨世榮,於最末後身,出家成佛道。華光佛住世,壽十二小劫,其國人民眾,壽命八小劫。佛滅度之後,正法住於世,三十二小劫,廣度諸眾生。正法滅盡已,像法三十二,舍利廣流布,天人普供養。華光佛所為,其事皆如是,其兩足聖尊,最勝無倫匹。彼即是汝身,宜應自欣慶。」
“Xá-lợi-phất lai thế, thành Phật phổ trí tôn, hiệu danh viết hoa quang, đương độ vô lượng chúng. Cúng dường vô số Phật, cụ túc Bồ-tát hành, thập lực đẳng công đức, chứng ư vô thượng đạo. Quá vô lượng kiếp dĩ, kiếp danh đại bảo nghiêm, thế giới danh ly cấu, thanh tịnh vô hà uế. Dĩ lưu-ly vi địa, kim thằng giới kỳ đạo, thất bảo tạp sắc thụ, thường hữu hoa quả thực. Bỉ quốc chư Bồ-tát, chí niệm thường kiên cố, thần thông ba-la-mật, giai dĩ tất cụ túc. Ư vô số Phật sở, thiện học Bồ-tát đạo, như thị đẳng đại sĩ, hoa quang Phật sở hóa. Phật vi vương tử thời, khí quốc xả thế vinh, ư tối mạt hậu thân, xuất gia thành Phật đạo. Hoa quang Phật trụ thế, thọ thập nhị tiểu kiếp, kỳ quốc nhân dân chúng, thọ mệnh bát tiểu kiếp. Phật diệt độ chi hậu, chính pháp trụ ư thế, tam thập nhị tiểu kiếp, quảng độ chư chúng sinh. Chính pháp diệt tận dĩ, tượng pháp tam thập nhị, xá lợi quảng lưu bố, thiên nhân phổ cúng dường. Hoa quang Phật sở vi, kỳ sự giai như thị, kỳ lưỡng túc thánh tôn, tối thắng vô luân thất. Bỉ tức thị nhữ thân, nghi ưng tự hân khánh.”
Xá Lợi Phất đời sau
Thành đấng Phật trí khắp
Hiệu rằng: Phật Hoa Quang
Sẽ độ vô lượng chúng.
Cúng dường vô số Phật
Đầy đủ hạnh Bồ Tát
Các công đức thập lực
Chứng được đạo vô thượng
Quá vô lượng kiếp rồi
Kiếp tên Đại Bảo Nghiêm
Cõi nước tên Ly Cấu
Trong sạch không vết nhơ
Dùng lưu ly làm đất
Dây vàng giăng đường sá
Cây bảy báu sắc đẹp
Thường có hoa cùng trái
Bồ Tát trong cõi đó
Chí niệm thường bền vững
Thần thông ba la mật
Đều đã trọn đầy đủ
Nơi vô số đức Phật
Khéo học đạo Bồ Tát
Những Đại sĩ như thế
Phật Hoa Quang hóa độ.
Lúc Phật làm vương tử
Rời nước bỏ vinh hoa
Nơi thân cuối rốt sau
Xuất gia thành Phật đạo
Phật Hoa Quang trụ thế
Thọ mười hai tiểu kiếp
Chúng nhân dân nước đó
Sống lâu tám tiểu kiếp
Sau khi Phật diệt độ
Chánh pháp trụ ở đời
Ba mươi hai tiểu kiếp
Rộng độ các chúng sanh
Chánh pháp diệt hết rồi
Tượng pháp cũng băm hai
Xá lợi rộng truyền khắp
Trời, người, khắp cúng dường
Phật Hoa Quang chỗ làm
Việc đó đều như thế.
Đấng Lưỡng Túc Tôn kia
Rất hơn không ai bằng
Phật tức là thân ông
Nên phải tự vui mừng.
爾時四部眾,比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,天、龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽等大眾,見舍利弗於佛前受阿耨多羅三藐三菩提記,心大歡喜,踊躍無量,各各脫身所著上衣、以供養佛。釋提桓因、梵天王等,與無數天子,亦以天妙衣、天曼陀羅華、摩訶曼陀羅華等,供養於佛——所散天衣,住虛空中,而自迴轉;諸天伎樂百千萬種,於虛空中一時俱作,雨眾天華——而作是言:「佛昔於波羅㮈初轉法輪,今乃復轉無上最大法輪。」爾時諸天子欲重宣此義,而說偈言:
Nhĩ thời tứ bộ chúng, tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già đẳng đại chúng, kiến Xá-lợi-phất ư Phật tiền thọ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký, tâm đại hoan hỷ, dũng dược vô lượng, các các thoát thân sở trước thượng y, dĩ cúng dường Phật. Thích-đề-hoàn-nhân, phạm thiên vương đẳng, dữ vô số thiên tử, diệc dĩ thiên diệu y, thiên mạn-đà-la hoa, Ma-ha mạn-đà-la hoa đẳng, cúng dường ư Phật——sở tán thiên y, trụ hư không trung, nhi tự hồi chuyển; chư thiên kỹ nhạc bách thiên vạn chủng, ư hư không trung nhất thời câu tác, vũ chúng thiên hoa——nhi tác thị ngôn: “Phật tích ư Ba-la-nại sơ chuyển pháp luân, kim nãi phục chuyển vô thượng tối đại pháp luân.” Nhĩ thời chư thiên tử dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ và cả đại chúng: trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, v.v... thấy Xá Lợi Phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. Thích Đề Hoàn Nhơn cùng Phạm Thiên Vương v.v... và vô số thiên tử cùng đem y đẹp của trời, hoa trời Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la v.v... cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trổi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng: “Đức Phật xưa ở thành Ba La Nại, ban đầu chuyển pháp luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn vô thượng”. Lúc đó các Thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「昔於波羅㮈,轉四諦法輪,分別說諸法,五眾之生滅。今復轉最妙,無上大法輪,是法甚深奧,少有能信者。我等從昔來,數聞世尊說,未曾聞如是,深妙之上法。世尊說是法,我等皆隨喜。大智舍利弗,今得受尊記,我等亦如是,必當得作佛。於一切世間,最尊無有上,佛道叵思議,方便隨宜說。我所有福業,今世若過世,及見佛功德,盡迴向佛道。」
“Tích ư Ba-la-nại, chuyển tứ đế pháp luân, phân biệt thuyết chư pháp, ngũ chúng chi sinh diệt. Kim phục chuyển tối diệu, vô thượng đại pháp luân, thị pháp thậm thâm áo, thiểu hữu năng tín giả. Ngã đẳng tùng tích lai, số văn Thế-tôn thuyết, vị tằng văn như thị, thâm diệu chi thượng pháp. Thế-tôn thuyết thị pháp, ngã đẳng giai tùy hỷ. Đại trí Xá-lợi-phất, kim đắc thọ tôn ký, ngã đẳng diệc như thị, tất đương đắc tác Phật. Ư nhất thiết thế gian, tối tôn vô hữu thượng, Phật đạo phả tư nghị, phương tiện tùy nghi thuyết. Ngã sở hữu phúc nghiệp, kim thế nhược quá thế, cập kiến Phật công đức, tận hồi hướng Phật đạo.”
Xưa ở thành Ba Nại
Chuyển pháp luân Tứ Đế
Phân biệt nói các pháp
Sanh diệt của năm nhóm
(8) Nay lại chuyển pháp luân
Rất lớn diệu vô thượng,
Pháp đó rất sâu mầu
Ít có người tin được.
Chúng ta từ xưa lại
Thường nghe Thế Tôn nói
Chưa từng nghe thượng pháp
Thâm diệu như thế này,
Thế Tôn nói pháp đó
Chúng ta đều tùy hỷ,
Đại trí Xá Lợi Phất
Nay được lãnh Phật ký
Chúng ta cũng như vậy
Quyết sẽ được thành Phật,
Trong tất cả thế gian
Rất tôn không còn trên
Phật đạo chẳng thể bàn
Phương tiện tùy nghi nói
Ta bao nhiêu nghiệp phước
Đời nay hoặc quá khứ
Và công đức thấy Phật.
Trọn hồi hướng Phật đạo.
爾時舍利弗白佛言:「世尊!我今無復疑悔,親於佛前得受阿耨多羅三藐三菩提記。是諸千二百心自在者,昔住學地,佛常教化言:『我法能離生老病死,究竟涅槃。』是學無學人,亦各自以離我見及有無見等謂得涅槃;而今於世尊前聞所未聞,皆墮疑惑。善哉,世尊!願為四眾說其因緣,令離疑悔。」
Nhĩ thời Xá-lợi-phất bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã kim vô phục nghi hối, thân ư Phật tiền đắc thọ a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký. Thị chư thiên nhị bách tâm tự tại giả, tích trụ học địa, Phật thường giáo hóa ngôn: ‘Ngã pháp năng ly sinh lão bệnh tử, cứu cánh Niết-bàn.’ Thị học vô học nhân, diệc các tự dĩ ly ngã kiến cập hữu vô kiến đẳng vị đắc Niết-bàn; nhi kim ư Thế-tôn tiền văn sở vị văn, giai đọa nghi hoặc. Thiện tai, Thế-tôn! Nguyện vi tứ chúng thuyết kỳ nhân duyên, lệnh ly nghi hối.”
Bấy giờ, Xá Lợi Phất bạch rằng: “Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: “Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết rốt ráo Niết bàn”. Các vị hữu học vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v... nói là được Niết bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối”.
爾時佛告舍利弗:「我先不言:『諸佛世尊以種種因緣、譬喻言辭方便說法,皆為阿耨多羅三藐三菩提耶?』是諸所說,皆為化菩薩故。然,舍利弗!今當復以譬喻更明此義,諸有智者以譬喻得解。
Nhĩ thời Phật cáo Xá-lợi-phất: “Ngã tiên bất ngôn: ‘Chư Phật Thế-tôn dĩ chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ phương tiện thuyết pháp, giai vi a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề da?’ Thị chư sở thuyết, giai vi hóa Bồ-tát cố. Nhiên, Xá-lợi-phất! Kim đương phục dĩ thí dụ cánh minh thử nghĩa, chư hữu trí giả dĩ thí dụ đắc giải.
Khi ấy, Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: Ta trước đâu không nói rằng: “Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy Bồ Tát vậy. Nhưng Xá Lợi Phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà được hiểu”.
「舍利弗!若國邑聚落有大長者,其年衰邁,財富無量,多有田宅及諸僮僕。其家廣大,唯有一門,多諸人眾,一百、二百乃至五百人,止住其中。堂閣朽故,牆壁隤落,柱根腐敗,梁棟傾危,周匝俱時歘然火起,焚燒舍宅。長者諸子,若十、二十,或至三十,在此宅中。
“Xá-lợi-phất! Nhược quốc ấp tụ lạc hữu đại trưởng giả, kỳ niên suy mại, tài phú vô lượng, đa hữu điền trạch cập chư đồng bộc. Kỳ gia quảng đại, duy hữu nhất môn, đa chư nhân chúng, nhất bách, nhị bách nãi chí ngũ bách nhân, chỉ trụ kỳ trung. Đường các hủ cố, tường bích đồi lạc, trụ căn hủ bại, lương đống khuynh nguy, chu táp câu thời hốt nhiên hỏa khởi, phần thiêu xá trạch. Trưởng giả chư tử, nhược thập, nhị thập, hoặc chí tam thập, tại thử trạch trung.
Xá Lợi Phất! Như trong quốc ấp, tụ lạc có vị đại Trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông; hoặc một trăm, hai trăm cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính xiêng xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa. Các người con của Trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó.
長者見是大火從四面起,即大驚怖,而作是念:『我雖能於此所燒之門安隱得出,而諸子等,於火宅內樂著嬉戲,不覺不知、不驚不怖,火來逼身,苦痛切己,心不厭患,無求出意。』「舍利弗!是長者作是思惟:『我身手有力,當以衣裓、若以机案,從舍出之。』復更思惟:『是舍唯有一門,而復狹小。諸子幼稚,未有所識,戀著戲處,或當墮落,為火所燒。我當為說怖畏之事,此舍已燒,宜時疾出,無令為火之所燒害。』作是念已,如所思惟,具告諸子,汝等速出。父雖憐愍、善言誘喻,而諸子等樂著嬉戲,不肯信受,不驚不畏,了無出心;亦復不知何者是火?何者為舍?云何為失?但東西走戲,視父而已。
Trưởng giả kiến thị đại hỏa tùng tứ diện khởi, tức đại kinh bố, nhi tác thị niệm: ‘Ngã tuy năng ư thử sở thiêu chi môn an ẩn đắc xuất, nhi chư tử đẳng, ư hỏa trạch nội nhạo trước hi hí, bất giác bất tri, bất kinh bất bố, hỏa lai bức thân, khổ thống thiết kỷ, tâm bất yếm hoạn, vô cầu xuất ý.’ “Xá-lợi-phất! Thị trưởng giả tác thị tư duy: ‘Ngã thân thủ hữu lực, đương dĩ y kích, nhược dĩ kỷ án, tùng xá xuất chi.’ Phục cánh tư duy: ‘Thị xá duy hữu nhất môn, nhi phục hẹp tiểu. Chư tử ấu trĩ, vị hữu sở thức, luyến trước hí xứ, hoặc đương đọa lạc, vi hỏa sở thiêu. Ngã đương vi thuyết bố úy chi sự, thử xá dĩ thiêu, nghi thời tật xuất, vô lệnh vi hỏa chi sở thiêu hại.’ Tác thị niệm dĩ, như sở tư duy, cụ cáo chư tử, nhữ đẳng tốc xuất. Phụ tuy liên mẫn, thiện ngôn dụ dụ, nhi chư tử đẳng nhạo trước hi hí, bất khẳng tín thọ, bất kinh bất úy, liễu vô xuất tâm; diệc phục bất tri hà giả thị hỏa? Hà giả vi xá? Vân hà vi thất? Đãn đông tây tẩu hí, thị phụ nhi dĩ.
Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này, ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi. Xá Lợi Phất! Ông Trưởng giả đó lại nghĩ: Thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế đẳng từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ. Nhà này đã bị cháy phải mau ra liền, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? Gì là nhà? Thế nào là hại? Chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi.
「爾時長者即作是念:『此舍已為大火所燒,我及諸子若不時出,必為所焚。我今當設方便,令諸子等得免斯害。』父知諸子先心各有所好種種珍玩奇異之物,情必樂著,而告之言:『汝等所可玩好,希有難得,汝若不取,後必憂悔。如此種種羊車、鹿車、牛車,今在門外,可以遊戲。汝等於此火宅、宜速出來,隨汝所欲,皆當與汝。』爾時諸子聞父所說珍玩之物,適其願故,心各勇銳,互相推排,競共馳走,爭出火宅。是時長者見諸子等安隱得出,皆於四衢道中露地而坐,無復障礙,其心泰然,歡喜踊躍。時諸子等各白父言:『父先所許玩好之具,羊車、鹿車、牛車,願時賜與。』
“Nhĩ thời trưởng giả tức tác thị niệm: ‘Thử xá dĩ vi đại hỏa sở thiêu, ngã cập chư tử nhược bất thời xuất, tất vi sở phần. Ngã kim đương thiết phương tiện, lệnh chư tử đẳng đắc miễn tư hại.’ Phụ tri chư tử tiên tâm các hữu sở hảo chủng chủng trân ngoạn kỳ dị chi vật, tình tất nhạo trước, nhi cáo chi ngôn: ‘Nhữ đẳng sở khả ngoạn hảo, hy hữu nan đắc, nhữ nhược bất thủ, hậu tất ưu hối. Như thử chủng chủng dương xa, lộc xa, ngưu xa, kim tại môn ngoại, khả dĩ du hí. Nhữ đẳng ư thử hỏa trạch, nghi tốc xuất lai, tùy nhữ sở dục, giai đương dữ nhữ.’ Nhĩ thời chư tử văn phụ sở thuyết trân ngoạn chi vật, thích kỳ nguyện cố, tâm các dũng nhuệ, hỗ tướng suy bài, cạnh cộng trì tẩu, tranh xuất hỏa trạch. Thị thời trưởng giả kiến chư tử đẳng an ẩn đắc xuất, giai ư tứ cù đạo trung lộ địa nhi tọa, vô phục chướng ngại, kỳ tâm thái nhiên, hoan hỷ dũng dược. Thời chư tử đẳng các bạch phụ ngôn: ‘Phụ tiên sở hứa ngoạn hảo chi cụ, dương xa, lộc xa, ngưu xa, nguyện thời tứ dữ.’
Bấy giờ, Trưởng giả liền nghĩ nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không ra liền chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này. Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có, chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy, sau nầy chắc buồn hận. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con”. Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau cùng đua nhau rượt chạy tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đều ở trong đường ngã tư nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở. Bấy giờ, các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho”.
「舍利弗!爾時長者各賜諸子等一大車,其車高廣,眾寶莊校,周匝欄楯,四面懸鈴;又於其上張設幰蓋,亦以珍奇雜寶而嚴飾之,寶繩絞絡,垂諸華纓,重敷綩綖,安置丹枕。駕以白牛,膚色充潔,形體姝好,有大筋力,行步平正,其疾如風;又多僕從而侍衛之。所以者何?是大長者財富無量,種種諸藏悉皆充溢,而作是念:『我財物無極,不應以下劣小車與諸子等。今此幼童,皆是吾子,愛無偏黨。我有如是七寶大車,其數無量,應當等心各各與之,不宜差別。所以者何?以我此物,周給一國猶尚不匱,何況諸子!』是時諸子各乘大車,得未曾有,非本所望。
“Xá-lợi-phất! Nhĩ thời trưởng giả các tứ chư tử đẳng nhất đại xa, kỳ xa cao quảng, chúng bảo trang hiệu, chu táp lan thuẫn, tứ diện huyền linh; hựu ư kỳ thượng trương thiết hiển cái, diệc dĩ trân kỳ tạp bảo nhi nghiêm sức chi, bảo thằng giảo lạc, thùy chư hoa anh, trọng phu uyển diên, an trí đan chẩm. Giá dĩ bạch ngưu, phu sắc sung khiết, hình thể xu hảo, hữu đại cân lực, hành bộ bình chính, kỳ tật như phong; hựu đa bộc tùng nhi thị vệ chi. Sở dĩ giả hà? Thị đại trưởng giả tài phú vô lượng, chủng chủng chư tàng tất giai sung dật, nhi tác thị niệm: ‘Ngã tài vật vô cực, bất ưng dĩ hạ liệt tiểu xa dữ chư tử đẳng. Kim thử ấu đồng, giai thị ngô tử, ái vô thiên đảng. Ngã hữu như thị thất bảo đại xa, kỳ số vô lượng, ưng đương đẳng tâm các các dữ chi, bất nghi sai biệt. Sở dĩ giả hà? Dĩ ngã thử vật, chu cấp nhất quốc do thượng bất quỹ, hà huống chư tử!’ Thị thời chư tử các thừa đại xa, đắc vị tằng hữu, phi bản sở vọng.
Xá Lợi Phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp, tốt, lạ, mà trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó. Vì cớ sao? Vì ông Trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cùng, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác”. Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu huống gì các con. Lúc ấy các người con đều ngồi xe lớn được điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông.
「舍利弗!於汝意云何,是長者等與諸子珍寶大車,寧有虛妄不?」舍利弗言:「不也,世尊!是長者但令諸子得免火難,全其軀命,非為虛妄。何以故?若全身命,便為已得玩好之具,況復方便於彼火宅而拔濟之。世尊!若是長者,乃至不與最小一車,猶不虛妄。何以故?是長者先作是意:『我以方便令子得出。』以是因緣,無虛妄也。何況長者自知財富無量,欲饒益諸子,等與大車。」
“Xá-lợi-phất! Ư nhữ ý vân hà, thị trưởng giả đẳng dữ chư tử trân bảo đại xa, ninh hữu hư vọng phủ?” Xá-lợi-phất ngôn: “Phất dã, Thế-tôn! Thị trưởng giả đãn lệnh chư tử đắc miễn hỏa nan, toàn kỳ khu mệnh, phi vi hư vọng. Hà dĩ cố? Nhược toàn thân mệnh, tiện vi dĩ đắc ngoạn hảo chi cụ, huống phục phương tiện ư bỉ hỏa trạch nhi bạt tế chi. Thế-tôn! Nhược thị trưởng giả, nãi chí bất dữ tối tiểu nhất xa, do bất hư vọng. Hà dĩ cố? Thị trưởng giả tiên tác thị ý: ‘Ngã dĩ phương tiện lệnh tử đắc xuất.’ Dĩ thị nhân duyên, vô hư vọng dã. Hà huống trưởng giả tự tri tài phú vô lượng, dục nhiêu ích chư tử, đẳng dữ đại xa.”
Xá Lợi Phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông Trưởng giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng? Xá Lợi Phất thưa: “Thưa Thế Tôn! Không, ông Trưởng giả đó chỉ làm cho các người con được khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa. Thế Tôn! Dầu ông Trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông Trưởng giả đó trước có nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông Trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích các con mà đồng cho xe lớn!”
佛告舍利弗:「善哉,善哉!如汝所言。舍利弗!如來亦復如是,則為一切世間之父。於諸怖畏、衰惱、憂患、無明闇蔽,永盡無餘,而悉成就無量知見、力、無所畏,有大神力及智慧力,具足方便、智慧波羅蜜,大慈大悲,常無懈惓,恒求善事,利益一切,而生三界朽故火宅,為度眾生生老病死、憂悲、苦惱、愚癡、闇蔽、三毒之火,教化令得阿耨多羅三藐三菩提。
Phật cáo Xá-lợi-phất: “Thiện tai, thiện tai! Như nhữ sở ngôn. Xá-lợi-phất! Như-lai diệc phục như thị, tắc vi nhất thiết thế gian chi phụ. Ư chư bố úy, suy não, ưu hoạn, vô minh ám tế, vĩnh tận vô dư, nhi tất thành tựu vô lượng tri kiến, lực, vô sở úy, hữu đại thần lực cập trí tuệ lực, cụ túc phương tiện, trí tuệ ba-la-mật, đại từ đại bi, thường vô giải quyện, hằng cầu thiện sự, lợi ích nhất thiết, nhi sinh tam giới hủ cố hỏa trạch, vi độ chúng sinh sinh lão bệnh tử, ưu bi, khổ não, ngu si, ám tế, tam độc chi hỏa, giáo hóa lệnh đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói. Xá Lợi Phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy; có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện, trí huệ Ba la mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa; sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
見諸眾生為生老病死、憂悲苦惱之所燒煮,亦以五欲財利故,受種種苦;又以貪著追求故,現受眾苦,後受地獄、畜生、餓鬼之苦;若生天上,及在人間,貧窮困苦、愛別離苦、怨憎會苦,如是等種種諸苦。眾生沒在其中,歡喜遊戲,不覺不知、不驚不怖,亦不生厭,不求解脫。於此三界火宅東西馳走,雖遭大苦,不以為患。
Kiến chư chúng sinh vi sinh lão bệnh tử, ưu bi khổ não chi sở thiêu chử, diệc dĩ ngũ dục tài lợi cố, thọ chủng chủng khổ; hựu dĩ tham trước truy cầu cố, hiện thọ chúng khổ, hậu thọ địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ chi khổ; nhược sinh thiên thượng, cập tại nhân gian, bần cùng khốn khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, như thị đẳng chủng chủng chư khổ. Chúng sinh một tại kỳ trung, hoan hỷ du hí, bất giác bất tri, bất kinh bất bố, diệc bất sinh yếm, bất cầu giải thoát. Ư thử tam giới hỏa trạch đông tây trì tẩu, tuy tao đại khổ, bất dĩ vi hoạn.
Ta thấy, các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục (9) tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ vì người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này đông tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo.
「舍利弗!佛見此已,便作是念:『我為眾生之父,應拔其苦難,與無量無邊佛智慧樂,令其遊戲。』「舍利弗!如來復作是念:『若我但以神力及智慧力,捨於方便,為諸眾生讚如來知見、力無所畏者,眾生不能以是得度。所以者何?是諸眾生,未免生老病死、憂悲苦惱,而為三界火宅所燒;何由能解佛之智慧?』
“Xá-lợi-phất! Phật kiến thử dĩ, tiện tác thị niệm: ‘Ngã vi chúng sinh chi phụ, ưng bạt kỳ khổ nan, dữ vô lượng vô biên Phật trí tuệ lạc, lệnh kỳ du hí.’ “Xá-lợi-phất! Như-lai phục tác thị niệm: ‘Nhược ngã đãn dĩ thần lực cập trí tuệ lực, xả ư phương tiện, vi chư chúng sinh tán Như-lai tri kiến, lực vô sở úy giả, chúng sinh bất năng dĩ thị đắc độ. Sở dĩ giả hà? Thị chư chúng sinh, vị miễn sinh lão bệnh tử, ưu bi khổ não, nhi vi tam giới hỏa trạch sở thiêu; hà do năng giải Phật chi trí tuệ?’
Xá Lợi Phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi. Xá Lợi Phất! Đức Như Lai lại nghĩ: Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí huệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sanh chẳng có thể do đó mà được độ thoát. Vì sao? Vì các chúng sanh đó chưa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đương bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí huệ của Phật.
「舍利弗!如彼長者,雖復身手有力而不用之,但以慇懃方便勉濟諸子火宅之難,然後各與珍寶大車。如來亦復如是,雖有力、無所畏而不用之,但以智慧方便,於三界火宅拔濟眾生,為說三乘——聲聞、辟支佛、佛乘,而作是言:『汝等莫得樂住三界火宅,勿貪麁弊色聲香味觸也。若貪著生愛,則為所燒。汝速出三界,當得三乘——聲聞、辟支佛、佛乘。我今為汝保任此事,終不虛也。汝等但當勤修精進。』如來以是方便誘進眾生,復作是言:『汝等當知此三乘法,皆是聖所稱歎,自在無繫,無所依求。乘是三乘,以無漏根、力、覺、道、禪定、解脫、三昧等而自娛樂,便得無量安隱快樂。』
“Xá-lợi-phất! Như bỉ trưởng giả, tuy phục thân thủ hữu lực nhi bất dụng chi, đãn dĩ ân cần phương tiện miễn tế chư tử hỏa trạch chi nan, nhiên hậu các dữ trân bảo đại xa. Như-lai diệc phục như thị, tuy hữu lực, vô sở úy nhi bất dụng chi, đãn dĩ trí tuệ phương tiện, ư tam giới hỏa trạch bạt tế chúng sinh, vi thuyết tam thừa——thanh văn, Bích-chi Phật, Phật thừa, nhi tác thị ngôn: ‘Nhữ đẳng mạc đắc lạc trụ tam giới hỏa trạch, vật tham thô tệ sắc thanh hương vị xúc dã. Nhược tham trước sinh ái, tắc vi sở thiêu. Nhữ tốc xuất tam giới, đương đắc tam thừa——thanh văn, Bích-chi Phật, Phật thừa. Ngã kim vi nhữ bảo nhiệm thử sự, chung bất hư dã. Nhữ đẳng đãn đương cần tu tinh tiến.’ Như-lai dĩ thị phương tiện dụ tiến chúng sinh, phục tác thị ngôn: ‘Nhữ đẳng đương tri thử tam thừa pháp, giai thị thánh sở xưng thán, tự tại vô hệ, vô sở y cầu. Thừa thị tam thừa, dĩ vô lậu căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát, tam-muội đẳng nhi tự ngu lạc, tiện đắc vô lượng an ẩn khoái lạc.’
Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, rồi sau đều cho xe trân báu lớn. Đức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy (10) mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí huệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sanh ái nhiễm thì sẽ bị nó đốt; các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ được chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa. Nay ta vì các người mà bảo đảm việc đó quyết không dối vậy. Các người chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành”. Đức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sanh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng Thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo (11) , thiền định vô lậu cùng giải thoát tam muội v.v... để tự vui sướng, được vô lượng an ổn khoái lạc”.
「舍利弗!若有眾生內有智性,從佛世尊聞法信受,慇懃精進,欲速出三界,自求涅槃,是名聲聞乘,如彼諸子為求羊車出於火宅;若有眾生從佛世尊聞法信受,慇懃精進,求自然慧,樂獨善寂,深知諸法因緣,是名辟支佛乘,如彼諸子為求鹿車出於火宅;若有眾生從佛世尊聞法信受,勤修精進,求一切智、佛智、自然智、無師智,如來知見、力、無所畏,愍念、安樂無量眾生,利益天人,度脫一切,是名大乘,菩薩求此乘故,名為摩訶薩,如彼諸子為求牛車、出於火宅。
“Xá-lợi-phất! Nhược hữu chúng sinh nội hữu trí tính, tùng Phật Thế-tôn văn pháp tín thọ, ân cần tinh tiến, dục tốc xuất tam giới, tự cầu Niết-bàn, thị danh thanh văn thừa, như bỉ chư tử vi cầu dương xa xuất ư hỏa trạch; nhược hữu chúng sinh tùng Phật Thế-tôn văn pháp tín thọ, ân cần tinh tiến, cầu tự nhiên tuệ, lạc độc thiện tịch, thâm tri chư pháp nhân duyên, thị danh Bích-chi Phật thừa, như bỉ chư tử vi cầu lộc xa xuất ư hỏa trạch; nhược hữu chúng sinh tùng Phật Thế-tôn văn pháp tín thọ, cần tu tinh tiến, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như-lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm, an lạc vô lượng chúng sinh, lợi ích thiên nhân, độ thoát nhất thiết, thị danh đại thừa, Bồ-tát cầu thử thừa cố, danh vi Ma-ha tát, như bỉ chư tử vi cầu ngưu xa, xuất ư hỏa trạch.
Xá Lợi Phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí huệ tự nhiên ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn cầu nhứt thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, các món tri kiến lực, vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại thừa, Bồ Tát vì cầu được thừa này thì gọi là Ma ha tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.
「舍利弗!如彼長者,見諸子等安隱得出火宅,到無畏處,自惟財富無量,等以大車而賜諸子。如來亦復如是,為一切眾生之父,若見無量億千眾生,以佛教門出三界苦,怖畏險道,得涅槃樂。「如來爾時便作是念:『我有無量無邊智慧、力、無畏等諸佛法藏,是諸眾生皆是我子,等與大乘,不令有人獨得滅度,皆以如來滅度而滅度之。』是諸眾生脫三界者,悉與諸佛禪定、解脫等娛樂之具,皆是一相、一種,聖所稱歎,能生淨妙第一之樂。
“Xá-lợi-phất! Như bỉ trưởng giả, kiến chư tử đẳng an ẩn đắc xuất hỏa trạch, đáo vô úy xứ, tự duy tài phú vô lượng, đẳng dĩ đại xa nhi tứ chư tử. Như-lai diệc phục như thị, vi nhất thiết chúng sinh chi phụ, nhược kiến vô lượng ức thiên chúng sinh, dĩ Phật giáo môn xuất tam giới khổ, bố úy hiểm đạo, đắc Niết-bàn lạc. “Như-lai nhĩ thời tiện tác thị niệm: ‘Ngã hữu vô lượng vô biên trí tuệ, lực, vô úy đẳng chư Phật pháp tàng, thị chư chúng sinh giai thị ngã tử, đẳng dữ đại thừa, bất lệnh hữu nhân độc đắc diệt độ, giai dĩ Như-lai diệt độ nhi diệt độ chi.’ Thị chư chúng sinh thoát tam giới giả, tất dữ chư Phật thiền định, giải thoát đẳng ngu lạc chi cụ, giai thị nhất tướng, nhất chủng, thánh sở xưng thán, năng sinh tịnh diệu đệ nhất chi lạc.
Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết bàn. Bấy giờ, đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí huệ, lực vô úy v.v... tạng pháp của các đức Phật, các chúng sanh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sanh nó diệt độ. Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui thiền định, giải thoát v.v... của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng Thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhất.
「舍利弗!如彼長者,初以三車誘引諸子,然後但與大車,寶物莊嚴,安隱第一;然彼長者無虛妄之咎。如來亦復如是,無有虛妄,初說三乘引導眾生,然後但以大乘而度脫之。何以故?如來有無量智慧、力、無所畏諸法之藏,能與一切眾生大乘之法,但不盡能受。「舍利弗!以是因緣,當知諸佛方便力故,於一佛乘分別說三。」佛欲重宣此義,而說偈言:
“Xá-lợi-phất! Như bỉ trưởng giả, sơ dĩ tam xa dụ dẫn chư tử, nhiên hậu đãn dữ đại xa, bảo vật trang nghiêm, an ẩn đệ nhất; nhiên bỉ trưởng giả vô hư vọng chi cữu. Như-lai diệc phục như thị, vô hữu hư vọng, sơ thuyết tam thừa dẫn đạo chúng sinh, nhiên hậu đãn dĩ đại thừa nhi độ thoát chi. Hà dĩ cố? Như-lai hữu vô lượng trí tuệ, lực, vô sở úy chư pháp chi tàng, năng dữ nhất thiết chúng sinh đại thừa chi pháp, đãn bất tận năng thọ. “Xá-lợi-phất! Dĩ thị nhân duyên, đương tri chư Phật phương tiện lực cố, ư nhất Phật thừa phân biệt thuyết tam.” Phật dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông Trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó. Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết. Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「譬如長者,有一大宅,其宅久故,而復頓弊,堂舍高危,柱根摧朽,梁棟傾斜,基陛隤毀,牆壁圮坼,泥塗褫落,覆苫亂墜,椽梠差脫,周障屈曲,雜穢充遍。有五百人,止住其中。鵄梟雕鷲、烏鵲鳩鴿、蚖蛇蝮蠍、蜈蚣蚰蜒、守宮百足、狖貍鼷鼠,諸惡蟲輩,交橫馳走。屎尿臭處,不淨流溢,蜣蜋諸蟲,而集其上。狐狼野干,咀嚼踐蹋,䶩齧死屍、骨肉狼藉。由是群狗,競來搏撮,飢羸慞惶,處處求食。鬪諍𪙁掣,嘊喍㘁吠,其舍恐怖,變狀如是。處處皆有,魑魅魍魎、夜叉惡鬼,食噉人肉。毒蟲之屬,諸惡禽獸,孚乳產生,各自藏護。夜叉競來,爭取食之,食之既飽,惡心轉熾,鬪諍之聲,甚可怖畏。鳩槃荼鬼,蹲踞土埵,或時離地,一尺二尺,往返遊行,縱逸嬉戲,捉狗兩足,撲令失聲,以腳加頸,怖狗自樂。復有諸鬼,其身長大,裸形黑瘦,常住其中,發大惡聲,叫呼求食。復有諸鬼,其咽如針。復有諸鬼,首如牛頭,或食人肉,或復噉狗,頭髮蓬亂,殘害凶險,飢渴所逼,叫喚馳走。夜叉餓鬼,諸惡鳥獸,飢急四向,窺看窓牖。如是諸難,恐畏無量。
“Thí như trưởng giả, hữu nhất đại trạch, kỳ trạch cửu cố, nhi phục đốn tệ, đường xá cao nguy, trụ căn tồi hủ, lương đống khuynh tà, cơ bệ đồi hủy, tường bích bĩ sách, nê đồ sỉ lạc, phúc thiêm loạn trụy, chuyên lữ sai thoát, chu chướng khuất khúc, tạp uế sung biến. Hữu ngũ bách nhân, chỉ trụ kỳ trung. Si kiêu điêu thứu, ô thước cưu cáp, ngoan xà phúc hiết, ngô công du diên, thủ cung bách túc, dứu ly hề thử, chư ác trùng bối, giao hoành trì tẩu. Thỉ niệu xú xứ, bất tịnh lưu dật, khương lang chư trùng, nhi tập kỳ thượng. Hồ lang dã can, trớ tước tiễn đạp, khiết niết tử thi, cốt nhục lang tạ. Do thị quần cẩu, cạnh lai bác toát, cơ luy chương hoàng, xứ xứ cầu thực. Đấu tránh tra xiết, nhai sài ngân phệ, kỳ xá khủng bố, biến trạng như thị. Xứ xứ giai hữu, si mị võng lượng, dạ-xoa ác quỷ, thực đạm nhân nhục. Độc trùng chi thuộc, chư ác cầm thú, phu nhũ sản sinh, các tự tàng hộ. Dạ-xoa cạnh lai, tranh thủ thực chi, thực chi ký bão, ác tâm chuyển sí, đấu tránh chi thanh, thậm khả bố úy. Cưu-bàn-trà quỷ, tồn cứ thổ đỏa, hoặc thời ly địa, nhất xích nhị xích, vãng phản du hành, túng dật hi hí, tróc cẩu lưỡng túc, phác lệnh thất thanh, dĩ cước gia cảnh, bố cẩu tự lạc. Phục hữu chư quỷ, kỳ thân trưởng đại, lõa hình hắc sấu, thường trụ kỳ trung, phát đại ác thanh, khiếu hô cầu thực. Phục hữu chư quỷ, kỳ yết như châm. Phục hữu chư quỷ, thủ như ngưu đầu, hoặc thực nhân nhục, hoặc phục đạm cẩu, đầu phát bồng loạn, tàn hại hung hiểm, cơ khát sở bức, khiếu hoán trì tẩu. Dạ-xoa ngạ quỷ, chư ác điểu thú, cơ cấp tứ hướng, khuy khán song dũ. Như thị chư nan, khủng úy vô lượng.
Thí như ông Trưởng giả
Có một nhà rất lớn
Nhà đó đã lâu cũ
Mà lại rất xấu xa,
Phòng nhà vừa cao nguy
Gốc cột lại gẫy mục
Trính xiêng đều xiêu vẹo
Nền móng đã nát rã,
Vách phên đều sụp đổ
Đất bùn rơi rớt xuống,
Tranh lợp sa tán loạn
Kèo đòn tay rời khớp,
Bốn bề đều cong vạy
Khắp đầy những tạp nhơ,
Có đến năm trăm người
Ở đỗ nơi trong đó.
Chim xi, hiêu, điêu, thứu,
Quạ, chim thước, cưu, cáp
Loài ngoan xà, phúc yết,
Giống ngô công, do diên,
Loài thủ cung, bá túc
Dứu ly cùng hề thử
Các giống độc trùng dữ
Ngang dọc xen ruỗi chạy,
Chỗ phẩn giải hôi thối.
Đồ bất tịnh chảy tràn
Các loài trùng khương lương
Bu nhóm ở trên đó,
Cáo, sói cùng dã can
Liếm nhai và dày đạp
Cắn xé những thây chết
Xương thịt bừa bãi ra,
Do đây mà bầy chó
Đua nhau đến ngoạm lấy,
Ốm đói và sợ sệt
Nơi nơi tìm món ăn
Giành giựt cấu xé nhau
Gầm gừ gào sủa rên,
Nhà đó sự đáng sợ
Những biến trạng dường ấy.
Khắp chỗ đều có những
Quỷ, ly, mị, vọng, lượng
Quỷ Dạ xoa quỷ dữ
Nuốt ăn cả thịt người,
Các loài trùng độc dữ
Những cầm thú hung ác
Ấp, cho bú sản sanh
Đều tự giấu gìn giữ
Quỷ Dạ xoa đua đến
Giành bắt mà ăn đó,
Ăn đó no nê rồi
Lòng hung dữ thêm hăng
Tiếng chúng đánh cãi nhau
Thật rất đáng lo sợ.
Những quỷ Cưu bàn trà
Ngồi xổm trên đống đất
Hoặc có lúc hỏng đất
Một thước hay hai thước
Qua rồi lại, dạo đi
Buông lung chơi cùng giỡn
Nắm hai chân của chó
Đánh cho la thất thanh
Lấy chân đạp trên cổ
Khủng bố chó để vui.
Lại có các giống quỷ
Thân nó rất cao lớn
Trần truồng thân đen xấu
Thường ở luôn trong đó
Rền tiếng hung ác lớn
Kêu la tìm món ăn
Lại có các giống quỷ
Cổ nó nhỏ bằng kim,
Lại có các giống quỷ
Đầu nó như đầu trâu
Hoặc là ăn thịt người
Hoặc lại ăn thịt chó,
Đầu tóc rối tung lên
Rất ác lại hung hiểm,
Bị đói khát bức ngặt
Kêu la vừa rong chạy
Dạ xoa cùng quỷ đói
Các chim muông ác độc
Đói gấp rảo bốn bề
Rình xem các cửa sổ
Các nạn dường thế đấy
Vô lượng việc ghê sợ (12)
是朽故宅,屬于一人。其人近出,未久之間,於後舍宅,欻然火起,四面一時,其炎俱熾。棟梁椽柱,爆聲震裂,摧折墮落,牆壁崩倒。諸鬼神等,揚聲大叫。雕鷲諸鳥、鳩槃荼等,周章惶怖,不能自出。惡獸毒蟲,藏竄孔穴。毘舍闍鬼,亦住其中,薄福德故,為火所逼,共相殘害,飲血噉肉。野干之屬,竝已前死,諸大惡獸,競來食噉,臭烟熢㶿,四面充塞。蜈蚣蚰蜒、毒蛇之類,為火所燒,爭走出穴,鳩槃荼鬼、隨取而食。又諸餓鬼,頭上火燃,飢渴熱惱,周章悶走。其宅如是,甚可怖畏,毒害火災,眾難非一。
Thị hủ cố trạch, thuộc vu nhất nhân. Kỳ nhân cận xuất, vị cửu chi gian, ư hậu xá trạch, hốt nhiên hỏa khởi, tứ diện nhất thời, kỳ viêm câu sí. Đống lương chuyên trụ, bộc thanh chấn liệt, tồi chiết đọa lạc, tường bích băng đảo. Chư quỷ thần đẳng, dương thanh đại khiếu. Điêu thứu chư điểu, cưu-bàn-trà đẳng, chu chương hoàng bố, bất năng tự xuất. Ác thú độc trùng, tàng thoán khổng huyệt. Tỳ-xá xà quỷ, diệc trụ kỳ trung, bạc phúc đức cố, vi hỏa sở bức, cộng tướng tàn hại, ẩm huyết đạm nhục. Dã can chi thuộc, tịnh dĩ tiền tử, chư đại ác thú, cạnh lai thực đạm, xú yên bồng bột, tứ diện sung tắc. Ngô công du diên, độc xà chi loại, vi hỏa sở thiêu, tranh tẩu xuất huyệt, cưu-bàn-trà quỷ, tùy thủ nhi thực. Hựu chư ngạ quỷ, đầu thượng hỏa nhiên, cơ khát nhiệt não, chu chương muộn tẩu. Kỳ trạch như thị, thậm khả bố úy, độc hại hỏa tai, chúng nan phi nhất.
Nhà cũ mục trên đó
Thuộc ở nơi một người
Người ấy vừa mới ra
Thời gian chưa bao lâu
Rồi sau nhà cửa đó
Bỗng nhiên lửa cháy đỏ
Đồng một lúc bốn bề
Ngọn lửa đều hừng hực,
Rường cột và trính xiêng
Tiếng tách nổ vang động
Nát gẫy rơi rớt xuống
Vách phên đều lở ngã,
Các loại quỷ thần thảy
Đồng cất tiếng kêu to,
Các giống chim điêu, thứu
Quỷ Cưu bàn trà thảy
Kinh sợ chạy sảng sốt
Vẫn không tự ra được,
Thú dữ loài trùng độc
Chui núp trong lỗ hang
Các quỷ Tỳ xá xà
Cũng ở trong hang đó
Vì phước đức kém vậy
Bị lửa đến đốt bức
Lại tàn hại lẫn nhau
Uống máu ăn thịt nhau.
Những loại thú dã can
Thì đều đã chết trước
Các giống thú dữ lớn
Giành đua đến ăn nuốt.
Khói tanh bay phùn phụt
Phủ khắp bít bốn bề,
Loài ngô công, do diên
Cùng với rắn hung độc
Bị lửa lòn đốt cháy
Tranh nhau chạy khỏi hang
Quỷ Bàn trà rình chờ
Liền bắt lấy mà ăn.
Lại có các ngạ quỷ
Trên đầu lửa rực cháy
Đói khát rất nóng khổ
Sảng sốt chạy quàng lên,
Nhà lửa đó dường ấy
Rất đáng nên ghê sợ
Độc hại cùng tai lửa
Các nạn chẳng phải một.
是時宅主,在門外立,聞有人言:『汝諸子等,先因遊戲,來入此宅,稚小無知,歡娛樂著。』長者聞已,驚入火宅,方宜救濟,令無燒害。告喻諸子,說眾患難,惡鬼毒蟲,災火蔓延,眾苦次第,相續不絕。毒蛇蚖蝮,及諸夜叉、鳩槃茶鬼,野干狐狗、雕鷲鵄梟,百足之屬,飢渴惱急,甚可怖畏。此苦難處,況復大火。諸子無知,雖聞父誨,猶故樂著,嬉戲不已。
Thị thời trạch chủ, tại môn ngoại lập, văn hữu nhân ngôn: ‘Nhữ chư tử đẳng, tiên nhân du hí, lai nhập thử trạch, trĩ tiểu vô tri, hoan ngu nhạo trước.’ Trưởng giả văn dĩ, kinh nhập hỏa trạch, phương nghi cứu tế, lệnh vô thiêu hại. Cáo dụ chư tử, thuyết chúng hoạn nan, ác quỷ độc trùng, tai hỏa mạn diên, chúng khổ thứ đệ, tương tục bất tuyệt. Độc xà ngoan phúc, cập chư dạ-xoa, cưu-bàn-trà quỷ, dã can hồ cẩu, điêu thứu si kiêu, bách túc chi thuộc, cơ khát não cấp, thậm khả bố úy. Thử khổ nan xứ, huống phục đại hỏa. Chư tử vô tri, tuy văn phụ hối, do cố nhạo trước, hi hí bất dĩ.
Lúc bấy giờ chủ nhà
Đứng ở nơi ngoài cửa
Nghe có người mách rằng:
Các người con của ông
Trước đây vì dạo chơi
Mà đến vào nhà này
Thơ bé không hiểu biết
Chỉ vui ham ưa đắm.
Trưởng giả vừa nghe xong
Kinh sợ vào nhà lửa
Tìm phương nghi cứu tế
Cho con khỏi thiêu hại
Mà dụ bảo các con
Nói rõ các hoạn nạn:
Nào ác quỷ độc trùng
Hỏa tai lan tràn cháy
Các sự khổ thứ lớp
Nối luôn không hề dứt
Loài độc xà, ngươn phúc
Và các quỷ Dạ xoa
Cùng quỷ Cưu bàn trà
Những dã can, chồn, chó
Chim điêu, thứu, xi, hiêu
Lại giống bá túc thảy
Đều đói khát khổ gấp
Rất đáng phải ghê sợ
Chỗ khổ nạn như thế
Huống lại là lửa lớn.
Các con nhỏ không hiểu
Dầu có nghe cha dạy
Cứ vẫn còn ham ưa
Vui chơi mãi không thôi
是時長者,而作是念:『諸子如此,益我愁惱。今此舍宅,無一可樂,而諸子等,耽湎嬉戲,不受我教,將為火害。』即便思惟,設諸方便,告諸子等:『我有種種,珍玩之具,妙寶好車,羊車鹿車、大牛之車,今在門外。汝等出來,吾為汝等,造作此車,隨意所樂,可以遊戲。』諸子聞說,如此諸車,即時奔競,馳走而出,到於空地,離諸苦難。長者見子,得出火宅,住於四衢。坐師子座,而自慶言:『我今快樂!此諸子等,生育甚難,愚小無知,而入險宅。多諸毒蟲,魑魅可畏,大火猛炎,四面俱起。而此諸子,貪樂嬉戲。我已救之,令得脫難。是故諸人,我今快樂。』爾時諸子,知父安坐,皆詣父所,而白父言:『願賜我等,三種寶車。如前所許:「諸子出來,當以三車,隨汝所欲。」今正是時,唯垂給與。』
Thị thời trưởng giả, nhi tác thị niệm: ‘Chư tử như thử, ích ngã sầu não. Kim thử xá trạch, vô nhất khả lạc, nhi chư tử đẳng, đam miện hi hí, bất thọ ngã giáo, tương vi hỏa hại.’ Tức tiện tư duy, thiết chư phương tiện, cáo chư tử đẳng: ‘Ngã hữu chủng chủng, trân ngoạn chi cụ, diệu bảo hảo xa, dương xa lộc xa, đại ngưu chi xa, kim tại môn ngoại. Nhữ đẳng xuất lai, ngô vi nhữ đẳng, tạo tác thử xa, tùy ý sở lạc, khả dĩ du hí.’ Chư tử văn thuyết, như thử chư xa, tức thời bôn cạnh, trì tẩu nhi xuất, đáo ư không địa, ly chư khổ nan. Trưởng giả kiến tử, đắc xuất hỏa trạch, trụ ư tứ cù. Tọa sư tử tòa, nhi tự khánh ngôn: ‘Ngã kim khoái lạc! Thử chư tử đẳng, sinh dục thậm nan, ngu tiểu vô tri, nhi nhập hiểm trạch. Đa chư độc trùng, si mị khả úy, đại hỏa mãnh viêm, tứ diện câu khởi. Nhi thử chư tử, tham lạc hi hí. Ngã dĩ cứu chi, lệnh đắc thoát nan. Thị cố chư nhân, ngã kim khoái lạc.’ Nhĩ thời chư tử, tri phụ an tọa, giai nghệ phụ sở, nhi bạch phụ ngôn: ‘Nguyện tứ ngã đẳng, tam chủng bảo xa. Như tiền sở hứa: “Chư tử xuất lai, đương dĩ tam xa, tùy nhữ sở dục.” Kim chính thị thời, duy thùy cấp dữ.’
Bấy giờ trưởng giả kia
Mới bèn nghĩ thế này
Các con như thế đó
Làm ta thêm sầu não
Nay trong nhà lửa này
Không một việc đáng vui
Mà các con ngây dại
Vẫn ham mê vui chơi
Chẳng chịu nghe lời ta
Toan sẽ bị lửa hại.
Ông bèn lại suy nghĩ
Nên bày các phương tiện
Bảo với các con rằng:
Cha có rất nhiều thứ
Các đồ chơi trân kỳ
Những xe báu tốt đẹp
Nào xe dê, xe hươu
Cùng với xe trâu lớn
Hiện để ở ngoài cửa
Các con mau ra đây
Cha chính vì các con
Mà sắm những xe này
Tùy ý các con thích
Có thể để dạo chơi.
Các con nghe cha nói
Các thứ xe như vậy
Tức thời cùng giành đua
Rảo chạy ra khỏi nhà
Đến nơi khoảng đất trống
Rời những sự khổ nạn
Trưởng giả thấy các con
Được ra khỏi nhà lửa
Ở nơi ngã tư đường
Đều ngồi tòa sư tử
Ông bèn tự mừng rằng
Ta nay rất mừng vui
Những đứa con ta đây
Đẻ nuôi rất khó lắm
Chúng nhỏ dại không hiểu
Mới lầm vào nhà hiểm
Có nhiều loài trùng độc
Quỷ, ly, mị đáng sợ
Lửa lớn cháy hừng hực
Bốn phía đều phựt lên
Mà các trẻ con này
Lại ham ưa vui chơi
Nay ta đã cứu chúng
Khiến đều được thoát nạn
Vì thế các người ơi!
Ta nay rất vui mừng.
Khi ấy các người con
Biết cha đã ngồi an
Đều đến bên chỗ cha
Mà thưa cùng cha rằng:
Xin cha cho chúng con
Ba thứ xe báu lạ
Như vừa rồi cha hứa
Các con mau ra đây
Sẽ cho ba thứ xe
Tùy ý các con muốn
Bây giờ chính phải lúc
Xin cha thương cấp cho.
長者大富,庫藏眾多,金銀琉璃、車𤦲馬腦,以眾寶物,造諸大車。莊校嚴飾,周匝欄楯,四面懸鈴,金繩交絡。真珠羅網,張施其上,金華諸瓔,處處垂下,眾綵雜飾,周匝圍繞,柔軟繒纊,以為茵蓐。上妙細㲲,價直千億,鮮白淨潔,以覆其上。有大白牛,肥壯多力,形體姝好,以駕寶車。多諸儐從,而侍衛之。以是妙車,等賜諸子。諸子是時,歡喜踊躍,乘是寶車,遊於四方,嬉戲快樂,自在無礙。
Trưởng giả đại phú, khố tàng chúng đa, kim ngân lưu-ly, xa cừ mã não, dĩ chúng bảo vật, tạo chư đại xa. Trang hiệu nghiêm sức, chu táp lan thuẫn, tứ diện huyền linh, kim thằng giao lạc. Chân châu la võng, trương thi kỳ thượng, kim hoa chư anh, xứ xứ thùy hạ, chúng thái tạp sức, chu táp vi nhiễu, nhu nhuyễn tăng khoáng, dĩ vi nhân nhục. Thượng diệu tế điệp, giá trực thiên ức, tiên bạch tịnh khiết, dĩ phúc kỳ thượng. Hữu đại bạch ngưu, phì tráng đa lực, hình thể xu hảo, dĩ giá bảo xa. Đa chư tân tùng, nhi thị vệ chi. Dĩ thị diệu xa, đẳng tứ chư tử. Chư tử thị thời, hoan hỷ dũng dược, thừa thị bảo xa, du ư tứ phương, hi hí khoái lạc, tự tại vô ngại.
Trưởng giả giàu có lớn
Kho đụn rất nhiều đầy
Vàng, bạc, cùng lưu ly
Xa cừ, ngọc mã não,
Dùng những món vật báu
Tạo thành các xe lớn
Chưng dọn trang nghiêm đẹp
Khắp vòng có bao lơn
Bốn mặt đều treo linh
Dây vàng xen thắt tụi
Lưới mành kết trân châu
Giăng bày phủ phía trên
Hoa vàng các chuỗi ngọc
Lòng thòng rủ khắp chỗ
Các màu trang sức đẹp
Khắp vòng xây quanh xe
Dùng nhiễu hàng mềm mại
Để làm nệm lót ngồi
Vải quý mịn rất tốt
Giá trị đến nghìn muôn
Bóng láng trắng sạch sẽ
Dùng trải trùm trên nệm
Có trâu trắng to lớn
Mập khỏe nhiều sức mạnh
Thân hình rất tươi tốt
Để kéo xe báu đó
Đông những tôi và tớ
Mà chực hầu giữ gìn
Đem xe đẹp như thế
Đồng ban cho các con
Các con lúc bấy giờ
Rất vui mừng hớn hở
Ngồi trên xe báu đó
Dạo đi khắp bốn phương
Vui chơi nhiều khoái lạc
Tự tại không ngăn ngại.
告舍利弗:『我亦如是,眾聖中尊,世間之父。一切眾生,皆是吾子,深著世樂,無有慧心。三界無安,猶如火宅,眾苦充滿,甚可怖畏。常有生老、病死憂患,如是等火,熾然不息。如來已離,三界火宅,寂然閑居,安處林野。今此三界,皆是我有,其中眾生,悉是吾子。而今此處,多諸患難,唯我一人,能為救護。雖復教詔,而不信受,於諸欲染,貪著深故。以是方便,為說三乘,令諸眾生,知三界苦,開示演說,出世間道。是諸子等,若心決定,具足三明,及六神通,有得緣覺、不退菩薩。汝舍利弗!我為眾生,以此譬喻,說一佛乘。汝等若能,信受是語,一切皆當,得成佛道。
Cáo Xá-lợi-phất: ‘Ngã diệc như thị, chúng thánh trung tôn, thế gian chi phụ. Nhất thiết chúng sinh, giai thị ngô tử, thâm trước thế lạc, vô hữu tuệ tâm. Tam giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy. Thường hữu sinh lão, bệnh tử ưu hoạn, như thị đẳng hỏa, sí nhiên bất tức. Như-lai dĩ ly, tam giới hỏa trạch, tịch nhiên nhàn cư, an xứ lâm dã. Kim thử tam giới, giai thị ngã hữu, kỳ trung chúng sinh, tất thị ngô tử. Nhi kim thử xứ, đa chư hoạn nan, duy ngã nhất nhân, năng vi cứu hộ. Tuy phục giáo chiếu, nhi bất tín thọ, ư chư dục nhiễm, tham trước thâm cố. Dĩ thị phương tiện, vi thuyết tam thừa, lệnh chư chúng sinh, tri tam giới khổ, khai thị diễn thuyết, xuất thế gian đạo. Thị chư tử đẳng, nhược tâm quyết định, cụ túc tam minh, cập lục thần thông, hữu đắc duyên giác, bất thoái Bồ-tát. Nhữ Xá-lợi-phất! Ngã vi chúng sinh, dĩ thử thí dụ, thuyết nhất Phật thừa. Nhữ đẳng nhược năng, tín thọ thị ngữ, nhất thiết giai đương, đắc thành Phật đạo.
Bảo Xá Lợi Phất này
Đức Phật cũng như vậy
Tôn cả trong hàng Thánh
Cha lành của trong đời
Tất cả các chúng sanh
Đều là con của ta
Say mê theo thế lạc
Không có chút huệ tâm
Ba cõi hiểm không an
Dường như nhà lửa cháy
Các nạn khổ dẫy đầy
Rất đáng nên ghê sợ
Thường có những sanh, già
Bệnh, chết và rầu lo
Các thứ lửa như thế
Cháy hừng chẳng tắt dứt
Đức Như Lai đã lìa
Nhà lửa ba cõi đó
Vắng lặng ở thong thả
An ổn trong rừng nội
Hiện nay ba cõi này
Đều là của ta cả
Những chúng sanh trong đó
Cũng là con của ta
Mà nay trong ba cõi
Có nhiều thứ hoạn nạn
Chỉ riêng một mình ta
Có thể cứu hộ chúng
Dầu lại đã dạy bảo
Mà vẫn không tin nhận
Vì nơi các dục nhiễm
Rất sanh lòng tham mê
Bởi thế nên phương tiện
Vì chúng nói ba thừa
Khiến cho các chúng sanh
Rõ ba cõi là khổ
Mở bày cùng diễn nói
Những đạo pháp xuất thế,
Các người con đó thảy
Nếu nơi tâm quyết định
Đầy đủ ba món minh
(13) Và sáu món thần thông
(14) Có người được Duyên Giác
Hoặc bất thối Bồ Tát.
Xá Lợi Phất phải biết
Ta vì các chúng sanh
Dùng món thí dụ này
Để nói một Phật thừa
Các ông nếu có thể
Tin nhận lời nói đây.
Tất cả người đều sẽ
Chứng thành quả Phật đạo
是乘微妙、清淨第一,於諸世間,為無有上,佛所悅可。一切眾生,所應稱讚、供養禮拜。無量億千,諸力解脫、禪定智慧,及佛餘法,得如是乘。令諸子等,日夜劫數,常得遊戲,與諸菩薩,及聲聞眾,乘此寶乘,直至道場。以是因緣,十方諦求,更無餘乘,除佛方便。』告舍利弗:『汝諸人等,皆是吾子,我則是父。汝等累劫,眾苦所燒,我皆濟拔,令出三界。我雖先說:「汝等滅度。」但盡生死,而實不滅;今所應作,唯佛智慧。若有菩薩,於是眾中,能一心聽,諸佛實法。諸佛世尊,雖以方便;所化眾生,皆是菩薩。
Thị thừa vi diệu, thanh tịnh đệ nhất, ư chư thế gian, vi vô hữu thượng, Phật sở duyệt khả. Nhất thiết chúng sinh, sở ưng xưng tán, cúng dường lễ bái. Vô lượng ức thiên, chư lực giải thoát, thiền định trí tuệ, cập Phật dư pháp, đắc như thị thừa. Lệnh chư tử đẳng, nhật dạ kiếp số, thường đắc du hí, dữ chư Bồ-tát, cập thanh văn chúng, thừa thử bảo thừa, trực chí đạo tràng. Dĩ thị nhân duyên, thập phương đế cầu, cánh vô dư thừa, trừ Phật phương tiện.’ Cáo Xá-lợi-phất: ‘Nhữ chư nhân đẳng, giai thị ngô tử, ngã tắc thị phụ. Nhữ đẳng lụy kiếp, chúng khổ sở thiêu, ngã giai tế bạt, lệnh xuất tam giới. Ngã tuy tiên thuyết: “Nhữ đẳng diệt độ.” Đãn tận sinh tử, nhi thực bất diệt; kim sở ưng tác, duy Phật trí tuệ. Nhược hữu Bồ-tát, ư thị chúng trung, năng nhất tâm thính, chư Phật thực pháp. Chư Phật Thế-tôn, tuy dĩ phương tiện; sở hóa chúng sinh, giai thị Bồ-tát.
Phật thừa đây vi diệu
Rất thanh tịnh thứ nhất
Ở trong các thế giới
Không còn pháp nào trên
Của các Phật vui ưa,
Tất cả hàng chúng sanh
Đều phải nên khen ngợi
Và cúng dường lễ bái
Đủ vô lượng nghìn ức
Các trí lực giải thoát
Thiền định và trí huệ
Cùng pháp khác của Phật
Chứng được thừa như thế
Khắp cho các con thảy
Ngày đêm cùng kiếp số
Thường được ngồi dạo chơi
Cho các hàng Bồ Tát
Cùng với chúng Thanh văn
Nương nơi thừa báu này
Mà thẳng đến đạo tràng.
Vì bởi nhân duyên đó
Tìm kỹ khắp mười phương
Lại không thừa nào khác
Trừ Phật dùng phương tiện
Bảo với Xá Lợi Phất!
Bọn ông các người thảy
Đều là con của ta
Ta thời là cha lành.
Các ông trải nhiều kiếp
Bị các sự khổ đốt
Ta đều đã cứu vớt
Cho ra khỏi ba cõi
Ta dầu ngày trước nói
Các ông được diệt độ
Nhưng chỉ hết sanh tử
Mà thật thời chẳng diệt
Nay việc nên phải làm
Chỉ có trí huệ Phật.
Nếu có Bồ Tát nào
Ở trong hàng chúng này
Có thể một lòng nghe
Pháp thật của các Phật,
Các đức Phật Thế Tôn
Dầu dùng chước phương tiện
Mà chúng sanh được độ
Đều là Bồ Tát cả
若人小智,深著愛欲,為此等故,說於苦諦。眾生心喜,得未曾有,佛說苦諦,真實無異。若有眾生,不知苦本,深著苦因,不能暫捨。為是等故,方便說道。諸苦所因,貪欲為本,若滅貪欲,無所依止,滅盡諸苦,名第三諦。為滅諦故,修行於道,離諸苦縛,名得解脫。是人於何,而得解脫?但離虛妄,名為解脫;其實未得,一切解脫。佛說是人,未實滅度。斯人未得,無上道故,我意不欲,令至滅度。我為法王,於法自在,安隱眾生,故現於世。汝舍利弗!我此法印,為欲利益,世間故說,在所遊方,勿妄宣傳。若有聞者,隨喜頂受,當知是人,阿鞞跋致。若有信受,此經法者,是人已曾,見過去佛,恭敬供養,亦聞是法。若人有能,信汝所說,則為見我,亦見於汝,及比丘僧,并諸菩薩。
Nhược nhân tiểu trí, thâm trước ái dục, vi thử đẳng cố, thuyết ư khổ đế. Chúng sinh tâm hỷ, đắc vị tằng hữu, Phật thuyết khổ đế, chân thực vô dị. Nhược hữu chúng sinh, bất tri khổ bản, thâm trước khổ nhân, bất năng tạm xả. Vi thị đẳng cố, phương tiện thuyết đạo. Chư khổ sở nhân, tham dục vi bản, nhược diệt tham dục, vô sở y chỉ, diệt tận chư khổ, danh đệ tam đế. Vi diệt đế cố, tu hành ư đạo, ly chư khổ phược, danh đắc giải thoát. Thị nhân ư hà, nhi đắc giải thoát? Đãn ly hư vọng, danh vi giải thoát; kỳ thực vị đắc, nhất thiết giải thoát. Phật thuyết thị nhân, vị thực diệt độ. Tư nhân vị đắc, vô thượng đạo cố, ngã ý bất dục, lệnh chí diệt độ. Ngã vi pháp vương, ư pháp tự tại, an ẩn chúng sinh, cố hiện ư thế. Nhữ Xá-lợi-phất! Ngã thử pháp ấn, vi dục lợi ích, thế gian cố thuyết, tại sở du phương, vật vọng tuyên truyền. Nhược hữu văn giả, tùy hỷ đỉnh thọ, đương tri thị nhân, a bỉnh bạt trí. Nhược hữu tín thọ, thử kinh pháp giả, thị nhân dĩ tằng, kiến quá khứ Phật, cung kính cúng dường, diệc văn thị pháp. Nhược nhân hữu năng, tín nhữ sở thuyết, tắc vi kiến ngã, diệc kiến ư nhữ, cập tỳ-kheo tăng, tinh chư Bồ-tát.
Nếu có người trí nhỏ
Quá mê nơi ái dục
Phật bèn vì bọn này
Mà nói lý khổ đế,
Chúng sanh nghe lòng mừng
Được điều chưa từng có
Đức Phật nói khổ đế
Chơn thật không sai khác
Nếu lại có chúng sanh
Không rõ biết gốc khổ
Quá say nơi khổ nhân
Chẳng tạm rời bỏ được
Phật vì hạng người này
Dùng phương tiện nói dạy
Nguyên nhân có các khổ
Tham dục là cội gốc
Nếu dứt được tham dục
Khổ không chỗ nương đỗ
Dứt hết hẳn các khổ
Gọi là đế thứ ba
Vì chứng diệt đế vậy
Mà tu hành đạo đế
Lìa hết các khổ phược
Gọi đó là giải thoát
Người đó nơi pháp gì
Mà nói được giải thoát?
Chỉ xa rời hy vọng
Gọi đó là giải thoát
Kỳ thật chưa phải được
Giải thoát hẳn tất cả
Đức Phật nói người đó
Chưa phải thật diệt độ
Vì người đó chưa được
Đạo quả vô thượng vậy.
Ý của ta không muốn
Cho đó đến diệt độ,
Ta là đấng Pháp vương
Tự tại nơi các Pháp
Vì an ổn chúng sanh
Nên hiện ra nơi đời.
Xá Lợi Phất phải biết
Pháp ấn của ta đây
Vì muốn làm lợi ích
Cho thế gian nên nói
Tại chỗ ông đi qua
Chớ có vọng tuyên truyền.
Nếu có người nghe đến
Tùy hỷ kính nhận lấy
Phải biết rằng người ấy
Là bậc bất thối chuyển
Nếu có người tin nhận
Kinh pháp vô thượng này.
Thời người đó đã từng
Thấy các Phật quá khứ
Cung kính và cúng dường
Cũng được nghe pháp này.
Nếu người nào có thể
Tin chịu lời ông nói
Thì chính là thấy Ta
Cũng là thấy nơi ông
Cùng các chúng Tỳ kheo
Và các hàng Bồ Tát.
斯法華經,為深智說,淺識聞之,迷惑不解。一切聲聞,及辟支佛,於此經中,力所不及。汝舍利弗!尚於此經,以信得入;況餘聲聞。其餘聲聞,信佛語故,隨順此經,非己智分。
Tư pháp hoa kinh, vi thâm trí thuyết, thiển thức văn chi, mê hoặc bất giải. Nhất thiết thanh văn, cập Bích-chi Phật, ư thử kinh trung, lực sở bất cập. Nhữ Xá-lợi-phất! Thượng ư thử kinh, dĩ tín đắc nhập; huống dư thanh văn. Kỳ dư thanh văn, tín Phật ngữ cố, tùy thuận thử kinh, phi kỷ trí phân.
Phật vì người trí sâu
Nói kinh Pháp Hoa này
Kẻ thức cạn nghe đến
Mê lầm không hiểu được.
Tất cả hàng Thanh văn
Cùng với Bích chi Phật
Ở trong kinh pháp này
Sức kia không hiểu được.
Chính ông Xá Lợi Phất
Hãy còn nơi kinh này
Dùng lòng tin được vào
Huống là Thanh văn khác.
Bao nhiêu Thanh văn khác
Do tin theo lời Phật
Mà tùy thuận kinh này
Chẳng phải trí của mình.
又舍利弗!憍慢懈怠、計我見者,莫說此經。凡夫淺識,深著五欲,聞不能解,亦勿為說。若人不信,毀謗此經,則斷一切,世間佛種。或復顰蹙,而懷疑惑,汝當聽說,此人罪報。若佛在世,若滅度後,其有誹謗,如斯經典,見有讀誦、書持經者,輕賤憎嫉,而懷結恨。此人罪報,汝今復聽。其人命終,入阿鼻獄,具足一劫,劫盡更生。如是展轉,至無數劫,從地獄出,當墮畜生。若狗野干,其形𩑔瘦,黧黮疥癩,人所觸嬈。又復為人,之所惡賤,常困飢渴,骨肉枯竭,生受楚毒,死被瓦石。斷佛種故,受斯罪報。若作馲駝,或生驢中,身常負重,加諸杖捶,但念水草,餘無所知。謗斯經故,獲罪如是。有作野干,來入聚落,身體疥癩,又無一目。為諸童子,之所打擲,受諸苦痛,或時致死。於此死已,更受蟒身。其形長大,五百由旬,聾騃無足,宛轉腹行,為諸小蟲,之所唼食,晝夜受苦,無有休息。謗斯經故,獲罪如是。若得為人,諸根闇鈍,矬陋攣躄,盲聾背傴。有所言說,人不信受,口氣常臭,鬼魅所著。貧窮下賤,為人所使,多病痟瘦,無所依怙。雖親附人,人不在意,若有所得,尋復忘失。若修醫道,順方治病,更增他疾,或復致死。若自有病,無人救療,設服良藥,而復增劇。若他反逆、抄劫竊盜,如是等罪,橫羅其殃。如斯罪人,永不見佛,眾聖之王,說法教化。如斯罪人,常生難處,狂聾心亂,永不聞法。於無數劫、如恒河沙,生輒聾瘂,諸根不具。常處地獄,如遊園觀,在餘惡道,如己舍宅,駝驢猪狗,是其行處。謗斯經故,獲罪如是。若得為人,聾盲瘖瘂、貧窮諸衰,以自莊嚴。水腫乾痟、疥癩癰疽、如是等病,以為衣服。身常臭處,垢穢不淨,深著我見,增益瞋恚,婬欲熾盛,不擇禽獸。謗斯經故,獲罪如是。』
Hựu Xá-lợi-phất! Kiêu mạn giải đãi, kế ngã kiến giả, mạc thuyết thử kinh. Phàm phu thiển thức, thâm trước ngũ dục, văn bất năng giải, diệc vật vi thuyết. Nhược nhân bất tín, hủy báng thử kinh, tắc đoạn nhất thiết, thế gian Phật chủng. Hoặc phục tần xúc, nhi hoài nghi hoặc, nhữ đương thính thuyết, thử nhân tội báo. Nhược Phật tại thế, nhược diệt độ hậu, kỳ hữu phỉ báng, như tư kinh điển, kiến hữu độc tụng, thư trì kinh giả, khinh tiện tăng tật, nhi hoài kết hận. Thử nhân tội báo, nhữ kim phục thính. Kỳ nhân mệnh chung, nhập A-tỳ ngục, cụ túc nhất kiếp, kiếp tận cánh sinh. Như thị triển chuyển, chí vô số kiếp, tùng địa ngục xuất, đương đọa súc sinh. Nhược cẩu dã can, kỳ hình khất sấu, lê đạm giới lại, nhân sở xúc nhiêu. Hựu phục vi nhân, chi sở ác tiện, thường khốn cơ khát, cốt nhục khô kiệt, sinh thọ sở độc, tử bị ngõa thạch. Đoạn Phật chủng cố, thọ tư tội báo. Nhược tác trách đà, hoặc sinh lư trung, thân thường phụ trọng, gia chư trượng chủy, đãn niệm thủy thảo, dư vô sở tri. Báng tư kinh cố, hoạch tội như thị. Hữu tác dã can, lai nhập tụ lạc, thân thể giới lại, hựu vô nhất mục. Vi chư đồng tử, chi sở đả trịch, thọ chư khổ thống, hoặc thời trí tử. Ư thử tử dĩ, cánh thọ mãng thân. Kỳ hình trưởng đại, ngũ bách do tuần, lung ngai vô túc, uyển chuyển phúc hành, vi chư tiểu trùng, chi sở xiệp thực, trú dạ thọ khổ, vô hữu hưu tức. Báng tư kinh cố, hoạch tội như thị. Nhược đắc vi nhân, chư căn ám độn, tòa lậu luyến tích, manh lung bối ủ. Hữu sở ngôn thuyết, nhân bất tín thọ, khẩu khí thường xú, quỷ mị sở trước. Bần cùng hạ tiện, vi nhân sở sử, đa bệnh tiêu sấu, vô sở y hỗ. Tuy thân phụ nhân, nhân bất tại ý, nhược hữu sở đắc, tầm phục vong thất. Nhược tu y đạo, thuận phương trị bệnh, cánh tăng tha tật, hoặc phục trí tử. Nhược tự hữu bệnh, vô nhân cứu liệu, thiết phục lương dược, nhi phục tăng kịch. Nhược tha phản nghịch, sao kiếp thiết đạo, như thị đẳng tội, hoạnh la kỳ ương. Như tư tội nhân, vĩnh bất kiến Phật, chúng thánh chi vương, thuyết pháp giáo hóa. Như tư tội nhân, thường sinh nan xứ, cuồng lung tâm loạn, vĩnh bất văn pháp. Ư vô số kiếp, như hằng hà sa, sinh triếp lung á, chư căn bất cụ. Thường xứ địa ngục, như du viên quán, tại dư ác đạo, như kỷ xá trạch, đà lư trư cẩu, thị kỳ hành xứ. Báng tư kinh cố, hoạch tội như thị. Nhược đắc vi nhân, lung manh âm á, bần cùng chư suy, dĩ tự trang nghiêm. Thủy trũng can tiêu, giới lại ung thư, như thị đẳng bệnh, dĩ vi y phục. Thân thường xú xứ, cấu uế bất tịnh, thâm trước ngã kiến, tăng ích sân huệ, dâm dục sí thịnh, bất trạch cầm thú. Báng tư kinh cố, hoạch tội như thị.’
Lại này Xá Lợi Phất!
Kẻ kiêu mạn biếng lười
Vọng so chấp lấy ngã
Chớ vì nói kinh này,
Hạng phàm phu biết cạn
Quá mê năm món dục
Nghe pháp không hiểu được
Cũng chẳng nên vì nói.
Nếu có người không tin
Khinh hủy chê kinh này
Thì là dứt tất cả
Giống Phật ở thế gian.
Nếu có người sịu mặt
Mà ôm lòng nghi hoặc
Ông nên lóng nghe nói
Tội báo của người đó
Hoặc Phật còn tại thế
Hoặc sau khi diệt độ
Nếu có người chê bai
Kinh điển như thế này
Thấy có người đọc tụng
Biên chép thọ trì kinh
Rồi khinh tiện ghét ghen
Mà ôm lòng kết hờn
Tội báo của người đó
Ông nay lại lóng nghe.
Người đó khi mạng chung
Sa vào ngục A tỳ
Đầy đủ một kiếp chẵn
Kiếp mãn hết lại sanh
Cứ xoay vần như thế
Nhẫn đến vô số kiếp.
Từ trong địa ngục ra
Sẽ đọa vào súc sanh,
Hoặc làm chó, dã can
Thân thể nó ốm gầy
Đen điu thêm ghẻ lác
Bị người thường chọc ghẹo
Lại còn phải bị người
Gớm nhờm và ghét rẻ
Thường ngày đói khát khổ
Xương thịt đều khô khan,
Lúc sống chịu khổ sở
Chết bị ném ngói đá
Vì đoạn mất giống Phật
Nên thọ tội báo đó
Hoặc sanh làm lạc đà
Hoặc sanh vào loài lừa
Thân thường mang kéo nặng
Lại thêm bị đánh đập
Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ
Ngoài ra không biết gì
Vì khinh chê kinh này
Mà mắc tội như vậy
Có khi làm dã can
Đi vào trong xóm làng
Thân thể đầy ghẻ lác
Lại chột hết một mắt
Bị bọn trẻ nhỏ vây
Theo đánh đập liệng ném
Chịu nhiều các đau khổ
Hoặc có lúc phải chết
Ở đây vừa chết rồi
Liền lại thọ thân rắn
Thân thể nó dài lớn
Đến năm trăm do tuần
Điếc ngây và không chân
Lăn lóc đi bằng bụng
Bị các loài trùng nhỏ
Cắn rúc ăn thịt máu
Bị khổ cả ngày đêm
Không tạm có ngừng nghỉ
Vì khinh chê kinh này
Mà mắc tội như vậy.
Nếu được sanh làm người
Các căn đều ám độn
Lùn xấu lại lệch què
Đui điếc thêm lưng gù
Có nói ra lời gì
Mọi người không tin nhận
Hơi miệng thường hôi thối
Bị quỷ mị dựa nhập
Nghèo cùng rất hèn hạ
Bị người sai khiến luôn,
Nhiều bệnh thân ốm gầy
Không có chỗ cậy nhờ
Dù nương gần với người
Mà người chẳng để ý
Nếu có được điều chi
Thời liền lại quên mất,
Nếu học qua nghề thuốc
Theo đúng phép trị bệnh
Mà bệnh người nặng thêm
Hoặc có khi đến chết,
Nếu tự mình có bệnh
Không người chữa lành được
Dù có uống thuốc hay
Mà bệnh càng thêm nặng,
Hoặc người khác phản nghịch
Cướp giật trộm lấy của
Các tội dường thế đó
Lại tự mang vạ lây.
Những người tội như đây
Trọn không thấy được Phật
Là vua trong hàng Thánh
Thường nói pháp giáo hóa
Những người tội như đây
Thường sanh chỗ hoạn nạn
Tâm cuồng loạn, tai điếc
Trọn không nghe pháp được,
Trải qua vô số kiếp
Như số cát sông Hằng
Sanh ra liền điếc câm
Các căn chẳng đầy đủ
Thường ở trong địa ngục
Như dạo chơi vườn nhà,
Ở tại các đạo khác
Như ở nhà cửa mình
Lạc đà, lừa, lợn, chó
Là chỗ kia thường đi
Vì khinh chê kinh này
Mắc tội dường thế đó.
Nếu được sanh làm người
Điếc, đui lại câm, ngọng
Nghèo cùng các tướng suy
Dùng đó tự trang nghiêm.
Sưng bủng bệnh khô khát
Ghẻ, lác, cùng ung thư
Các bệnh như trên đó
Dùng làm y phục mặc,
Thân thể thường hôi hám
Nhơ nhớp không hề sạch
Lòng chấp ngã sâu chặt
Thêm nhiều tánh giận hờn
Tánh dâm dục hẫy hừng
Đến chẳng chừa cầm thú,
Vì khinh chê kinh này
Mắc tội dường thế đó.
告舍利弗:『謗斯經者,若說其罪,窮劫不盡。以是因緣,我故語汝:「無智人中,莫說此經。」若有利根,智慧明了,多聞強識,求佛道者,如是之人,乃可為說。若人曾見,億百千佛,殖諸善本,深心堅固,如是之人,乃可為說。若人精進,常修慈心,不惜身命,乃可為說。若人恭敬,無有異心,離諸凡愚,獨處山澤,如是之人,乃可為說。又舍利弗!若見有人,捨惡知識,親近善友,如是之人,乃可為說。若見佛子,持戒清潔,如淨明珠,求大乘經,如是之人,乃可為說。若人無瞋,質直柔軟,常愍一切,恭敬諸佛,如是之人,乃可為說。復有佛子,於大眾中,以清淨心,種種因緣、譬喻言辭,說法無礙,如是之人,乃可為說。若有比丘,為一切智,四方求法,合掌頂受,但樂受持,大乘經典,乃至不受,餘經一偈,如是之人,乃可為說。如人至心,求佛舍利,如是求經,得已頂受,其人不復,志求餘經,亦未曾念,外道典籍,如是之人,乃可為說。』告舍利弗:『我說是相,求佛道者,窮劫不盡。』如是等人,則能信解,汝當為說,妙法華經。」
Cáo Xá-lợi-phất: ‘Báng tư kinh giả, nhược thuyết kỳ tội, cùng kiếp bất tận. Dĩ thị nhân duyên, ngã cố ngữ nhữ: “Vô trí nhân trung, mạc thuyết thử kinh.” Nhược hữu lợi căn, trí tuệ minh liễu, đa văn cường thức, cầu Phật đạo giả, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Nhược nhân tằng kiến, ức bách thiên Phật, thực chư thiện bản, thâm tâm kiên cố, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Nhược nhân tinh tiến, thường tu từ tâm, bất tích thân mệnh, nãi khả vi thuyết. Nhược nhân cung kính, vô hữu dị tâm, ly chư phàm ngu, độc xứ sơn trạch, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Hựu Xá-lợi-phất! Nhược kiến hữu nhân, xả ác tri thức, thân cận thiện hữu, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Nhược kiến Phật tử, trì giới thanh khiết, như tịnh minh châu, cầu đại thừa kinh, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Nhược nhân vô sân, chất trực nhu nhuyễn, thường mẫn nhất thiết, cung kính chư Phật, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Phục hữu Phật tử, ư đại chúng trung, dĩ thanh tịnh tâm, chủng chủng nhân duyên, thí dụ ngôn từ, thuyết pháp vô ngại, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Nhược hữu tỳ-kheo, vi nhất thiết trí, tứ phương cầu pháp, hợp chưởng đỉnh thọ, đãn lạc thọ trì, đại thừa kinh điển, nãi chí bất thọ, dư kinh nhất kệ, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết. Như nhân chí tâm, cầu Phật xá lợi, như thị cầu kinh, đắc dĩ đỉnh thọ, kỳ nhân bất phục, chí cầu dư kinh, diệc vị tằng niệm, ngoại đạo điển tịch, như thị chi nhân, nãi khả vi thuyết.’ Cáo Xá-lợi-phất: ‘Ngã thuyết thị tướng, cầu Phật đạo giả, cùng kiếp bất tận.’ Như thị đẳng nhân, tắc năng tín giải, nhữ đương vi thuyết, diệu pháp hoa kinh.”
Bảo cho Xá Lợi Phất!
Người khinh chê kinh này
Nếu kể nói tội kia
Cùng kiếp cũng chẳng hết
Vì bởi nhân duyên đó
Ta vẫn bảo các ông
Trong nhóm người vô trí
Chớ nên nói kinh này
Nếu có người lợi căn
Sức trí huệ sáng láng
Học rộng và nhớ dai
Lòng mong cầu Phật đạo
Những hạng người như thế
Mới nên vì đó nói
Nếu có người đã từng
Thấy trăm nghìn ức Phật
Trồng các cội đức lành
Thâm tâm rất bền vững
Hạng người được như thế
Mới nên vì đó nói.
Nếu có người tinh tấn
Thường tu tập lòng từ
Chẳng hề tiếc thân mạng
Mới nên vì đó nói.
Nếu có người cung kính
Không có sanh lòng khác
Lìa xa các phàm ngu
Ở riêng trong núi thẩm
Những hạng người như thế
Mới nên vì đó nói
Lại Xá Lợi Phất này!
Nếu thấy có người nào
Rời bỏ ác tri thức
Gần gũi bạn hiền lành
Người được như thế ấy
Mới nên vì đó nói.
Nếu thấy hàng Phật tử
Giữ giới hạnh trong sạch
Như minh châu sáng sạch
Ham cầu kinh Đại thừa
Những người được như thế
Mới nên vì đó nói.
Nếu người không lòng giận
Chắc thật ý dịu hòa
Thường thương xót mọi loài
Cung kính các đức Phật
Hạng người tốt như thế
Mới nên vì đó nói.
Lại có hàng Phật tử
Ở tại trong đại chúng
Thuần dùng lòng thanh tịnh
Các món nhân cùng duyên
Thí dụ và lời lẽ
Nói pháp không chướng ngại
Những người như thế ấy
Mới nên vì đó nói
Nếu có vị Tỳ kheo
Vì cầu nhứt thiết trí
Khắp bốn phương cầu pháp
Chắp tay cung kính thọ
Chỉ ưa muốn thọ trì
Kinh điển về Đại thừa
Nhẫn đến không hề thọ
Một bài kệ kinh khác
Hạng người được như thế
Mới nên vì đó nói.
Như có người chí tâm
Cầu xá lợi của Phật
Cầu kinh cũng như thế
Được rồi đảnh lễ thọ
Người đó chẳng còn lại
Có lòng cầu kinh khác
Cũng chưa từng nghĩ tưởng
Đến sách vở ngoại đạo
Người được như thế ấy
Mới nên vì đó nói.
Bảo cùng Xá Lợi Phất!
Ta nói các sự tướng
Của người cầu Phật đạo
Cùng kiếp cũng chẳng hết
Những người như thế đó
Thì có thể tin hiểu
Ông nên vì họ nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
PHẨM “TÍN GIẢI” THỨ TƯ
妙法蓮華經信解品第四
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh tín giải phẩm đệ tứ
PHẨM “TÍN GIẢI” THỨ TƯ
爾時慧命須菩提、摩訶迦旃延、摩訶迦葉、摩訶目犍連,從佛所聞未曾有法,世尊授舍利弗阿耨多羅三藐三菩提記,發希有心,歡喜踊躍,即從座起,整衣服偏袒右肩,右膝著地,一心合掌,曲躬恭敬,瞻仰尊顏而白佛言:「我等居僧之首,年竝朽邁,自謂已得涅槃,無所堪任,不復進求阿耨多羅三藐三菩提。世尊往昔說法既久,我時在座,身體疲懈,但念空、無相、無作,於菩薩法——遊戲神通、淨佛國土、成就眾生——心不喜樂。所以者何?世尊令我等出於三界,得涅槃證。又今我等年已朽邁,於佛教化菩薩阿耨多羅三藐三菩提,不生一念好樂之心。我等今於佛前,聞授聲聞阿耨多羅三藐三菩提記,心甚歡喜,得未曾有。不謂於今,忽然得聞希有之法,深自慶幸,獲大善利,無量珍寶、不求自得。
Nhĩ thời Tuệ-mệnh Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên, tùng Phật sở văn vị tằng hữu pháp, Thế-tôn thụ Xá-lợi-phất a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký, phát hy hữu tâm, hoan hỷ dũng dược, tức tùng tòa khởi, chỉnh y phục thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, nhất tâm hợp chưởng, khúc cung cung kính, chiêm ngưỡng tôn nhan nhi bạch Phật ngôn: “Ngã đẳng cư tăng chi thủ, niên tịnh hủ mại, tự vị dĩ đắc Niết-bàn, vô sở kham nhiệm, bất phục tiến cầu a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thế-tôn vãng tích thuyết pháp ký cửu, ngã thời tại tòa, thân thể bì giải, đãn niệm không, vô tướng, vô tác, ư Bồ-tát pháp——du hí thần thông, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh——tâm bất hỷ lạc. Sở dĩ giả hà? Thế-tôn lệnh ngã đẳng xuất ư tam giới, đắc Niết-bàn chứng. Hựu kim ngã đẳng niên dĩ hủ mại, ư Phật giáo hóa Bồ-tát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, bất sinh nhất niệm hảo lạc chi tâm. Ngã đẳng kim ư Phật tiền, văn thụ thanh văn a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ký, tâm thậm hoan hỷ, đắc vị tằng hữu. Bất vị ư kim, hốt nhiên đắc văn hy hữu chi pháp, thâm tự khánh hạnh, hoạch đại thiện lợi, vô lượng trân bảo, bất cầu tự đắc.
Lúc bấy giờ, các Ngài Tuệ Mệnh Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Đại Mục Kiền Liên, từ nơi Phật được nghe pháp chưa từng có. Đức Thế Tôn dự ghi cho Ngài Xá Lợi Phất sẽ thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, sanh lòng hy hữu hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chắp tay cúi mình cung kính chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch cùng Phật rằng: “Chúng con đứng đầu trong hàng Tăng, tuổi đều già lụn, tự cho đã được Niết bàn không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn thẳng cầu thêm đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Đức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi tòa thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, vô tướng, vô tác, đối với các pháp du hý thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sanh của Bồ Tát, lòng chúng con không ưa thích. Vì sao? Đức Thế Tôn khiến chúng con ra khỏi ba cõi được chứng Niết bàn, lại nay đây chúng con tuổi đã già nua ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác của Phật dạy Bồ Tát không hề sanh một niệm ưa thích. Chúng con hôm nay ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh văn sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác, lòng rất vui mừng được pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay bỗng nhiên được pháp hy hữu, tự rất mừng may được lợi lành lớn, vô lượng trân báu chẳng tìm cầu mà tự được.
「世尊!我等今者樂說譬喻以明斯義。譬若有人,年既幼稚,捨父逃逝,久住他國,或十、二十,至五十歲,年既長大,加復窮困,馳騁四方以求衣食。漸漸遊行,遇向本國。其父先來,求子不得,中止一城。其家大富,財寶無量——金、銀、琉璃、珊瑚、虎珀、頗梨珠等,其諸倉庫,悉皆盈溢;多有僮僕、臣佐、吏民;象馬車乘,牛羊無數——出入息利,乃遍他國,商估賈客亦甚眾多。時貧窮子遊諸聚落,經歷國邑,遂到其父所止之城。父每念子,與子離別五十餘年,而未曾向人說如此事,但自思惟,心懷悔恨,自念老朽,多有財物,金銀珍寶,倉庫盈溢;無有子息,一旦終沒,財物散失,無所委付。是以慇懃每憶其子,復作是念:『我若得子,委付財物,坦然快樂,無復憂慮。』
“Thế-tôn! Ngã đẳng kim giả nhạo thuyết thí dụ dĩ minh tư nghĩa. Thí nhược hữu nhân, niên ký ấu trĩ, xả phụ đào thệ, cửu trụ tha quốc, hoặc thập, nhị thập, chí ngũ thập tuế, niên ký trưởng đại, gia phục cùng khốn, trì sính tứ phương dĩ cầu y thực. Tiệm tiệm du hành, ngộ hướng bản quốc. Kỳ phụ tiên lai, cầu tử bất đắc, trung chỉ nhất thành. Kỳ gia đại phú, tài bảo vô lượng——kim, ngân, lưu-ly, san hô, hổ phách, pha-lê châu đẳng, kỳ chư thương khố, tất giai doanh dật; đa hữu đồng bộc, thần tá, lại dân; tượng mã xa thừa, ngưu dương vô số——xuất nhập tức lợi, nãi biến tha quốc, thương cổ cổ khách diệc thậm chúng đa. Thời bần cùng tử du chư tụ lạc, kinh lịch quốc ấp, toại đáo kỳ phụ sở chỉ chi thành. Phụ mỗi niệm tử, dữ tử ly biệt ngũ thập dư niên, nhi vị tằng hướng nhân thuyết như thử sự, đãn tự tư duy, tâm hoài hối hận, tự niệm lão hủ, đa hữu tài vật, kim ngân trân bảo, thương khố doanh dật; vô hữu tử tức, nhất đán chung một, tài vật tán thất, vô sở ủy phó. Thị dĩ ân cần mỗi ức kỳ tử, phục tác thị niệm: ‘Ngã nhược đắc tử, ủy phó tài vật, thản nhiên khoái lạc, vô phục ưu lự.’
Thế Tôn! chúng con hôm nay xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó. Thí như có người tuổi thơ bé, bỏ cha trốn đi qua ở lâu nơi nước khác, hoặc mười, hai mươi đến năm mươi năm; người đó tuổi đã lớn lại thêm nghèo cùng khốn khổ, dong ruổi bốn phương để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ về bổn quốc. Người cha từ trước đến nay, tìm con không được bèn ở lại tại một thành trong nước đó. Nhà ông giàu lớn của báu vô lượng, các kho đụn, vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, pha lê, châu ngọc v.v... thảy đều đầy tràn; tôi tớ, thần tá, lại dân rất đông, voi, ngựa, xe cộ bò dê nhiều vô số. Cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác, khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều. Bấy giờ, gã nghèo kia dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng, lần hồi đến nơi thành của người cha ở. Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ lòng rất ăn năn. Ông tự nghĩ già nua và có nhiều của cải, vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thì của cải tản thất không người giao phó. Cho nên ân cần luôn nhớ đến con. Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp được con ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo.
「世尊!爾時窮子傭賃展轉遇到父舍,住立門側。遙見其父、踞師子床,寶机承足,諸婆羅門、剎利、居士皆恭敬圍繞,以真珠瓔珞,價直千萬,莊嚴其身;吏民、僮僕,手執白拂,侍立左右。覆以寶帳,垂諸華幡,香水灑地,散眾名華,羅列寶物,出內取與,有如是等種種嚴飾,威德特尊。窮子見父有大力勢,即懷恐怖,悔來至此。竊作是念:『此或是王,或是王等,非我傭力得物之處。不如往至貧里,肆力有地,衣食易得。若久住此,或見逼迫,強使我作。』作是念已,疾走而去。
“Thế-tôn! Nhĩ thời cùng tử dung nhẫm triển chuyển ngộ đáo phụ xá, trụ lập môn trắc. Dao kiến kỳ phụ, cứ sư tử sàng, bảo kỷ thừa túc, chư bà-la-môn, sát-lợi, cư sĩ giai cung kính vi nhiễu, dĩ chân châu anh lạc, giá trực thiên vạn, trang nghiêm kỳ thân; lại dân, đồng bộc, thủ chấp bạch phất, thị lập tả hữu. Phúc dĩ bảo trướng, thùy chư hoa phướn, hương thủy sái địa, tán chúng danh hoa, la liệt bảo vật, xuất nội thủ dữ, hữu như thị đẳng chủng chủng nghiêm sức, uy đức đặc tôn. Cùng tử kiến phụ hữu đại lực thế, tức hoài khủng bố, hối lai chí thử. Thiết tác thị niệm: ‘Thử hoặc thị vương, hoặc thị vương đẳng, phi ngã dung lực đắc vật chi xứ. Bất như vãng chí bần lý, tứ lực hữu địa, y thực dịch đắc. Nhược cửu trụ thử, hoặc kiến bức bách, cường sử ngã tác.’ Tác thị niệm dĩ, tật tẩu nhi khứ.
Thưa Thế Tôn! Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn lần hồi tình cờ đến nhà người cha bèn đứng lại bên cửa, xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng Bà la môn, Sát đế lợi, Cư sĩ đều cung kính bao quanh. Trên thân ông đó dùng chuỗi ngọc trân châu giá trị nghìn vạn để trang nghiêm, kẻ lại dân tôi tớ tay cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Màn báu che trên, những phan đẹp thòng xuống, nước thơm rưới đất, rải các thứ danh hoa, các vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy, cho v.v... có các sự nghiêm sức dường ấy, uy đức rất tôn trọng. Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn liền sanh lòng lo sợ, hối hận về việc đến nhà này, nó thầm nghĩ rằng: “Ông này chắc là vua, hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn được tiền vật. Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức dễ được đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây, hoặc rồi họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm”. Gã nghĩ như thế rồi, liền chạy mau đi thẳng.
「時富長者於師子座,見子便識,心大歡喜,即作是念:『我財物庫藏,今有所付。我常思念此子,無由見之,而忽自來,甚適我願。我雖年朽,猶故貪惜。』即遣傍人,急追將還。爾時使者,疾走往捉。窮子驚愕,稱怨大喚:『我不相犯,何為見捉?』使者執之愈急,強牽將還。于時窮子,自念無罪,而被囚執,此必定死;轉更惶怖,悶絕躄地。父遙見之,而語使言:『不須此人,勿強將來。以冷水灑面,令得醒悟,莫復與語。』所以者何?父知其子志意下劣,自知豪貴為子所難,審知是子而以方便,不語他人云是我子。使者語之:『我今放汝,隨意所趣。』窮子歡喜,得未曾有,從地而起,往至貧里、以求衣食。
“Thời phú trưởng giả ư sư tử tòa, kiến tử tiện thức, tâm đại hoan hỷ, tức tác thị niệm: ‘Ngã tài vật khố tàng, kim hữu sở phó. Ngã thường tư niệm thử tử, vô do kiến chi, nhi hốt tự lai, thậm thích ngã nguyện. Ngã tuy niên hủ, do cố tham tích.’ Tức khiển bàng nhân, cấp truy tương hoàn. Nhĩ thời sử giả, tật tẩu vãng tróc. Cùng tử kinh ngạc, xưng oán đại hoán: ‘Ngã bất tướng phạm, hà vi kiến tróc?’ Sử giả chấp chi dũ cấp, cường khiên tương hoàn. Vu thời cùng tử, tự niệm vô tội, nhi bị tù chấp, thử tất định tử; chuyển cánh hoàng bố, muộn tuyệt tích địa. Phụ dao kiến chi, nhi ngữ sử ngôn: ‘Bất tu thử nhân, vật cường tương lai. Dĩ lạnh thủy sái diện, lệnh đắc tỉnh ngộ, mạc phục dữ ngữ.’ Sở dĩ giả hà? Phụ tri kỳ tử chí ý hạ liệt, tự tri hào quý vi tử sở nan, thẩm tri thị tử nhi dĩ phương tiện, bất ngữ tha nhân vân thị ngã tử. Sử giả ngữ chi: ‘Ngã kim phóng nhữ, tùy ý sở thú.’ Cùng tử hoan hỷ, đắc vị tằng hữu, tùng địa nhi khởi, vãng chí bần lý, dĩ cầu y thực.
Khi đó, ông Trưởng giả ngồi nơi tòa sư tử thấy con bèn nhớ biết, lòng rất vui mừng mà tự nghĩ rằng: “Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con này làm sao gặp được, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta tuy tuổi già còn vẫn tham tiếc”. Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại. Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan: “Tôi không hề xúc phạm, cớ sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt nó càng gấp cưỡng dắt đem về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất. Người cha xa thấy vậy bèn nói với kẻ sứ giả rằng: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại đừng nói chi với nó”. Vì sao? Cha biết con mình ý chí hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm cho con khiếp sợ. Biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả nói với cùng tử: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý”. Gã cùng tử vui mừng được điều chưa từng có, từ dưới đất đứng dậy, qua đến xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc.
「爾時長者將欲誘引其子而設方便,密遣二人,形色憔悴無威德者:『汝可詣彼,徐語窮子:「此有作處,倍與汝直。」窮子若許,將來使作。若言:「欲何所作?」便可語之:「雇汝除糞。我等二人亦共汝作。」』時二使人即求窮子,既已得之,具陳上事。
“Nhĩ thời trưởng giả tương dục dụ dẫn kỳ tử nhi thiết phương tiện, mật khiển nhị nhân, hình sắc tiều tụy vô uy đức giả: ‘Nhữ khả nghệ bỉ, từ ngữ cùng tử: “Thử hữu tác xứ, bội dữ nhữ trực.” Cùng tử nhược hứa, tương lai sử tác. Nhược ngôn: “Dục hà sở tác?” Tiện khả ngữ chi: “Cố nhữ trừ phân. Ngã đẳng nhị nhân diệc cộng nhữ tác.”’ Thời nhị sử nhân tức cầu cùng tử, ký dĩ đắc chi, cụ trần thượng sự.
Bấy giờ ông Trưởng giả toan muốn dụ dẫn người con mà bày chước phương tiện, mật sai hai người, hình sắc tiều tụy không có oai đức: “Hai người nên qua xóm kia từ từ nói với gã cùng tử, nơi đây có chỗ làm trả giá gấp bội. Gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiến làm. Nếu nó có hỏi muốn sai làm gì? Thì nên nói với nó rằng: “Thuê người hốt phân, chúng ta hai người cũng cùng ngươi chung nhau làm”. Khi đó hai người sứ liền tìm gã cùng tử, rồi thuật đủ việc như trên.
「爾時窮子先取其價,尋與除糞。其父見子,愍而怪之。又以他日,於窓牖中遙見子身,羸瘦憔悴,糞土塵坌,污穢不淨。即脫瓔珞、細軟上服、嚴飾之具,更著麁弊垢膩之衣,塵土坌身,右手執持除糞之器,狀有所畏。語諸作人:『汝等勤作,勿得懈息。』以方便故,得近其子。後復告言:『咄,男子!汝常此作,勿復餘去,當加汝價。諸有所須瓫器米麵鹽醋之屬,莫自疑難,亦有老弊使人須者相給,好自安意。我如汝父,勿復憂慮。所以者何?我年老大,而汝少壯,汝常作時,無有欺怠瞋恨怨言,都不見汝有此諸惡,如餘作人。自今已後,如所生子。』即時長者、更與作字,名之為兒。爾時窮子雖欣此遇,猶故自謂客作賤人。由是之故,於二十年中常令除糞。過是已後,心相體信,入出無難,然其所止猶在本處。
“Nhĩ thời cùng tử tiên thủ kỳ giá, tầm dữ trừ phân. Kỳ phụ kiến tử, mẫn nhi quái chi. Hựu dĩ tha nhật, ư song dũ trung dao kiến tử thân, luy sấu tiều tụy, phân thổ trần bộn, ô uế bất tịnh. Tức thoát anh lạc, tế nhuyễn thượng phục, nghiêm sức chi cụ, cánh trước thô tệ cấu nhị chi y, trần thổ bộn thân, hữu thủ chấp trì trừ phân chi khí, trạng hữu sở úy. Ngữ chư tác nhân: ‘Nhữ đẳng cần tác, vật đắc giải tức.’ Dĩ phương tiện cố, đắc cận kỳ tử. Hậu phục cáo ngôn: ‘Đốt, nam tử! Nhữ thường thử tác, vật phục dư khứ, đương gia nhữ giá. Chư hữu sở tu bồn khí mễ miến diêm thố chi thuộc, mạc tự nghi nan, diệc hữu lão tệ sử nhân tu giả tướng cấp, hảo tự an ý. Ngã như nhữ phụ, vật phục ưu lự. Sở dĩ giả hà? Ngã niên lão đại, nhi nhữ thiểu tráng, nhữ thường tác thời, vô hữu khi đãi sân hận oán ngôn, đô bất kiến nhữ hữu thử chư ác, như dư tác nhân. Tự kim dĩ hậu, như sở sinh tử.’ Tức thời trưởng giả, cánh dữ tác tự, danh chi vi nhi. Nhĩ thời cùng tử tuy hân thử ngộ, do cố tự vị khách tác tiện nhân. Do thị chi cố, ư nhị thập niên trung thường lệnh trừ phân. Quá thị dĩ hậu, tâm tướng thể tín, nhập xuất vô nan, nhiên kỳ sở chỉ do tại bản xứ.
Bấy giờ gã cùng tử trước hỏi lấy giá cả liền đến hốt phân. Người cha thấy con, thương xót và quái lạ. Lại một ngày khác ông ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tụy, phân đất bụi bặm dơ dáy không sạch. Ông liền cởi chuỗi ngọc, áo tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách trỉn dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ dạng đáng nể sợ, bảo những người làm rằng: “Các ngươi phải siêng làm việc chớ nên lười nghỉ!” Dùng phương tiện đó được đến gần người con. Lúc sau lại bảo con rằng: “Gã nam tử này! Ngươi thường làm ở đây đừng lại đi nơi khác, ta sẽ trả thêm giá cho ngươi; những đồ cần dùng như loại bồn, chậu, gạo, bột, muối, dấm, ngươi chớ tự nghi ngại. Cũng có kẻ tớ già hèn hạ, nếu cần ta cấp cho, nên phải an lòng, ta như cha của ngươi chớ có sầu lo”. Vì sao? Vì ta tuổi tác già lớn mà ngươi thì trẻ mạnh, ngươi thường trong lúc làm việc không lòng dối khi trễ nải giận hờn nói lời thán oán, đều không thấy ngươi có các điều xấu đó như các người làm công khác. Từ ngày nay nhẫn sau như con đẻ của ta. Tức thời Trưởng giả lại đặt tên cho cùng tử gọi đó là “con”. Khi đó gã cùng tử, dầu mừng việc tình cờ đó song vẫn còn tự cho mình là khách, là người làm công hèn, vì cớ đó mà trong hai mươi năm thường sai hốt phân, sau đó lòng gã mới lần thể tin ra vào không ngại sợ, nhưng chỗ gã ở cũng vẫn nguyên chỗ cũ.
「世尊,爾時長者有疾,自知將死不久。語窮子言:『我今多有金銀珍寶,倉庫盈溢,其中多少、所應取與,汝悉知之。我心如是,當體此意。所以者何?今我與汝,便為不異,宜加用心,無令漏失。』爾時窮子,即受教勅,領知眾物,金銀珍寶及諸庫藏,而無悕取一飡之意。然其所止故在本處,下劣之心亦未能捨。
“Thế-tôn, nhĩ thời trưởng giả hữu tật, tự tri tương tử bất cửu. Ngữ cùng tử ngôn: ‘Ngã kim đa hữu kim ngân trân bảo, thương khố doanh dật, kỳ trung đa thiểu, sở ưng thủ dữ, nhữ tất tri chi. Ngã tâm như thị, đương thể thử ý. Sở dĩ giả hà? Kim ngã dữ nhữ, tiện vi bất dị, nghi gia dụng tâm, vô lệnh lậu thất.’ Nhĩ thời cùng tử, tức thọ giáo sắc, lãnh tri chúng vật, kim ngân trân bảo cập chư khố tàng, nhi vô hy thủ nhất xan chi ý. Nhiên kỳ sở chỉ cố tại bản xứ, hạ liệt chi tâm diệc vị năng xả.
Thế Tôn! Bấy giờ Trưởng giả có bệnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết mới bảo cùng tử rằng: “Ta nay rất nhiều vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, trong đó nhiều ít chỗ đáng xài dùng ngươi phải biết hết đó. Lòng ta như thế, ngươi nên thể theo ý ta. Vì sao? Nay ta cùng ngươi bèn là không khác, nên gắng dụng tâm chớ để sót mất”. Khi ấy cùng tử liền nhận lời bảo lãnh biết các của vật, vàng, bạc, trân báu và các kho tàng, mà trọn không có ý mong lấy của đáng chừng bữa ăn, chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng chưa bỏ được.
復經少時,父知子意漸已通泰,成就大志,自鄙先心。臨欲終時,而命其子并會親族、國王、大臣、剎利、居士,皆悉已集,即自宣言:『諸君當知!此是我子,我之所生。於某城中、捨吾逃走,伶俜辛苦五十餘年,其本字某。我名某甲,昔在本城懷憂推覓,忽於此間遇會得之。此實我子,我實其父。今我所有一切財物,皆是子有,先所出內,是子所知。』「世尊!是時窮子聞父此言,即大歡喜,得未曾有,而作是念:『我本無心有所希求,今此寶藏自然而至。』
Phục kinh thiểu thời, phụ tri tử ý tiệm dĩ thông thái, thành tựu đại chí, tự bỉ tiên tâm. Lâm dục chung thời, nhi mệnh kỳ tử tinh hội thân tộc, quốc vương, đại thần, sát-lợi, cư sĩ, giai tất dĩ tập, tức tự tuyên ngôn: ‘Chư quân đương tri! Thử thị ngã tử, ngã chi sở sinh. Ư mỗ thành trung, xả ngô đào tẩu, linh binh tân khổ ngũ thập dư niên, kỳ bản tự mỗ. Ngã danh mỗ giáp, tích tại bản thành hoài ưu suy mịch, hốt ư thử gian ngộ hội đắc chi. Thử thực ngã tử, ngã thực kỳ phụ. Kim ngã sở hữu nhất thiết tài vật, giai thị tử hữu, tiên sở xuất nội, thị tử sở tri.’ “Thế-tôn! Thị thời cùng tử văn phụ thử ngôn, tức đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu, nhi tác thị niệm: ‘Ngã bản vô tâm hữu sở hy cầu, kim thử bảo tàng tự nhiên nhi chí.’
Lại trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con lần đã thông thái trọn nên chí lớn, tự chê tâm ngày trước. Đến giờ sắp chết, ông gọi người con đến và hội cả thân tộc, quốc vương, quan đại thần, dòng sát lợi, hàng cư sĩ, khi đã nhóm xong, ông liền tuyên bố rằng: “Các ngài nên rõ, người này là con ta, của ta sanh ra, ngày trước trong thành nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn năm mươi năm, nó vốn tên ấy, còn ta tên ấy. Xưa ta ở tại thành này lòng lo lắng tìm kiếm, bỗng ở nơi đây gặp được nó. Nó thật là con ta, ta thật là cha nó. Nay ta có tất cả bao nhiêu của cải, đều là của con ta có, trước đây của cải cho ra thâu vào, con ta đây coi biết”. Thế Tôn! Khi đó gả cùng tử nghe cha nói như thế, liền rất vui mừng được điều chưa từng có, mà nghĩ rằng: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng báu này tự nhiên mà đến”.
「世尊!大富長者則是如來,我等皆似佛子,如來常說我等為子。世尊!我等以三苦故,於生死中受諸熱惱,迷惑無知,樂著小法。今日世尊令我等思惟,蠲除諸法戲論之糞,我等於中勤加精進,得至涅槃一日之價。既得此已,心大歡喜,自以為足,而便自謂:『於佛法中勤精進故,所得弘多。』然世尊先知我等,心著弊欲,樂於小法,便見縱捨,不為分別:『汝等當有如來知見寶藏之分。』世尊以方便力,說如來智慧。我等從佛,得涅槃一日之價,以為大得;於此大乘,無有志求。我等又因如來智慧,為諸菩薩開示演說,而自於此無有志願。所以者何?佛知我等心樂小法,以方便力、隨我等說;而我等不知真是佛子。今我等方知世尊,於佛智慧無所悋惜。所以者何?我等昔來真是佛子,而但樂小法,若我等有樂大之心,佛則為我說大乘法。於此經中唯說一乘,而昔於菩薩前,毀呰聲聞樂小法者,然佛實以大乘教化。是故我等,說本無心有所悕求。今法王大寶自然而至,如佛子所應得者皆已得之。」爾時摩訶迦葉欲重宣此義,而說偈言:
“Thế-tôn! Đại phú trưởng giả tắc thị Như-lai, ngã đẳng giai tự Phật tử, Như-lai thường thuyết ngã đẳng vi tử. Thế-tôn! Ngã đẳng dĩ tam khổ cố, ư sinh tử trung thọ chư nhiệt não, mê hoặc vô tri, nhạo trước tiểu pháp. Kim nhật Thế-tôn lệnh ngã đẳng tư duy, quyên trừ chư pháp hí luận chi phân, ngã đẳng ư trung cần gia tinh tiến, đắc chí Niết-bàn nhất nhật chi giá. Ký đắc thử dĩ, tâm đại hoan hỷ, tự dĩ vi túc, nhi tiện tự vị: ‘Ư Phật pháp trung cần tinh tiến cố, sở đắc hoằng đa.’ Nhiên Thế-tôn tiên tri ngã đẳng, tâm trước tệ dục, lạc ư tiểu pháp, tiện kiến túng xả, bất vi phân biệt: ‘Nhữ đẳng đương hữu Như-lai tri kiến bảo tàng chi phân.’ Thế-tôn dĩ phương tiện lực, thuyết Như-lai trí tuệ. Ngã đẳng tùng Phật, đắc Niết-bàn nhất nhật chi giá, dĩ vi đại đắc; ư thử đại thừa, vô hữu chí cầu. Ngã đẳng hựu nhân Như-lai trí tuệ, vi chư Bồ-tát khai thị diễn thuyết, nhi tự ư thử vô hữu chí nguyện. Sở dĩ giả hà? Phật tri ngã đẳng tâm nhạo tiểu pháp, dĩ phương tiện lực, tùy ngã đẳng thuyết; nhi ngã đẳng bất tri chân thị Phật tử. Kim ngã đẳng phương tri Thế-tôn, ư Phật trí tuệ vô sở lận tích. Sở dĩ giả hà? Ngã đẳng tích lai chân thị Phật tử, nhi đãn nhạo tiểu pháp, nhược ngã đẳng hữu lạc đại chi tâm, Phật tắc vi ngã thuyết đại thừa pháp. Ư thử kinh trung duy thuyết nhất thừa, nhi tích ư Bồ-tát tiền, hủy tử thanh văn nhạo tiểu pháp giả, nhiên Phật thực dĩ đại thừa giáo hóa. Thị cố ngã đẳng, thuyết bản vô tâm hữu sở hy cầu. Kim pháp vương đại bảo tự nhiên nhi chí, như Phật tử sở ưng đắc giả giai dĩ đắc chi.” Nhĩ thời Ma-ha Ca-diếp dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Thế Tôn! Ông phú Trưởng giả đó là đức Như Lai, còn chúng con đều giống như con của Phật. Đức Như Lai thường nói chúng con là con. Thưa Thế Tôn! Chúng con vì ba món khổ (16) nên ở trong sanh tử chịu các sự đau đớn mê lầm không hiểu biết, ưa thích các pháp tiểu thừa. Ngày nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những phân dơ các pháp hý luận (17) . Chúng con ở trong đó siêng gắng tinh tấn được đến Niết bàn, cái giá một ngày. Đã được đây rồi lòng rất vui mừng tự cho là đủ, mà tự nói rằng: Ở trong pháp của Phật; do siêng năng tinh tấn nên chỗ được rộng nhiều. Nhưng đức Thế Tôn trước biết chúng con lòng ưa muốn sự hèn tệ, ham nơi pháp tiểu thừa, chúng con bèn bị Phật buông bỏ chẳng vì phân biệt rằng: Các ông sẽ có phần bảo tàng tri kiến của Như Lai. Đức Thế Tôn dùng sức phương tiện nói bày trí huệ của Như Lai. Chúng con theo Phật được giá Niết bàn một ngày, cho là được nhiều rồi, đối với pháp Đại thừa này không có chí cầu. Chúng con lại nhân trí huệ của Phật, vì các vị Bồ Tát mà chỉ bày diễn nói, nhưng chính tự mình lại không có chí muốn nơi pháp đó. Vì sao? Đức Phật biết chúng con ưa nơi pháp tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện thuận theo chúng con mà nói pháp, chúng con không tự biết thật là Phật tử. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế Tôn ở nơi trí huệ của Phật không có lẫn tiếc. Vì sao? Chúng con từ xưa đến nay thật là Phật tử mà chỉ ưa nơi pháp tiểu thừa, nếu chúng con có tâm ham Đại thừa, thì Phật vì chúng con mà nói pháp Đại thừa. Ở trong kinh này chỉ nói pháp nhứt thừa. Lúc xưa đức Phật ở trước Bồ Tát chê trách Thanh văn ham pháp tiểu thừa. Nhưng đức Phật thật dùng Đại thừa để giáo hóa, vì thế nên chúng con nói vốn không có lòng mong cầu mà nay báu lớn của đấng Pháp vương tự nhiên đến, như chỗ nên được của Phật tử đều đã được đó. Bấy giờ ngài Ma ha Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
「我等今日,聞佛音教,歡喜踊躍,得未曾有。佛說聲聞,當得作佛,無上寶聚,不求自得。譬如童子,幼稚無識,捨父逃逝,遠到他土,周流諸國,五十餘年。其父憂念,四方推求,求之既疲,頓止一城,造立舍宅,五欲自娛。其家巨富,多諸金銀、車𤦲馬腦、真珠琉璃;象馬牛羊、輦輿車乘;田業僮僕、人民眾多。出入息利,乃遍他國,商估賈人、無處不有。千萬億眾,圍繞恭敬,常為王者,之所愛念,群臣豪族,皆共宗重。以諸緣故,往來者眾,豪富如是,有大力勢。而年朽邁,益憂念子,夙夜惟念,死時將至。癡子捨我,五十餘年,庫藏諸物,當如之何?
“Ngã đẳng kim nhật, văn Phật âm giáo, hoan hỷ dũng dược, đắc vị tằng hữu. Phật thuyết thanh văn, đương đắc tác Phật, vô thượng bảo tụ, bất cầu tự đắc. Thí như đồng tử, ấu trĩ vô thức, xả phụ đào thệ, viễn đáo tha thổ, chu lưu chư quốc, ngũ thập dư niên. Kỳ phụ ưu niệm, tứ phương suy cầu, cầu chi ký bì, đốn chỉ nhất thành, tạo lập xá trạch, ngũ dục tự ngu. Kỳ gia cự phú, đa chư kim ngân, xa cừ mã não, chân châu lưu-ly; tượng mã ngưu dương, liễn dư xa thừa; điền nghiệp đồng bộc, nhân dân chúng đa. Xuất nhập tức lợi, nãi biến tha quốc, thương cổ cổ nhân, vô xứ bất hữu. Thiên vạn ức chúng, vi nhiễu cung kính, thường vi vương giả, chi sở ái niệm, quần thần hào tộc, giai cộng tông trọng. Dĩ chư duyên cố, vãng lai giả chúng, hào phú như thị, hữu đại lực thế. Nhi niên hủ mại, ích ưu niệm tử, túc dạ duy niệm, tử thời tương chí. Si tử xả ngã, ngũ thập dư niên, khố tàng chư vật, đương như chi hà?
Chúng con ngày hôm nay
Nghe âm giáo của Phật
Lòng hớn hở mừng rỡ
Được pháp chưa từng có.
Phật nói hàng Thanh văn
Sẽ được thành quả Phật
Đống châu báu vô thượng
Chẳng cầu tự nhiên được.
Ví như gã đồng tử
Thơ bé không hiểu biết
Bỏ cha trốn chạy đi
Đến cõi nước xa khác
Nổi trôi khắp nước ngoài
Hơn năm mươi năm dài
Cha gã lòng buồn nhớ
Kiếm tìm khắp bốn phương
Kiếm tìm đó đã mỏi
Liền ở lại một thành
Xây dựng nên nhà cửa
Năm món dục tự vui.
Nhà ông giàu có lớn
Nhiều những kho vàng, bạc
Xa cừ, ngọc mã não
Trân châu, ngọc lưu ly
Voi ngựa cùng trâu dê
Kiệu, cán đủ xe cộ
Ruộng đất và tôi tớ
Nhân dân rất đông nhiều
Xuất nhập thâu lời lãi
Bèn khắp đến nước khác
Khách thương người buôn bán
Không xứ nào không có,
Nghìn muôn ức chúng hội
Vây quanh cung kính ông,
Thường được bậc vua chúa
Mến yêu nhớ tưởng đến,
Các quan, hạng hào tộc
Đều cũng đồng tôn trọng
Vì có các sự duyên
Người tới lui rất đông,
Giàu mạnh như thế đó
Có thế lực rất lớn
Mà tuổi đã già nua
Lại càng buồn nhớ con
Ngày đêm luống suy nghĩ
Giờ chết toan sắp đến
Con thơ dại bỏ ta
Hơn năm mươi năm tròn,
Các của vật kho tàng
Sẽ phải làm thế nào?
爾時窮子,求索衣食,從邑至邑、從國至國。或有所得,或無所得,飢餓羸瘦,體生瘡癬。漸次經歷,到父住城,傭賃展轉,遂至父舍。爾時長者,於其門內,施大寶帳,處師子座;眷屬圍遶,諸人侍衛,或有計算,金銀寶物,出內財產,注記券䟽。窮子見父,豪貴尊嚴,謂是國王,若是王等。驚怖自怪,何故至此。覆自念言:『我若久住,或見逼迫,強驅使作。』思惟是已,馳走而去,借問貧里,欲往傭作。
Nhĩ thời cùng tử, cầu sách y thực, tùng ấp chí ấp, tùng quốc chí quốc. Hoặc hữu sở đắc, hoặc vô sở đắc, cơ ngạ luy sấu, thể sinh sang tiển. Tiệm thứ kinh lịch, đáo phụ trụ thành, dung nhẫm triển chuyển, toại chí phụ xá. Nhĩ thời trưởng giả, ư kỳ môn nội, thi đại bảo trướng, xứ sư tử tòa; quyến thuộc vi nhiễu, chư nhân thị vệ, hoặc hữu kế toán, kim ngân bảo vật, xuất nội tài sản, chú ký khoán sớ. Cùng tử kiến phụ, hào quý tôn nghiêm, vị thị quốc vương, nhược thị vương đẳng. Kinh bố tự quái, hà cố chí thử. Phúc tự niệm ngôn: ‘Ngã nhược cửu trụ, hoặc kiến bức bách, cường khu sử tác.’ Tư duy thị dĩ, trì tẩu nhi khứ, tá vấn bần lý, dục vãng dung tác.
Bấy giờ gã cùng tử
Đi tìm cầu ăn mặc
Ấp này đến ấp khác
Nước này sang nước nọ,
Hoặc có khi được của
Hoặc có lúc không được,
Đói thiếu hình gầy gò
Thân thể sanh ghẻ lác.
Lần lựa đi trải qua
Đến thành cha gã ở
Xoay vần làm thuê mướn
Bèn đến trước nhà cha.
Lúc ấy ông Trưởng giả
Đang ở trong nhà ông
Giăng màn châu báu lớn
Ngồi tòa sư tử cao
Hàng quyến thuộc vây quanh
Đông người đứng hầu hạ,
Hoặc có người tính toán
Vàng, bạc cùng vật báu
Của cải ra hoặc vào
Biên chép ghi giấy tờ.
Gã cùng tử thấy cha
Quá mạnh giàu tôn nghiêm
Cho là vị quốc vương
Hoặc là đồng bậc vua,
Kinh sợ tự trách thầm
Tại sao lại đến đây?
Lại thầm tự nghĩ rằng:
Nếu ta đứng đây lâu
Hoặc sẽ bị bức ngặt
Ép buộc sai khiến làm.
Suy nghĩ thế đó rồi
Rảo chạy mà đi thẳng
Hỏi thăm xóm nghèo nàn
Muốn qua làm thuê mướn.
長者是時,在師子座,遙見其子,默而識之。即勅使者,追捉將來。窮子驚喚,迷悶躄地:『是人執我,必當見殺,何用衣食,使我至此?』長者知子,愚癡狹劣,不信我言,不信是父。即以方便,更遣餘人,眇目矬陋,無威德者:『汝可語之,云當相雇,除諸糞穢,倍與汝價。』窮子聞之,歡喜隨來,為除糞穢,淨諸房舍。長者於牖,常見其子,念子愚劣,樂為鄙事。於是長者,著弊垢衣,執除糞器,往到子所,方便附近,語令勤作:『既益汝價,并塗足油,飲食充足,薦席厚煖。』如是苦言:『汝當勤作。』又以軟語:『若如我子。』
Trưởng giả thị thời, tại sư tử tòa, dao kiến kỳ tử, mặc nhi thức chi. Tức sắc sử giả, truy tróc tương lai. Cùng tử kinh hoán, mê muộn tích địa: ‘Thị nhân chấp ngã, tất đương kiến sát, hà dụng y thực, sử ngã chí thử?’ Trưởng giả tri tử, ngu si hẹp liệt, bất tín ngã ngôn, bất tín thị phụ. Tức dĩ phương tiện, cánh khiển dư nhân, miễu mục tòa lậu, vô uy đức giả: ‘Nhữ khả ngữ chi, vân đương tướng cố, trừ chư phân uế, bội dữ nhữ giá.’ Cùng tử văn chi, hoan hỷ tùy lai, vi trừ phân uế, tịnh chư phòng xá. Trưởng giả ư dũ, thường kiến kỳ tử, niệm tử ngu liệt, lạc vi bỉ sự. Ư thị trưởng giả, trước tệ cấu y, chấp trừ phân khí, vãng đáo tử sở, phương tiện phụ cận, ngữ lệnh cần tác: ‘Ký ích nhữ giá, tinh đồ túc dầu, ẩm thực sung túc, tiến tịch hậu noãn.’ Như thị khổ ngôn: ‘Nhữ đương cần tác.’ Hựu dĩ nhuyễn ngữ: ‘Nhược như ngã tử.’
Lúc bấy giờ Trưởng giả
Ngồi trên tòa sư tử
Xa trông thấy con mình
Thầm lặng mà ghi nhớ,
Ông liền bảo kẻ sứ
Đuổi theo bắt đem về.
Gã cùng tử sợ kêu
Mê ngất ngã trên đất
Người này theo bắt tôi
Chắc sẽ bị giết chết
Cần gì đồ ăn mặc
Khiến tôi đến thế này!
Trưởng giả biết con mình
Ngu dại lòng hẹp hèn
Chẳng chịu tin lời ta
Chẳng tin ta là cha
Ông liền dùng phương tiện
Lại sai hai người khác
Mắt chột, thân lùn xấu
Hạng không có oai đức!
Các người nên bảo nó
Rằng ta sẽ thuê nó
Hốt dọn các phân nhơ
Trả giá bội cho nó.
Gã cùng tử nghe rồi
Vui mừng theo sứ về
Vì dọn các phân nhơ
Sạch sẽ các phòng nhà
Trưởng giả trong cửa sổ
Thường ngó thấy con mình
Nghĩ con mình ngu dại
Ưa thích làm việc hèn.
Lúc đó ông Trưởng giả
Mặc y phục cũ rách
Tay cầm đồ hốt phân
Qua đến chỗ con làm
Phương tiện lần gần gũi
Bảo rằng: ráng siêng làm!
Đã thêm giá cho ngươi
Và cho dầu thoa chân
Đồ ăn uống đầy đủ
Thêm đệm chiếu đầy ấm
Cặn kẽ nói thế này:
Ngươi nên siêng làm việc!
Rồi lại dịu dàng bảo
Như con thật của ta.
長者有智,漸令入出,經二十年,執作家事。示其金銀、真珠頗梨;諸物出入,皆使令知。猶處門外,止宿草庵,自念貧事:『我無此物。』父知子心,漸已廣大,欲與財物。即聚親族、國王大臣、剎利居士。於此大眾,說是我子,捨我他行,經五十歲。自見子來,已二十年。昔於某城,而失是子,周行求索,遂來至此。凡我所有,舍宅人民,悉以付之,恣其所用。子念昔貧,志意下劣,今於父所,大獲珍寶,并及舍宅、一切財物。甚大歡喜,得未曾有。
Trưởng giả hữu trí, tiệm lệnh nhập xuất, kinh nhị thập niên, chấp tác gia sự. Thị kỳ kim ngân, chân châu pha-lê; chư vật xuất nhập, giai sử lệnh tri. Do xứ môn ngoại, chỉ túc thảo am, tự niệm bần sự: ‘Ngã vô thử vật.’ Phụ tri tử tâm, tiệm dĩ quảng đại, dục dữ tài vật. Tức tụ thân tộc, quốc vương đại thần, sát-lợi cư sĩ. Ư thử đại chúng, thuyết thị ngã tử, xả ngã tha hành, kinh ngũ thập tuế. Tự kiến tử lai, dĩ nhị thập niên. Tích ư mỗ thành, nhi thất thị tử, chu hành cầu sách, toại lai chí thử. Phàm ngã sở hữu, xá trạch nhân dân, tất dĩ phó chi, tứ kỳ sở dụng. Tử niệm tích bần, chí ý hạ liệt, kim ư phụ sở, đại hoạch trân bảo, tinh cập xá trạch, nhất thiết tài vật. Thậm đại hoan hỷ, đắc vị tằng hữu.
Ông Trưởng giả có trí
Lần lần cho ra vào
Trải qua hai mươi năm
Coi sóc việc trong nhà,
Chỉ cho biết vàng, bạc,
Ngọc trân châu, pha lê
Các vật ra hoặc vào
Đều khiến gã biết rõ.
Gã vẫn ở ngoài cửa
Nương náu nơi am tranh
Tự nghĩ phận nghèo hèn
Ta không có vật đó.
Cha biết lòng con mình
Lần lần đã rộng lớn
Muốn giao tài vật cho
Liền nhóm cả thân tộc
Quốc vương các đại thần
Hàng sát lợi, cư sĩ
Rồi ở trong chúng này
Tuyên nói chính con ta
Bỏ ta đi nước khác
Trải hơn năm mươi năm,
Từ gặp con đến nay
Đã hai mươi năm rồi
Ngày trước ở thành kia
Mà mất đứa con này
Ta đi tìm khắp nơi
Bèn đến ngụ nơi đây
Phàm của cải ta có
Nhà cửa cùng nhân dân
Thảy đều phó cho nó
Mặc tình nó tiêu dùng.
Người con nhớ xưa nghèo
Ý chí rất kém hèn
Nay ở nơi cha mình
Được quá nhiều châu báu
Và cùng với nhà cửa
Gồm tất cả tài vật,
Lòng rất đỗi vui mừng
Được điều chưa từng có.
佛亦如是,知我樂小,未曾說言:『汝等作佛。』而說我等,得諸無漏,成就小乘,聲聞弟子。佛勅我等,說最上道,修習此者,當得成佛。我承佛教,為大菩薩,以諸因緣、種種譬喻、若干言辭,說無上道。諸佛子等、從我聞法,日夜思惟,精勤修習。是時諸佛,即授其記:『汝於來世,當得作佛。』一切諸佛,祕藏之法,但為菩薩,演其實事,而不為我,說斯真要。如彼窮子、得近其父,雖知諸物,心不希取。我等雖說,佛法寶藏,自無志願,亦復如是。
Phật diệc như thị, tri ngã lạc tiểu, vị tằng thuyết ngôn: ‘Nhữ đẳng tác Phật.’ Nhi thuyết ngã đẳng, đắc chư vô lậu, thành tựu tiểu thừa, thanh văn đệ tử. Phật sắc ngã đẳng, thuyết tối thượng đạo, tu tập thử giả, đương đắc thành Phật. Ngã thừa Phật giáo, vi đại Bồ-tát, dĩ chư nhân duyên, chủng chủng thí dụ, nhược can ngôn từ, thuyết vô thượng đạo. Chư Phật tử đẳng, tùng ngã văn pháp, nhật dạ tư duy, tinh cần tu tập. Thị thời chư Phật, tức thụ kỳ ký: ‘Nhữ ư lai thế, đương đắc tác Phật.’ Nhất thiết chư Phật, bí tàng chi pháp, đãn vi Bồ-tát, diễn kỳ thực sự, nhi bất vi ngã, thuyết tư chân yếu. Như bỉ cùng tử, đắc cận kỳ phụ, tuy tri chư vật, tâm bất hy thủ. Ngã đẳng tuy thuyết, Phật pháp bảo tàng, tự vô chí nguyện, diệc phục như thị.
Đức Phật cũng như thế
Biết con ưa tiểu thừa
Nên chưa từng nói rằng
Các ngươi sẽ thành Phật
Mà chỉ nói chúng con
Được có đức vô lậu
Trọn nên quả tiểu thừa
Hàng Thanh văn đệ tử
Đức Phật bảo chúng con
Nói đạo pháp tối thượng
Người tu tập pháp này
Sẽ được thành Phật quả
Chúng con vâng lời Phật
Vì các Bồ Tát lớn
Dùng các món nhân duyên
Cùng các món thí dụ
Bao nhiêu lời lẽ hay
Để nói đạo vô thượng.
Các hàng Phật tử thảy
Từ nơi con nghe pháp
Ngày đêm thường suy gẫm
Tinh tấn siêng tu tập.
Bấy giờ các đức Phật
Liền thọ ký cho kia:
Các ông ở đời sau
Sẽ được thành Phật đạo.
Pháp mầu rất bí tàng
Của tất cả các Phật
Chỉ để vì Bồ Tát
Mà dạy việc thật đó,
Nhưng chẳng vì chúng con
Nói pháp chân yếu này
Như gã cùng tử kia
Được gần bên người cha
Dầu lãnh biết các vật
Nhưng lòng chẳng mong cầu,
Chúng con dầu diễn nói
Tạng pháp báu của Phật
Tự mình không chí nguyện
Cũng lại như thế đó.
我等內滅,自謂為足,唯了此事,更無餘事。我等若聞,淨佛國土,教化眾生,都無欣樂。所以者何?一切諸法,皆悉空寂,無生無滅,無大無小,無漏無為。如是思惟,不生喜樂。我等長夜,於佛智慧,無貪無著,無復志願;而自於法,謂是究竟。我等長夜,修習空法,得脫三界,苦惱之患,住最後身、有餘涅槃。佛所教化,得道不虛,則為已得,報佛之恩。我等雖為,諸佛子等,說菩薩法,以求佛道;而於是法,永無願樂。導師見捨,觀我心故,初不勸進,說有實利。如富長者,知子志劣,以方便力,柔伏其心,然後乃付,一切財物。佛亦如是,現希有事,知樂小者,以方便力,調伏其心,乃教大智。我等今日,得未曾有,非先所望,而今自得,如彼窮子,得無量寶。
Ngã đẳng nội diệt, tự vị vi túc, duy liễu thử sự, cánh vô dư sự. Ngã đẳng nhược văn, tịnh Phật quốc độ, giáo hóa chúng sinh, đô vô hân nhạo. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết chư pháp, giai tất không tịch, vô sinh vô diệt, vô đại vô tiểu, vô lậu vô vi. Như thị tư duy, bất sinh hỷ lạc. Ngã đẳng trường dạ, ư Phật trí tuệ, vô tham vô trước, vô phục chí nguyện; nhi tự ư pháp, vị thị cứu cánh. Ngã đẳng trường dạ, tu tập không pháp, đắc thoát tam giới, khổ não chi hoạn, trụ tối hậu thân, hữu dư Niết-bàn. Phật sở giáo hóa, đắc đạo bất hư, tắc vi dĩ đắc, báo Phật chi ân. Ngã đẳng tuy vi, chư Phật tử đẳng, thuyết Bồ-tát pháp, dĩ cầu Phật đạo; nhi ư thị pháp, vĩnh vô nguyện lạc. Đạo sư kiến xả, quán ngã tâm cố, sơ bất khuyến tiến, thuyết hữu thực lợi. Như phú trưởng giả, tri tử chí liệt, dĩ phương tiện lực, nhu phục kỳ tâm, nhiên hậu nãi phó, nhất thiết tài vật. Phật diệc như thị, hiện hy hữu sự, tri lạc tiểu giả, dĩ phương tiện lực, điều phục kỳ tâm, nãi giáo đại trí. Ngã đẳng kim nhật, đắc vị tằng hữu, phi tiên sở vọng, nhi kim tự đắc, như bỉ cùng tử, đắc vô lượng bảo.
Chúng con diệt bề trong
(18) Tự cho là đã đủ
Chỉ xong được việc này
Lại không biết việc khác
Chúng con dầu có nghe
Pháp tịnh cõi nước Phật
Cùng giáo hóa chúng sanh
Đều không lòng ưa vui.
Như thế là vì sao?
Vì tất cả các pháp
Thảy đều là không lặng
Không sanh cũng không diệt
Không lớn cũng không nhỏ
Vô lậu và vô vi,
Suy nghĩ thế đó rồi
Chẳng sanh lòng ưa muốn.
Chúng con đã từ lâu
Đối với trí huệ Phật
Không tham không ưa thích
Không lại có chí nguyện,
Mà đối với pháp mình
Cho đó là rốt ráo.
Chúng con từ lâu nay
Chuyên tu tập pháp không
Được thoát khỏi hoạn nạn
Khổ não của ba cõi
Trụ trong thân rốt sau
Hữu dư y Niết bàn
(19) Đức Phật dạy bảo ra
Chứng được đạo chẳng luống
Thời là đã có thể
Báo được ơn của Phật.
Chúng con dầu lại vì
Các hàng Phật tử thảy
Tuyên nói pháp Bồ Tát
Để cầu chứng Phật đạo
Mà mình đối pháp đó
Trọn không lòng mong muốn
Đấng Đạo Sư buông bỏ
Vì xem biết lòng con
Ban đầu không khuyên gắng
Nói những lợi có thực
Như ông Trưởng giả giàu
Biết con chí kém hèn
Bèn dùng sức phương tiện
Để hòa phục tâm con
Vậy sau mới giao phó
Tất cả tài vật báu
Đức Phật cũng thế đó
Hiện ra việc ít có
Biết con ưa tiểu thừa
Bèn dùng sức phương tiện
Điều phục tâm của con
Rồi mới dạy trí lớn.
Chúng con ngày hôm nay
Được pháp chưa từng có
Chẳng phải chỗ trước mong
Mà nay tự nhiên được
Như gã cùng tử kia
Được vô lượng của báu
世尊我今,得道得果,於無漏法,得清淨眼。我等長夜,持佛淨戒,始於今日,得其果報,法王法中,久修梵行,今得無漏,無上大果。我等今者,真是聲聞,以佛道聲,令一切聞。我等今者,真阿羅漢,於諸世間,天人魔梵,普於其中,應受供養。世尊大恩,以希有事,憐愍教化,利益我等,無量億劫,誰能報者。手足供給,頭頂禮敬,一切供養,皆不能報。若以頂戴,兩肩荷負,於恒沙劫,盡心恭敬;又以美饍、無量寶衣,及諸臥具、種種湯藥,牛頭栴檀,及諸珍寶,以起塔廟,寶衣布地。如斯等事,以用供養,於恒沙劫,亦不能報。諸佛希有,無量無邊,不可思議,大神通力,無漏無為,諸法之王。能為下劣,忍于斯事,取相凡夫,隨宜為說。諸佛於法,得最自在,知諸眾生,種種欲樂,及其志力。隨所堪任,以無量喻,而為說法。隨諸眾生,宿世善根,又知成熟、未成熟者,種種籌量,分別知已,於一乘道、隨宜說三。」
Thế-tôn ngã kim, đắc đạo đắc quả, ư vô lậu pháp, đắc thanh tịnh nhãn. Ngã đẳng trường dạ, trì Phật tịnh giới, thủy ư kim nhật, đắc kỳ quả báo, pháp vương pháp trung, cửu tu phạm hành, kim đắc vô lậu, vô thượng đại quả. Ngã đẳng kim giả, chân thị thanh văn, dĩ Phật đạo thanh, lệnh nhất thiết văn. Ngã đẳng kim giả, chân A-la-hán, ư chư thế gian, thiên nhân ma phạm, phổ ư kỳ trung, ưng thọ cúng dường. Thế-tôn đại ân, dĩ hy hữu sự, liên mẫn giáo hóa, lợi ích ngã đẳng, vô lượng ức kiếp, thùy năng báo giả. Thủ túc cúng cấp, đầu đỉnh lễ kính, nhất thiết cúng dường, giai bất năng báo. Nhược dĩ đỉnh đội, lưỡng kiên hà phụ, ư hằng sa kiếp, tận tâm cung kính; hựu dĩ mỹ thiện, vô lượng bảo y, cập chư ngọa cụ, chủng chủng thang dược, ngưu đầu chiên-đàn, cập chư trân bảo, dĩ khởi tháp miếu, bảo y bố địa. Như tư đẳng sự, dĩ dụng cúng dường, ư hằng sa kiếp, diệc bất năng báo. Chư Phật hy hữu, vô lượng vô biên, bất khả tư nghị, đại thần thông lực, vô lậu vô vi, chư pháp chi vương. Năng vi hạ liệt, nhẫn vu tư sự, thủ tướng phàm phu, tùy nghi vi thuyết. Chư Phật ư pháp, đắc tối tự tại, tri chư chúng sinh, chủng chủng dục lạc, cập kỳ chí lực. Tùy sở kham nhiệm, dĩ vô lượng dụ, nhi vi thuyết pháp. Tùy chư chúng sinh, túc thế thiện căn, hựu tri thành thục, vị thành thục giả, chủng chủng trù lượng, phân biệt tri dĩ, ư nhất thừa đạo, tùy nghi thuyết tam.”
Thế Tôn! Chúng con nay
Được đạo và chứng quả
Ở nơi pháp vô lậu
Được huệ nhãn thanh tịnh
Chúng con từ lâu nay
Gìn tịnh giới Phật chế
Mới ở ngày hôm nay
Được hưởng quả báo đó,
Trong pháp của Pháp vương
Lâu tu hành phạm hạnh
Ngày nay được vô lậu
Quả báo lớn vô thượng
Chúng con ngày hôm nay
Mới thật là Thanh văn
Đem tiếng đạo của Phật
Cho tất cả đều nghe
Chúng con ngày hôm nay
Thật là A la hán
Ở nơi các thế gian
Trời, người và ma, phạm,
Khắp ở trong chúng đó
Đáng lãnh của cúng dường
Ơn lớn của Thế Tôn
Đem việc ít có này
Thương xót dạy bảo cho
Làm lợi ích chúng con
Trải vô lượng ức kiếp
Ai có thể đền được.
Tay lẫn chân cung cấp
Đầu đảnh lễ cung kính
Tất cả đều cúng dường
Đều không thể đền được.
Hoặc dùng đầu đội Phật
Hai vai cùng cõng vác
Trong số kiếp hằng sa
Tận tâm mà cung kính,
Lại đem dưng đồ ngon
Y phục báu vô lượng
Và các thứ đồ nằm
Cùng các món thuốc thang
Gỗ ngưu đầu chiên đàn
Và các vật trân báu
Để dựng xây tháp miếu
Y báu lót trên đất
Như các việc trên đây
Đem dùng cúng dường Phật
Trải kiếp số hằng sa
Cũng không đền đáp được.
Các Phật thật ít có
Đấng vô lượng vô biên
Đến bất khả tư nghì
Đủ sức thần thông lớn,
Bậc vô lậu vô vi
Là vua của các Pháp
Hay vì kẻ hạ liệt
Nhẫn việc cao thượng đó,
Hiện lấy tướng phàm phu
Tùy cơ nghi dạy nói
Các Phật ở nơi pháp
Được sức rất tự tại
Biết các hàng chúng sanh
Có những điều ưa muốn
Và chí lực của nó
Theo sức nó kham nhiệm
Dùng vô lượng thí dụ
Mà vì chúng nói pháp
Tùy theo các chúng sanh
Trồng căn lành đời trước
Lại biết đã thành thục
Hay là chưa thành thục
Suy lường những điều đó
Phân biệt biết rõ rồi
Ở nơi đạo nhất thừa
Tùy cơ nghi nói ba.
妙法蓮華經卷第二
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh quyển đệ nhị
(Hết Quyển Thứ Hai — bản dịch in “KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA — Quyển Thứ Hai”)
THÍCH NGHĨA (chú thích của dịch giả — quyển thứ hai)
- (1) Lậu tận: Nhiễm tâm phiền não đã hết sạch, đồng nghĩa với: “Vô Lậu”.
- (2) Thân Phật sắc vàng tử kim đủ 32 tướng tốt.
- (3) Trí của Phật có 10 lực dụng: 1. Thị xứ phi xứ trí lực 2. Nghiệp trí lực 3. Thiền định trí lực 4. Căn tính trí lực 5. Nguyện dục trí lực 6. Giới trí lực 7. Đạo chí xử trí lực 8. Túc mạng trí lực 9. Thiên nhãn trí lực 10. Lậu tận trí lực
- (4) Bất cộng: Bồ Tát cùng Thanh văn Duyên giác đều không có, riêng Phật là có 18 pháp này.
- (5) Bồ tát: “Bồ đề”: Giác; “Tát đỏa”: Hữu tình; nói tắt là Bồ tát, tức là bậc đã tự hay giác ngộ và có thể cứu độ giác ngộ loài hữu tình.
- (6) Phạm chí: Tức là Bà la môn.
- (7) Ba tuần: Tên của Ma vương ở đầu cõi dục.
- (8) Ngũ uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Cũng gọi là ngũ ấm.
- (9) Ngũ dục: 1. Tài (sắc), sắc, danh, thực (sự ăn), thùy (ngủ nghỉ). 2. Sắc, thanh, hương, vị, xúc.
- (10) Bốn đức vô sở úy của Phật: 1. Nhất thiết trí vô úy 2. Lậu tận vô úy 3. Thuyết đạo vô úy 4. Thuyết khổ tận đạo vô úy
- (11) Năm căn: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Năm lực: Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Bảy giác chi: Trạch pháp, niệm, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả. Tám chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định.
- (12) Súy: Cú tai mèo; Hiêu, Điêu, Thứu: Loài chim dữ, tiếng xấu. Thước: Chim khách. Cưu: Tu hú. Cáp: Bồ câu. Ngoan xà: Rắn độc. Phúc yết: Bò cạp. Ngô công: Rít. Do diên: Trùng, rận ở trong áo tơi. Dứu ly: Chồn, cáo. Hề thử: Giống chuột. Khương lương: Bọ hung.
- (13) Tam minh: Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh.
- (14) Lục thông: Thiên nhãn thông, thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, lậu tận thông.
- (15) Tín: lòng tin. Giải: Hiểu rõ.
- (16) Tam khổ: Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.
- (17) Hý luận: Lời luận nói suông không sự thật, đồng nghĩa với hư vọng.
- (18) Diệt lòng phiền não: 1) Kiến sở đoạn; 2) Tư sở đoạn.
- (19) Niết bàn: Tịch tịnh, viên tịch, nghĩa là vắng bặt. Còn vọng động phiền não là còn tạo nghiệp thọ báo sanh tử. Dứt hẳn vọng động phiền não khỏi báo sanh tử yên lặng nhàn vui nên gọi Niết bàn. Hữu dư y: Thân người hiện còn thừa lại rốt sau cả.
Toát yếu và kệ tán cuối quyển (phần khóa tụng của bản in — Hán tạng bản không có)
Bậc thượng căn lãnh ngộ, hàng trung hạ nổi nghi, mở quyền bày thật hội ba thời. Pháp mầu tuyệt sự nói suy, của báu không riêng tư, toàn giao phó cho con nhà.
NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. (3 lần)
Đức Như Lai dụ nói ba cõi làm nhà, ngoài cửa ba cõi bày ba thứ xe, các con đua giành ồn ào, Trưởng giả mừng khoe, thọ ký quả Phật không sai.
NAM MÔ VỊ LAI HOA QUANG PHẬT. (3 lần)
Hết Quyển 2